Blackburn Rovers F.C.

(Đổi hướng từ Blackburn Rovers FC)

Bản mẫu:Short description Bản mẫu:Pp Bản mẫu:For-multi Bản mẫu:Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá

Câu lạc bộ bóng đá Blackburn Rovers (Bản mẫu:Langx) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Blackburn, Lancashire, Anh, hiện thi đấu tại Bản mẫu:English football updater, cấp độ thứ hai của Hệ thống giải bóng đá Anh. Đội bóng đã chơi các trận sân nhà tại Ewood Park từ năm 1890. Khẩu hiệu của câu lạc bộ là Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”., có nghĩa là "Bằng kĩ năng và lao động chăm chỉ" trong tiếng Latin. Blackburn có mối kình địch lâu đời với đội bóng lân cận là Burnley, đối thủ của họ trong trận derby East Lancashire.

Blackburn Rovers được thành lập vào năm 1875 và trở thành thành viên sáng lập của The Football League vào năm 1888. Câu lạc bộ đã giành năm chức vô địch Cúp FA trong thế kỉ 19: 1884, 1885, 1886, 18901891. Đội bóng vô địch giải vô địch quốc gia Anh vào các mùa giải 1911-12 và 1913-14, sau đó giành Cúp FA lần thứ sáu vào năm 1928. Họ lần đầu xuống hạng vào năm 1936, nhưng trở lại hạng đấu cao nhất với tư cách nhà vô địch Second Division ở mùa giải 1938-39. Blackburn lại xuống hạng năm 1948, giành quyền thăng hạng ở mùa giải 1957-58, nhưng tiếp tục rớt hạng vào các năm 1966 và 1971. Blackburn vô địch Third Division mùa giải 1974-75, rồi một lần nữa thăng hạng vào mùa giải 1979-80 sau khi xuống hạng ở mùa giải trước đó. Họ giành Full Members' Cup vào năm 1987.

Năm 1992, Blackburn giành quyền lên chơi tại Premier League mới ra đời thông qua vòng play-off, một năm sau khi được doanh nhân địa phương Jack Walker tiếp quản; ông đã bổ nhiệm Kenny Dalglish làm huấn luyện viên. Ở mùa giải 1994-95, Blackburn trở thành nhà vô địch Premier League.[1] Blackburn xuống hạng bốn mùa giải sau khi lên ngôi vô địch, giành quyền thăng hạng trở lại vào năm 2001, và vô địch trận chung kết Football League Cup ở mùa giải kế tiếp. Đội bóng trải qua mười một mùa giải liên tiếp tại Premier League, nhưng xuống hạng vào năm 2012 rồi lại rơi xuống hạng Ba vào năm 2017. Blackburn giành quyền thăng hạng khỏi League One vào cuối mùa giải 2017-18.

Lịch sử

Những năm đầu

Tập tin:Leaflet advert for blackburn rovers match-1887.jpg
Tờ rơi quảng cáo cho trận đấu của Blackburn Rovers ngày 12 tháng 9 năm 1887 gặp 'The Wednesday' tại Olive Grove.
Tập tin:BlackburnRovers FA Cup 1883-84.jpg
Đội hình Blackburn Rovers vô địch cúp ở mùa giải 1883-84. Đây là lần đầu tiên đội bóng giành Cúp FA. Bức ảnh còn có East Lancashire Charity Cup, Cúp FA và Lancashire Cup. Hàng sau (từ trái sang phải): J. M. Lofthouse, H. McIntrye, J. Beverly, Kurt Edwards, F. Suter, J. Forrest, R. Birtwistle (trọng tài biên) Hàng trước (từ trái sang phải): J. Douglas, J. E. Sowerbutts, J. Brown, G. Avery, J. Hargreaves.
Tập tin:Blackburn Rovers FA-cup 1890-91.jpg
Đội hình vô địch Cúp FA mùa giải 1890-91

Câu lạc bộ được thành lập sau một cuộc họp tại khách sạn Leger, Blackburn, ngày 5 tháng 11 năm 1875. Cuộc họp do hai thanh niên tổ chức, đó là John Lewis và Arthur Constantine, đều là cựu học sinh của Shrewsbury School. Mục đích của cuộc họp là "thảo luận về khả năng thành lập một câu lạc bộ bóng đá thi đấu theo luật Association".[2] Trận đấu đầu tiên của Blackburn Rovers diễn ra tại Church, Lancashire vào ngày 18 tháng 12 năm 1875 và kết thúc với tỉ số hòa 1-1.[3]

Ngày 28 tháng 9 năm 1878, Blackburn Rovers trở thành một trong 23 câu lạc bộ lập nên Lancashire Football Association.[4] Ngày 1 tháng 11 năm 1879, câu lạc bộ lần đầu thi đấu tại Cúp FA và đánh bại Tyne Association Football Club với tỉ số 5-1.[4] Rovers sau đó bị loại ở vòng Ba sau thất bại nặng nề 0-6 trước Nottingham Forest.[5]

Ngày 25 tháng 3 năm 1882, Blackburn Rovers vào tới trận chung kết Cúp FA gặp Old Etonians. Blackburn Rovers trở thành đội bóng tỉnh lẻ đầu tiên vào tới trận chung kết,[6] nhưng kết quả là thất bại 0-1 trước Old Etonians.[7]

Rovers cuối cùng đã giành Cúp FA vào ngày 29 tháng 3 năm 1884 với chiến thắng 2-1 trước đội bóng Scotland Queen's Park.[8] Hai đội này lại gặp nhau ở trận chung kết Cúp FA mùa giải sau, và Blackburn Rovers tiếp tục giành chiến thắng, lần này với tỉ số 2-0.[8] Rovers lặp lại thành công ấy thêm một lần nữa ở mùa giải tiếp theo, thắng 2-0 trong trận đá lại chung kết trước West Bromwich Albion. Với ba chức vô địch Cúp FA liên tiếp này, câu lạc bộ được trao một tấm khiên bạc chế tác riêng.[8]

Mùa giải 1885-86 đánh dấu sự xuất hiện của cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hợp pháp, và Blackburn Rovers đã chi 615 bảng Anh cho tiền lương cầu thủ trong mùa giải đó.[9]

