Bước tới nội dung

Bom dẫn đường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
BOLT-117, quả Bom dẫn đường bằng laser đầu tiên trên thế giới

Bom dẫn đường (còn được gọi là bom thông minh hoặc GBU) là một vũ khí dẫn đường chính xác được thiết kế để đạt được sai số vòng tròn xác suất (CEP) nhỏ hơn.[1][2]

Việc tạo ra các loại vũ khí dẫn đường chính xác đã dẫn đến việc đặt lại tên hồi cứu cho các loại bom cũ hơn là bom không dẫn đường hoặc "bom ngu".

Dẫn đường

Một quả bom dẫn đường bằng laser GBU-24 (biến thể đầu đạn BLU-109) tấn công mục tiêu.

Bom dẫn đường mang theo một hệ thống dẫn đường thường được giám sát và điều khiển từ một thiết bị bên ngoài. Một quả bom dẫn đường có trọng lượng nhất định phải mang ít chất nổ hơn để dành chỗ cho các cơ chế dẫn đường.

Vô tuyến

Người Đức là những người đầu tiên đưa vũ khí dẫn đường chính xác (PGM) vào chiến đấu, sử dụng quả Fritz X điều khiển bằng hệ thống MCLOS nặng 1.400 kg (3.100 lb) để tấn công thành công thiết giáp hạm Roma của Ý vào tháng 9 năm 1943. Các loại vũ khí tương đương gần nhất của phe Đồng minh là loại AZON nặng 450 kg (1.000 lb) (chỉ điều khiển hướng tính), được sử dụng ở cả châu Âu và Chiến trường Trung Hoa - Miến Điện - Ấn Độ, và loại Bat của Hải quân Hoa Kỳ, chủ yếu được sử dụng ở Chiến trường Thái Bình Dương trong Thế chiến II, loại này sử dụng hệ thống dẫn đường bằng radar tự hành trên thân. Ngoài ra, Mỹ đã thử nghiệm loại Gargoyle chạy bằng động cơ tên lửa; nhưng nó chưa bao giờ được đưa vào biên chế.[3] Không có loại PGM điều khiển từ xa nào của Nhật Bản được đưa vào sử dụng trong Thế chiến II.

Không lực Lục quân Hoa Kỳ đã sử dụng các kỹ thuật tương tự với Chiến dịch Aphrodite, nhưng gặt hái được ít thành công; loại "máy bay ký sinh" Mistel (Mistletoe) của Đức cũng không hiệu quả hơn.

Các chương trình của Mỹ đã khởi động lại trong Chiến tranh Triều Tiên. Vào