Football League ra đời

Blackburn Rovers là thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888.[10] Trận đấu đầu tiên của họ tại giải vô địch quốc gia diễn ra ngày 15 tháng 9 năm 1888 trước Accrington, và kết thúc với tỉ số hòa 5-5. Blackburn Rovers sau đó kết thúc mùa giải đầu tiên của Football League ở vị trí thứ tư.[11] Ở mùa giải kế tiếp, họ xếp thứ ba, thắng 12 trong số 22 trận và ghi nhiều bàn hơn bất kì câu lạc bộ nào khác trong giải, bao gồm các chiến thắng 7-0 trên sân nhà trước Aston Villa và 7-1 trước Burnley vào tháng 10, chiến thắng 9-1 trước Notts County vào tháng 11, 7-1 trước Bolton vào tháng 12 và thắng 8-0 trước Stoke vào tháng 1.[12]

Blackburn Rovers một lần nữa vào tới trận chung kết Cúp FA ngày 29 tháng 3 năm 1890 tại Kennington Oval.[13] Câu lạc bộ giành chiếc cúp lần thứ tư sau khi đánh bại Sheffield Wednesday với tỉ số đậm 6-1; tiền đạo cánh trái William Townley ghi ba bàn và trở thành cầu thủ đầu tiên lập hat-trick trong một trận chung kết Cúp FA.[14]

Ở mùa giải 1890-91, Blackburn Rovers giành Cúp FA lần thứ năm sau chiến thắng 3-1 trước Notts County[15] Trong mùa giải 1897-98, câu lạc bộ bị xuống hạng nhưng đã được bầu trở lại First Division tại đại hội thường niên của Football League, cùng với Newcastle United.[16] Mùa giải đó cũng mở đầu cho mối gắn bó kéo dài 45 năm của Bob Crompton với câu lạc bộ, trong vai trò cầu thủ rồi sau này là một huấn luyện viên vô địch Cúp FA.

Đầu thế kỉ 20

Blackburn Rovers tiếp tục chật vật trong những năm đầu thế kỉ 20, nhưng kết quả dần cải thiện. Những đợt nâng cấp lớn được tiến hành tại Ewood Park: năm 1905, khán đài Darwen End được lợp mái với chi phí 1.680 bảng Anh, còn khán đài Nuttall mới được khánh thành vào ngày đầu năm 1907. Trong ba thập niên đầu thế kỉ 20, Blackburn Rovers vẫn được xem là một đội bóng mạnh của giải vô địch Anh. Họ là nhà vô địch First Division các mùa giải 1911-12 và 1913-14, đồng thời vô địch Cúp FA 1927-28 sau chiến thắng 3-1 trước Huddersfield Town, nhưng chiến thắng Cúp FA đó là danh hiệu lớn cuối cùng của câu lạc bộ trong gần 70 năm.

Giữa thế kỉ 20

Tập tin:Blackburn Rovers FC League Performance.svg
Biểu đồ thể hiện quá trình thăng trầm của Blackburn Rovers F.C. trong Hệ thống giải bóng đá Anh từ mùa giải khai sinh 1888-89 cho đến nay

Blackburn Rovers duy trì một vị trí đáng nể ở khu vực giữa bảng xếp hạng First Division cho đến khi cuối cùng bị xuống hạng (cùng với Aston Villa) khỏi hạng đấu cao nhất ở mùa giải 1935-36, lần đầu tiên kể từ khi giải vô địch quốc gia được thành lập.

Khi giải đấu trở lại sau chiến tranh, Blackburn Rovers xuống hạng ở mùa giải thứ hai sau đó (1947-48). Chính vào thời điểm này, truyền thống chôn quan tài bắt đầu. Câu lạc bộ ở lại hạng Nhì trong mười năm tiếp theo. Sau khi thăng hạng vào năm 1958, Blackburn lại trở về vị trí giữa bảng quen thuộc mà họ từng có trong giai đoạn đầu thế kỉ. Trong thời gian này, họ hiếm khi tạo ra một cuộc đua thực sự cho các danh hiệu lớn, dù từng vào tới Chung kết Cúp FA 1960 dưới sự dẫn dắt của người Scotland Dally Duncan. Rovers thua trận này 0-3 trước Wolverhampton Wanderers sau khi phải chơi phần lớn thời gian trận đấu chỉ với 10 người trên sân, בעקבות chấn thương của Dave Whelan, người bị gãy chân.

Đã có những hi vọng ngắn ngủi về một sự trở lại thời kì huy hoàng ở mùa giải 1963-64, khi chiến thắng sân khách đáng kinh ngạc 8-2 trước West Ham United tại đông London vào Boxing Day đã đưa Blackburn lên đầu bảng xếp hạng. Tuy nhiên, vị trí dẫn đầu của họ chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, và đội bóng kết thúc mùa giải ở khá xa nhóm đầu, trong khi danh hiệu được Liverpool giành lấy, mở đầu cho chuỗi thêm 12 chức vô địch quốc gia trong 26 năm tiếp theo, còn vận mệnh của Blackburn lại đi theo một hướng rất khác. Họ xuống hạng khỏi First Division vào năm 1966 và bắt đầu quãng thời gian 26 năm vắng bóng khỏi hạng đấu cao nhất.

Thập niên 1970 và thập niên 1980

Trong thập niên 1970, Blackburn Rovers lên xuống giữa Second Division và Third Division, giành chức vô địch Third Division vào năm 1975, nhưng chưa bao giờ thực sự tạo nên một cuộc đua thăng hạng lên First Division, bất chấp nỗ lực của các huấn luyện viên kế tiếp nhau nhằm đưa câu lạc bộ trở lại đúng hướng, và lại rơi xuống Third Division vào năm 1979. Blackburn thăng hạng với tư cách á quân Third Division vào năm 1980, và ngoại trừ một mùa giải tại League One ở mùa giải 2017-18, câu lạc bộ vẫn ở trong hai cấp độ cao nhất của giải bóng đá Anh kể từ đó. Một suất thăng hạng thứ hai liên tiếp gần như đã đạt được ở mùa giải tiếp theo, nhưng đội bóng bỏ lỡ vì hiệu số bàn thắng bại, và huấn luyện viên giành quyền thăng hạng Howard Kendall chuyển sang Everton ngay mùa hè năm đó. Người kế nhiệm Kendall là Bobby Saxton chỉ có thể giúp Blackburn kết thúc ở giữa bảng trong ba mùa giải tiếp theo, rồi suýt giành được quyền thăng hạng ở mùa giải 1984-85, nhưng màn kết thúc yếu kém ở mùa giải sau đó (chỉ đứng trên nhóm xuống hạng một bậc) cộng với khởi đầu tệ hại ở mùa giải 1986-87 đã khiến Saxton mất việc.

Saxton được thay bởi Don Mackay, người đã đưa đội bóng tới một vị trí chung cuộc khá tốt ở mùa giải đó, đồng thời giành chiến thắng tại Full Members Cup. Trong ba mùa giải tiếp theo, Mackay đã tái lập Blackburn như một ứng viên cạnh tranh suất thăng hạng, nhưng đội bóng đều thiếu một chút để đi tới đích ở mỗi lần; gần nhất là ở mùa giải 1988-89, khi họ vào tới trận chung kết play-off Second Division ở mùa giải cuối cùng áp dụng thể thức hai lượt sân nhà và sân khách, nhưng thua Crystal Palace. Trận thua ở bán kết play-off Second Division mùa giải 1989-90 mang tới thêm một nỗi thất vọng nữa cho Ewood Park, nhưng mùa giải sau đó câu lạc bộ được doanh nhân ngành thép địa phương và cũng là một cổ động viên trọn đời Jack Walker (1929-2000) tiếp quản.[17]

Thập niên 1990

Sau khi Walker tiếp quản, Rovers kết thúc mùa giải 1990-91 ở vị trí thứ 19 tại Second Division, nhưng ông chủ mới đã bỏ ra hàng triệu bảng để chi cho việc chiêu mộ cầu thủ mới, đồng thời bổ nhiệm Kenny Dalglish làm huấn luyện viên vào tháng 10 năm 1991.[18] Rovers giành quyền thăng hạng lên FA Premier League mới ra đời vào cuối mùa giải 1991-92 với tư cách đội thắng play-off, chấm dứt 26 năm vắng bóng ở hạng đấu cao nhất.[19]

Rovers gây chú ý lớn trong mùa hè năm 1992 khi trả mức phí kỉ lục của bóng đá Anh lúc bấy giờ là 3,5 triệu bảng để chiêu mộ trung phong 22 tuổi của Southampton và đội tuyển Anh Alan Shearer.[20] Sau khi đứng thứ tư ở mùa giải 1992-93[21] và á quân ở mùa giải 1993-94,[22] Blackburn đã lên ngôi vô địch Premier League ở mùa giải 1994-95.[23] Cuộc đua vô địch kéo dài tới trận cuối cùng của mùa giải, và dù Rovers thua Liverpool, họ vẫn vượt qua đại kình địch Manchester United để đăng quang.

Kenny Dalglish chuyển lên làm Giám đốc bóng đá vào cuối mùa giải vô địch Premier League, và trao lại quyền chỉ đạo cho trợ lí của ông là Ray Harford.[24] Blackburn có khởi đầu tệ ở mùa giải 1995-96 và phải đứng ở nửa dưới bảng xếp hạng trong phần lớn nửa đầu mùa giải. Rovers cũng gặp khó tại Champions League và đứng cuối bảng với chỉ 4 điểm.[25]

Khởi đầu yếu kém ở mùa giải Premier League 1996-97 khiến Harford từ chức vào cuối tháng 10 khi câu lạc bộ đứng cuối bảng, sau khi không thắng nổi trận nào trong mười trận đầu tiên. Viễn cảnh xuống hạng trở nên rất thực tế, chỉ hai mùa giải sau khi Blackburn vô địch giải đấu. Sau nỗ lực bất thành trong việc mời Sven-Göran Eriksson về làm huấn luyện viên, trợ lí lâu năm Tony Parkes tạm thời tiếp quản trong phần còn lại của mùa giải và vừa đủ giúp đội bóng trụ hạng. Mùa hè năm đó, vị trí huấn luyện viên được giao cho Roy Hodgson, người chuyển đến từ Internazionale.[26] Bóng đá UEFA Cup đã được đảm bảo với vị trí thứ sáu. Tuy nhiên, Blackburn khởi đầu tệ ở mùa giải 1998-99 và Hodgson bị sa thải vào tháng 12, chưa đầy một giờ sau thất bại 0-2 trên sân nhà trước đội bét bảng Southampton, kết quả khiến Blackburn bị chôn chân trong khu vực xuống hạng.[27] Người thay thế ông là Brian Kidd.[28] Kidd không thể cứu Blackburn khỏi việc xuống hạng.

Thập niên 2000

Tập tin:Ewood Jack Walker Stand.jpg
Khán đài Jack Walker trong một trận đấu ngày 2 tháng 9 năm 2007 (Blackburn 1-0 Manchester City)

mùa giải 1999-2000, Rovers bắt đầu mùa giải với tư cách ứng viên thăng hạng, nhưng khi câu lạc bộ lơ lửng ngay trên khu vực xuống hạng của Division One, Brian Kidd bị sa thải vào tháng 10[29] và được thay thế vào tháng 3 bởi Graeme Souness.[30] Jack Walker qua đời ngay sau khi mùa giải 2000-01 bắt đầu,[31] và câu lạc bộ đã dành nỗ lực thăng hạng để tưởng nhớ ân nhân của mình. Một cách đầy ý nghĩa, đội bóng trở lại Premier League sau một mùa giải được cải thiện mạnh mẽ, khi đứng thứ hai sau Fulham.

mùa giải 2001-02, bản hợp đồng kỉ lục Andy Cole được chiêu mộ với giá 8 triệu bảng,[32] và Rovers giành chiếc Cúp Liên đoàn đầu tiên trong lịch sử sau khi đánh bại Tottenham Hotspur 2-1 tại Millennium StadiumCardiff, với bàn quyết định do Cole ghi ở phút 69.[33] Mùa giải sau đó, Rovers đứng thứ sáu để giành vé dự UEFA Cup mùa thứ hai liên tiếp. Souness rời câu lạc bộ ngay sau khi mùa giải 2004-05 bắt đầu để dẫn dắt Newcastle,[34] và được thay thế bởi huấn luyện viên đội tuyển xứ Wales Mark Hughes.[35] Hughes giúp Rovers trụ hạng thành công ở mùa giải 2004-05, đồng thời đưa đội vào bán kết Cúp FA gặp Arsenal, với Blackburn một lần nữa kết thúc ở vị trí thứ 15. Ông sau đó dẫn dắt đội bóng lên đứng thứ sáu ở mùa giải tiếp theo, mang về lần giành quyền tham dự cúp châu Âu thứ ba trong năm mùa giải.

Rovers vào bán kết Cúp FA 2006-07, nhưng thua Chelsea trong hiệp phụ, và kết thúc mùa giải vô địch quốc gia năm đó ở vị trí thứ mười, qua đó giành quyền tham dự Intertoto Cup, dẫn tới một hành trình ngắn ở Cúp UEFA 2007-08. Vào tháng 5 năm 2008, Mark Hughes rời Blackburn Rovers để nhận lời dẫn dắt Manchester City. Ông được thay thế bởi Paul Ince,[36] và công việc đầu tiên của Ince là thuyết phục một số cầu thủ đang muốn ra đi ở lại câu lạc bộ.[37] Archie Knox cũng đến làm trợ lí cho ông.[38] Quãng thời gian của Ince khởi đầu khá tốt, nhưng sau chuỗi 11 trận không thắng, ông bị sa thải vào tháng 12 năm 2008.[39] Sam Allardyce được bổ nhiệm làm người thay thế Ince[40] và ở mùa giải 2009-10, ông đưa đội bóng cán đích ở vị trí thứ mười cũng như vào tới bán kết Cúp Liên đoàn.

Từ năm 2010 trở đi

Vào tháng 11 năm 2010, công ty Ấn Độ V H Group mua lại Blackburn Rovers dưới tên gọi Venky's London Limited với giá 23 triệu bảng.[41] Những ông chủ mới lập tức sa thải huấn luyện viên Sam Allardyce và thay thế ông bằng trợ lí đội một Steve Kean, lúc đầu chỉ trên cương vị tạm quyền, nhưng tới tháng 1 năm 2011 ông đã được trao hợp đồng chính thức kéo dài tới tháng 6 năm 2013.[42][43] Việc bổ nhiệm Kean bị phủ bóng bởi tranh cãi, vì người đại diện của ông là Jerome Anderson trước đó đã đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn cho Venky's trong quá trình tiếp quản câu lạc bộ vài tháng trước đó.[44][45][46]

Vào tháng 12 năm 2011, Blackburn Rovers công bố khoản lỗ trước thuế hằng năm là 18,6 triệu bảng cho năm tài chính kết thúc ngày 30 tháng 6 năm 2011. Dù vậy, các ông chủ của Blackburn vẫn đưa ra cam kết sẽ tiếp tục cấp vốn cho câu lạc bộ, kể cả nếu đội bóng bị xuống hạng.[47]

Ngày 7 tháng 5 năm 2012, Blackburn bị xuống hạng Championship sau thất bại trên sân nhà trước Wigan Athletic trong trận áp chót của mùa giải, khép lại 11 năm liên tiếp ở Premier League.[48] Ở đầu mùa giải 2012-13, Kean được các ông chủ trao cơ hội giành quyền thăng hạng trở lại và vẫn giữ ghế huấn luyện viên trưởng. Tuy nhiên, áp lực từ người hâm mộ — những người đã kêu gọi sa thải ông במשך nhiều tháng — cuối cùng dẫn đến việc ông từ chức vào ngày 29 tháng 9 năm 2012.[49]

Ngày 7 tháng 5 năm 2017, Blackburn bị xuống hạng xuống League One. Ngày 24 tháng 4 năm 2018, câu lạc bộ giành quyền trở lại hạng Nhì sau chiến thắng 1-0 trên sân của Doncaster Rovers.[50]

Trong những năm gần đây, Blackburn lần lượt cán đích ở các vị trí 15 (2018-19), 11 (2019-20), 15 (2020-21), 8 (2021-22),[51] và 7 (2022-23) tại Championship.[52]

Ở mùa giải 2023-24, Blackburn chỉ vừa đủ tránh được việc xuống hạng ở vòng đấu cuối cùng, kết thúc ở vị trí thứ 19 sau chiến thắng 2-0 trước đội vô địch Leicester City, thành tích thấp nhất của câu lạc bộ kể từ khi trở lại Championship vào năm 2018.[53]

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Tính đến 28 tháng 3 năm 2026[54]

Trang Bản mẫu:Football squad player/styles.css không có nội dung. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Bản mẫu:Fbaicon Aynsley Pears
2 HV Bản mẫu:Fbaicon Ryan Alebiosu
3 HV Bản mẫu:Fbaicon Harry Pickering
4 HV Bản mẫu:Fbaicon Yuri Ribeiro
5 TV Bản mẫu:Fbaicon Taylor Gardner-Hickman (mượn từ Birmingham City)
6 TV Bản mẫu:Fbaicon Sondre Tronstad
7 Bản mẫu:Fbaicon Augustus Kargbo
8 TV Bản mẫu:Fbaicon Sidnei Tavares
10 TV Bản mẫu:Fbaicon Todd Cantwell (đội trưởng)
11 Bản mẫu:Fbaicon Andri Guðjohnsen
12 HV Bản mẫu:Fbaicon Lewis Miller
14 TV Bản mẫu:Fbaicon Dion De Neve
15 HV Bản mẫu:Fbaicon Sean McLoughlin
16 HV Bản mẫu:Fbaicon Scott Wharton
17 HV Bản mẫu:Fbaicon Hayden Carter
18 TV Bản mẫu:Fbaicon Axel Henriksson
19 Bản mẫu:Fbaicon Ryan Hedges
20 HV Bản mẫu:Fbaicon Eiran Cashin (mượn từ Brighton & Hove Albion)
21 Bản mẫu:Fbaicon Dapo Afolayan
22 TM Bản mẫu:Fbaicon Balázs Tóth
Số VT Quốc gia Cầu thủ
23 Bản mẫu:Fbaicon Yūki Ōhashi
24 TV Bản mẫu:Fbaicon Moussa Baradji (mượn từ Yverdon Sport)
25 TV Bản mẫu:Fbaicon Ryōya Morishita
26 HV Bản mẫu:Fbaicon Connor O'Riordan
27 Bản mẫu:Fbaicon Nathan Redmond
28 TV Bản mẫu:Fbaicon Adam Forshaw
29 Bản mẫu:Fbaicon Mathias Jørgensen
30 TV Bản mẫu:Fbaicon Jake Garrett
31 TV Bản mẫu:Fbaicon Kristi Montgomery
32 Bản mẫu:Fbaicon Igor Tyjon
35 TM Bản mẫu:Fbaicon Nicholas Michalski
37 TM Bản mẫu:Fbaicon Felix Goddard
38 HV Bản mẫu:Fbaicon Tom Atcheson
40 HV Bản mẫu:Fbaicon Matty Litherland
41 HV Bản mẫu:Fbaicon Lorenze Mullarkey-Matthews
43 HV Bản mẫu:Fbaicon George Pratt
47 TV Bản mẫu:Fbaicon Aodhan Doherty
52 Bản mẫu:Fbaicon Nathan Dlamini
53 TV Bản mẫu:Fbaicon Frank Vare
54 Bản mẫu:Fbaicon Valentin Joseph

Cho mượn

Trang Bản mẫu:Football squad player/styles.css không có nội dung. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
34 TM Bản mẫu:Fbaicon Jack Barrett (cho Tranmere Rovers mượn)
36 TV Bản mẫu:Fbaicon James Edmondson (cho Macclesfield mượn)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
44 HV Bản mẫu:Fbaicon Brandon Powell (cho Barrow mượn)

Về các thương vụ chuyển nhượng gần đây, xem Blackburn Rovers F.C. mùa giải 2025-26.

Đội phát triển/Học viện

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “labelled list hatnote”.

Cầu thủ nổi bật

Để xem danh sách các cầu thủ nổi bật của Blackburn Rovers dưới dạng bảng có thể sắp xếp, xem Danh sách cầu thủ bóng đá Blackburn Rovers F.C..

Nhân sự

Nhân sự chuyên môn bóng đá

Tính đến 13 tháng 2 năm 2026[55]
Đội một
Trưởng bộ phận vận hành bóng đá Bản mẫu:Flagicon Rudy Gestede
Trưởng bộ phận phát triển kĩ thuật Bản mẫu:Flagicon Adam Owen
Huấn luyện viên Bản mẫu:Flagicon Michael O'Neill
Huấn luyện viên đội một Bản mẫu:Flagicon Steven Davis
Bản mẫu:Flagicon Phil Jones
Huấn luyện viên kĩ thuật đội một kiêm trưởng bộ phận phát triển cầu thủ Bản mẫu:Flagicon Damien Johnson
Huấn luyện viên thủ môn Bản mẫu:Flagicon Ben Benson
Người phụ trách cầu thủ cho mượn Bản mẫu:Flagicon Jordan Rhodes
Học viện
Trưởng học viện Bản mẫu:Flagicon Paul Gray
Trưởng bộ phận huấn luyện học viện Bản mẫu:Flagicon John Prince
Huấn luyện viên trưởng đội Under-21 Bản mẫu:Flagicon Grégory Vignal
Huấn luyện viên trưởng đội Under-18 Bản mẫu:Flagicon Paul Butler
Trưởng bộ phận tuyển trạch học viện Bản mẫu:Flagicon Michael Cribley
Y học và hiệu năng
Trưởng bộ phận hiệu năng Bản mẫu:Flagicon Nacho Sancho
Cố vấn Bản mẫu:Flagicon Chris Dalton
Trưởng bộ phận y tế Bản mẫu:Flagicon Andrew Procter
Trưởng bộ phận khoa học thể thao và y tế học viện Bản mẫu:Flagicon Rob Pulling

Ban điều hành cấp cao

Tính đến 13 tháng 2 năm 2026[55]
Hội đồng quản trị
Giám đốc vận hành Bản mẫu:Flagicon Suhail Pasha Shaikh
Giám đốc Bản mẫu:Flagicon Gandhi Babu
Giám đốc Bản mẫu:Flagicon Mr. M Sreenivasa Rao
Giám đốc không điều hành Bản mẫu:Flagicon Robert Coar
Giám đốc tài chính Bản mẫu:Flagicon Matt Wright

Vận hành câu lạc bộ

Tính đến 13 tháng 2 năm 2026[55]
Nhân sự câu lạc bộ
Trưởng bộ phận hành chính bóng đá Brett Baker
Trưởng bộ phận vận hành Lynsey Talbot
Trưởng bộ phận nhân sự và bảo vệ an toàn Faye Billington
Trưởng bộ phận công nghệ thông tin Kieran Shellard
Trưởng bộ phận truyền thông và giao tiếp Rob Gill
Trưởng bộ phận thương mại và đối tác Yasir Sufi
Trưởng bộ phận tiếp thị Anna Melia
Trưởng quỹ cộng đồng/Giám đốc điều hành Gary Robinson

Giải thưởng

Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải

 
Năm Người chiến thắng
1980-81 Bản mẫu:Flagicon Mick Speight
1981-82 Bản mẫu:Flagicon Mick Rathbone
1982-83 Bản mẫu:Flagicon Derek Fazackerley
1983-84 Bản mẫu:Flagicon Simon Garner
1984-85 Bản mẫu:Flagicon Terry Gennoe
1985-86 Bản mẫu:Flagicon Simon Barker
1986-87 Bản mẫu:Flagicon David Mail
1987-88 Bản mẫu:Flagicon Colin Hendry
1988-89 Bản mẫu:Flagicon Howard Gayle
1989-90 Bản mẫu:Flagicon Scott Sellars
 
Năm Người chiến thắng
1990-91 Bản mẫu:Flagicon Kevin Moran
1991-92 Bản mẫu:Flagicon David Speedie
1992-93 Bản mẫu:Flagicon Colin Hendry
1993-94 Bản mẫu:Flagicon David Batty
1994-95 Bản mẫu:Flagicon Alan Shearer
1995-96 Bản mẫu:Flagicon Alan Shearer
1996-97 Bản mẫu:Flagicon Colin Hendry
1997-98 Bản mẫu:Flagicon Chris Sutton
1998-99 Bản mẫu:Flagicon John Filan
1999-2000 Bản mẫu:Flagicon Damien Duff
 
Năm Người chiến thắng
2000-01 Bản mẫu:Flagicon Matt Jansen
2001-02 Bản mẫu:Flagicon Damien Duff
2002-03 Bản mẫu:Flagicon Brad Friedel
2003-04 Bản mẫu:Flagicon Tugay Kerimoğlu
2004-05 Bản mẫu:Flagicon Andy Todd
2005-06 Bản mẫu:Flagicon Craig Bellamy
2006-07 Bản mẫu:Flagicon David Bentley
2007-08 Bản mẫu:Flagicon Roque Santa Cruz
2008-09 Bản mẫu:Flagicon Stephen Warnock
2009-10 Bản mẫu:Flagicon Steven Nzonzi
 
Năm Người chiến thắng
2010-11 Bản mẫu:Flagicon Paul Robinson
2011-12 Bản mẫu:Flagicon Yakubu
2012-13 Bản mẫu:Flagicon Jordan Rhodes
2013-14 Bản mẫu:Flagicon Tom Cairney
2014-15 Bản mẫu:Flagicon Marcus Olsson
2015-16 Bản mẫu:Flagicon Grant Hanley
2016-17 Bản mẫu:Flagicon Derrick Williams
2017-18 Bản mẫu:Flagicon Bradley Dack
2018-19 Bản mẫu:Flagicon Danny Graham
2019-20 Bản mẫu:Flagicon Adam Armstrong
 
Năm Người chiến thắng
2020-21 Bản mẫu:Flagicon Thomas Kaminski
2021-22 Bản mẫu:Flagicon Jan Paul van Hecke
2022-23 Bản mẫu:Flagicon Dominic Hyam
2023-24 Bản mẫu:Flagicon Sammie Szmodics
2024-25 Bản mẫu:Flagicon Sondre Tronstad

Thành tích theo từng mùa giải

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Thành tích tại đấu trường châu Âu

Blackburn Rovers tại châu Âu
Mùa giải Giải đấu Vòng Quốc gia Câu lạc bộ Sân nhà Sân khách Chung cuộc
1994-95 Cúp UEFA Vòng Một Bản mẫu:Flagicon Trelleborg 0-1 2-2 2-3
1995-96 UEFA Champions League Bảng B Bản mẫu:Flagicon Spartak Moscow 0-1 0-3 Thứ 4
Bản mẫu:Flagicon Legia Warsaw 0-0 0-1
Bản mẫu:Flagicon Rosenborg 4-1 1-2
1998-99 Cúp UEFA Vòng Một Bản mẫu:Flagicon Lyon 0-1 2-2 2-3
2002-03 Cúp UEFA Vòng Một Bản mẫu:Flagicon CSKA Sofia 1-1 3-3 4-4 (a)
Vòng Hai Bản mẫu:Flagicon Celtic 0-2 0-1 0-3
2003-04 Cúp UEFA Vòng Một Bản mẫu:Flagicon Gençlerbirliği 1-1 1-3 2-4
2006-07 Cúp UEFA Vòng Một Bản mẫu:Flagicon Red Bull Salzburg 2-0 2-2 4-2
Bảng E Bản mẫu:Flagicon Nancy 1-0 Thứ nhất
Bản mẫu:Flagicon Feyenoord 0-0
Bản mẫu:Flagicon Wisła Kraków 2-1
Bản mẫu:Flagicon Basel 3-0
Vòng 32 đội Bản mẫu:Flagicon Bayer Leverkusen 0-0 2-3 2-3
2007 -08 UEFA Intertoto Cup Vòng Ba Bản mẫu:Flagicon Vėtra 4-0 2-0 6-0
Cúp UEFA Vòng loại thứ hai Bản mẫu:Flagicon MyPa 2-0 1-0 3-0
Vòng Một Bản mẫu:Flagicon AEL 2-1 0-2 2-3

Lịch sử huấn luyện viên

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Màu sắc

Bản mẫu:Side box Khác với phần lớn các đội bóng khác, Blackburn Rovers chỉ từng có một kiểu thiết kế duy nhất cho trang phục sân nhà. Chiếc áo chia đôi xanh-trắng đặc trưng này được thừa nhận rộng rãi là "màu sắc của thị trấn". Dù thiết kế vẫn được giữ nguyên, phía đặt màu sắc thường xuyên thay đổi. Màu xanh nằm ở phía trái người mặc từ năm 1946; trước đó, xanh và trắng thường đổi chỗ cho nhau gần như mỗi năm.

Bộ trang phục đầu tiên của Blackburn Rovers chưa được xác định chắc chắn. Cuốn sách năm 1905 Book of Football của Jonathan Russell mô tả bộ trang phục đầu tiên của Blackburn Rovers là áo màu trắng có hình chữ thập Malta ở ngực trái của người mặc, quần trắng và một chiếc mũ sọ xanh-trắng. Hình chữ thập Malta vốn gắn liền với các trường công nơi những người sáng lập câu lạc bộ từng theo học. Ngược lại, một ghi chép trên tờ Blackburn Standard ngày 6 tháng 1 năm 1894 cho rằng bộ trang phục đầu tiên là áo xanh hải quân và trắng chia tư (chia tư ở đây có nghĩa là chiếc áo có bốn mảng trước và sau), quần trắng ngắn và tất xanh hải quân. Mô tả này gần gũi hơn nhiều với bộ trang phục quen thuộc ngày nay. Bằng chứng ảnh chụp từ năm 1878 cho thấy đội bóng mặc áo chia nửa xanh-trắng (hay chia tư), quần đùi trắng và tất xanh, kèm mũ xanh-trắng và hình chữ thập Malta.

Trong suốt lịch sử của mình, câu lạc bộ đã sử dụng bốn huy hiệu làm biểu trưng: hình chữ thập Malta, huy hiệu của thị trấn, hoa hồng Lancashire và huy hiệu Blackburn Rovers hiện nay. Từ năm 1875 đến khoảng năm 1882, hình chữ thập Malta hiện diện trên bộ trang phục sân nhà đầu tiên của câu lạc bộ và được cả đội Shrewsbury lẫn Malvern School sử dụng. Hai cựu học sinh Malvern và hai cựu học sinh Shrewsbury từng chơi trong đội hình đầu tiên đó, vì vậy mối liên hệ với các trường công này là rất rõ ràng.

Trong các trận chung kết Cúp FA, theo truyền thống câu lạc bộ sử dụng huy hiệu của thị trấn làm biểu trưng của mình. Truyền thống này đã được duy trì xuyên suốt cả tám trận chung kết Cúp FA mà câu lạc bộ tham dự, cho đến trận chung kết Cúp FA gần nhất gặp Wolverhampton Wanderers vào năm 1960.

Từ khoảng năm 1882, ngoại trừ ở các trận chung kết cúp, câu lạc bộ không sử dụng huy hiệu nào cho đến năm 1974. Năm đó, câu lạc bộ chọn một hình hoa hồng Lancashire thêu với các chữ cái viết tắt "B.R.F.C." bên dưới. Huy hiệu này tồn tại không thay đổi trong 15 năm, cho đến năm 1989, khi nó bị thay thế do vấn đề nhận diện của bông hồng màu đỏ sẫm trên nền xanh đậm của áo đấu.

Từ năm 1989 cho đến nay, huy hiệu hiện tại của Blackburn Rovers được sử dụng. Huy hiệu này kết hợp biểu trưng trước đó trong một thiết kế mới dành cho bông hồng đỏ Lancashire. Bao quanh bông hồng là tên đội bóng "Blackburn Rovers F.C." và năm thành lập "1875". Phía dưới huy hiệu là khẩu hiệu của câu lạc bộ, "Arte Et Labore", có nghĩa là "Bằng kĩ năng và lao động chăm chỉ".

Sân vận động

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Sân Oozehead 1875-1877

Sân nhà đầu tiên của Rovers là một bãi đất tại Oozehead trên Preston New Road, ở phía tây bắc thị trấn. Cánh đồng này là đất nông nghiệp và thuộc sở hữu của một nông dân địa phương; khi Blackburn Rovers không sử dụng, nơi đây được dùng để chăn bò. Ở giữa sân có một hố nước lớn, vào những ngày diễn ra trận đấu thì được phủ gỗ và cỏ lên trên.[56]

Sân cricket Pleasington 1877

Do điều kiện thô sơ tại Oozehead, ban điều hành cảm thấy một sân thể thao được thiết lập sẵn sẽ phù hợp hơn để thi đấu. Vì vậy, trong năm 1877 họ thuê sân cricket của Pleasington ở phía tây nam thị trấn. Việc thi đấu tại sân này chấm dứt sau khi Henry Smith của Preston North End qua đời vì đau tim trong một trận đấu.[56]

Alexandra Meadows 1877-1881

Tiếp tục sử dụng các sân cricket, ban điều hành thuê sân của East Lancashire Cricket Club ở trung tâm thị trấn, Alexandra Meadows. Các nguồn tài liệu không thống nhất về ngày diễn ra trận đầu tiên của Rovers tại Alexandra Meadows. Một chương trình trận đấu của Clitheroe F.C. cho biết Clitheroe là đội đầu tiên đánh bại Blackburn tại Alexandra Meadows vào ngày 17 tháng 11 năm 1877.[57] Những nguồn khác cho rằng trận đầu tiên diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1878 với chiến thắng của Blackburn trước Partick Thistle.[58][59] Cũng tại sân này, Blackburn Rovers lần đầu tiên thi đấu dưới ánh đèn nhân tạo trong trận gặp Accrington ngày 4 tháng 11 năm 1878.[56]

Leamington Road 1881-1890

Do nhu cầu dành cho bóng đá trong khu vực ngày càng tăng, đặc biệt là với Blackburn Rovers, ban điều hành cảm thấy một sân riêng sẽ phù hợp hơn. Vì vậy, năm 1881 câu lạc bộ chuyển đến Leamington Road, sân đầu tiên được xây dựng riêng cho Blackburn Rovers, bao gồm một khán đài có ghế ngồi với sức chứa 700 người, trị giá 500 bảng Anh. Trận đấu đầu tiên trên sân này diễn ra ngày 8 tháng 10 năm 1881 gặp Blackburn Olympic và kết thúc với chiến thắng 4-1 cho Rovers. Trong thời gian thi đấu tại Leamington Road và dưới sự dẫn dắt của James Fielding,[60] câu lạc bộ giành ba Cúp FA và trở thành thành viên sáng lập của Football League năm 1888. Dù vậy, bất chấp thành công, họ rời Leamington Road vì chi phí thuê sân tăng cao.[56]

Ewood Park 1890-nay

Được xây dựng vào tháng 4 năm 1882 với tên gọi Ewood Bridge. Sân là một địa điểm thể thao đa năng, tổ chức bóng đá, điền kinh và đua chó. Ban điều hành Blackburn Rovers cảm thấy đây là địa điểm lí tưởng cho câu lạc bộ sau khi đã thi đấu nhiều trận ở đây từ năm 1882. Trận đầu tiên tại sân Ewood Park mới diễn ra ngày 13 tháng 9 năm 1890 gặp Accrington, kết thúc hòa 0-0 trước 10.000 khán giả, và ngày 31 tháng 10 năm 1892, hệ thống đèn nhân tạo được lắp đặt.[56] Ewood nằm bên bờ River Darwen tại Blackburn, Lancashire.

Sự cố khủng bố năm 1913

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”. Một âm mưu phá hủy sân đã diễn ra vào năm 1913. Là một phần của chiến dịch đánh bom và phóng hỏa của phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, các suffragette đã tiến hành một loạt vụ đánh bom và đốt phá trên toàn quốc nhằm thu hút sự chú ý cho chiến dịch đòi quyền bầu cử của phụ nữ.[61] Vào tháng 11 năm 1913, các suffragette đã cố gắng đốt khán đài chính của Ewood Park nhưng bị ngăn chặn.[62] Trong cùng năm đó, các suffragette đã đốt cháy thành công sân vận động cũ của Arsenal tại Nam London, đồng thời cũng tìm cách đốt sân của Preston North End.[62] Các môn thể thao vốn được xem là giàu tính nam hơn đã bị nhắm tới như một cách phản đối sự thống trị của nam giới.[63]

Cổ động viên và các mối kình địch

Cổ động viên Blackburn Rovers đã thành lập một số hội cổ động viên gắn với đội bóng, và gần như tất cả đều một phần hướng tới việc giúp việc di chuyển đến Ewood Park trở nên thuận tiện hơn. Các trận sân nhà của Rovers có lượng khán giả khá cao so với dân số Blackburn trong suốt thập niên 2000, với trung bình khoảng 25.000 người, tương đương khoảng một phần tư dân số Blackburn (xấp xỉ 100.000 người).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”. Tạp chí fanzine lâu đời của người hâm mộ mang tên 4.000 Holes.

Clement Charnock và em trai ông là Harry là những người hâm mộ Blackburn Rovers, và chính họ đã đưa bóng đá vào nước Nga Đế quốc trong thập niên 1880.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.

Đối thủ chính của Blackburn là Burnley, đội bóng mà họ chạm trán trong trận derby East Lancashire. Những mối kình địch khác của Rovers gồm Manchester United, Preston North End, Bolton WanderersWigan Athletic, tất cả đều có trụ sở tại vùng Tây Bắc nước Anh.

Thống kê và kỉ lục

Các kỉ lục

  • Số lần ra sân nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia:

Derek Fazackerley, 593 trận chính thức + 3 trận vào sân từ ghế dự bị, từ 1970-71 đến 1986-87

  • Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất:

Simon Garner, 194 bàn thắng (168 bàn tại giải vô địch quốc gia), từ 1978-79 đến 1991-92

  • Lượng khán giả cao nhất tại Ewood Park:

62.255 người trong trận gặp Bolton Wanderers, vòng Sáu Cúp FA, ngày 2 tháng 3 năm 1929

  • Phí chuyển nhượng đã chi:

8 triệu bảng trả cho Manchester United để mua Andy Cole vào tháng 12 năm 2001
8 triệu bảng trả cho Huddersfield Town để mua Jordan Rhodes vào tháng 8 năm 2012

  • Phí chuyển nhượng thu về:

Lên tới 22 triệu bảng từ Crystal Palace cho thương vụ Adam Wharton vào tháng 2 năm 2024.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.

  • Chiến thắng đậm nhất:

11-0 trước Rossendale United, tại Ewood Park, vòng Một Cúp FA, ngày 13 tháng 10 năm 1884

  • Chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch quốc gia:

9-0 trước Middlesbrough, tại Ewood Park, Division 2, ngày 6 tháng 11 năm 1954

  • Chiến thắng sân khách đậm nhất:

8-2 trước West Ham United, Division 1, ngày 26 tháng 12 năm 1963

  • Thất bại đậm nhất tại giải vô địch quốc gia:

0-8 trước Arsenal, Division 1, ngày 25 tháng 2 năm 1933, 0-8 trước Lincoln City, Division 2, ngày 29 tháng 8 năm 1953[64]

  • Thất bại sân nhà đậm nhất tại giải vô địch quốc gia:

0-7 trước Fulham, ngày 3 tháng 11 năm 2021.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.

  • Tổng số bàn thắng cao nhất trong một trận đấu tại giải vô địch quốc gia:

13: trận thua 5-8 trước Derby County, ngày 6 tháng 9 năm 1890

  • Số điểm nhiều nhất trong một mùa giải (2 điểm cho một trận thắng):

60 (1974-75)

  • Số điểm nhiều nhất trong một mùa giải (3 điểm cho một trận thắng):

91 (2000-01)

  • Số điểm ít nhất trong một mùa giải (2 điểm cho một trận thắng):

20 (1965-66)

  • Số điểm ít nhất trong một mùa giải (3 điểm cho một trận thắng):

31 (2011-12)[65]

  • Số trận liên tiếp ra sân tại giải vô địch quốc gia nhiều nhất:

Walter Crook, 208 trận (1934-46)

  • Số bàn thắng nhiều nhất do một cầu thủ ghi trong một mùa giải:

Ted Harper, 43 bàn, Division 1, 1925-26

  • Số bàn thắng nhiều nhất do một cầu thủ ghi trong một trận đấu:

Tommy Briggs, 7 bàn trước Bristol Rovers, Ewood Park, Division 2, ngày 5 tháng 2 năm 1955

  • Số cú hat-trick nhiều nhất trong một mùa giải:

8, mùa giải 1963-64

  • Số cú hat-trick cá nhân nhiều nhất:

13, Jack Southworth, 1887-1893

  • Số lần ra sân nhiều nhất tại Cúp FA:

Ronnie Clayton, 56 trận, 1949-1969

  • Số lần ra sân nhiều nhất tại Cúp Liên đoàn:

Derek Fazackerley, 38 trận, 1969-1987

  • Cầu thủ trẻ nhất ra sân cho Rovers:

Harry Dennison, 16 tuổi 155 ngày trong trận gặp Bristol City, Division 1, ngày 8 tháng 4 năm 1911

  • Cầu thủ lớn tuổi nhất ra sân cho Rovers:

Bob Crompton, 40 tuổi 150 ngày trong trận gặp Bradford City, Division 1, ngày 23 tháng 2 năm 1920

  • Chuỗi trận bất bại dài nhất tại Cúp FA:

24 trận, bao gồm 3 lần vô địch Cúp FA liên tiếp, giai đoạn 1884-86. Đây vẫn là kỉ lục của Cúp FA

Nguồn tham khảo cho các dữ kiện trên[66][67]

Danh hiệu

Nguồn:[56][68][69]

Giải vô địch quốc gia

Cúp

Khu vực

  • Lancashire Cup[56]Bản mẫu:Efn
    • Vô địch (20): 1881-82, 1882-83, 1883-84, 1884-85, 1895-96, 1900-01, 1901-02, 1903-04, 1906-07, 1908-09, 1910-11, 1944-45, 1983-84, 1985-86, 1987-88, 1989-90, 2006-07, 2010-11, 2018-19, 2020-21

Ghi chú

Bản mẫu:Danh sách ghi chú

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.Bản mẫu:Cbignore
  41. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Conn, David. "How an agent came to hold so much power at Blackburn Rovers" Bản mẫu:Webarchive, The Guardian, 21 tháng 12 năm 2010. Retrieved 19 tháng 8 năm 2016.
  45. ^ Hytner, David. "Steve Kean finds value of friends in high places at Blackburn Rovers" Bản mẫu:Webarchive, The Guardian, 16 tháng 12 năm 2010. Retrieved 19 tháng 8 năm 2016.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  48. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  49. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  50. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  51. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  52. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  53. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  54. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  55. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  56. ^ a ă â b c d đ Mike Jackman, 2009, Blackburn Rovers The Complete Record, The Breedon Books Publishing Company Limited, Derby.
  57. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  58. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  59. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  60. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  61. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  62. ^ a ă Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  63. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  64. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  65. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  66. ^ Blackburn Rovers Official – club Records Bản mẫu:Webarchive
  67. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  68. ^ Khi được thành lập vào năm 1992, Premier League trở thành hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh; First DivisionSecond Division sau đó lần lượt trở thành cấp độ thứ hai và thứ ba. First Division hiện nay được gọi là Football League Championship, còn Second Division nay là Football League One.
  69. ^ Chiếc cúp này được gọi là Charity Shield cho đến năm 2002, và từ đó trở đi được gọi là Community Shield.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Side box

  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Official website”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Các trang web độc lập

Bản mẫu:Coord

Bản mẫu:Blackburn Rovers F.C. Bản mẫu:Mùa giải Blackburn Rovers F.C. Bản mẫu:Football League Championship Bản mẫu:Football League One Bản mẫu:FA Premier League Bản mẫu:Authority control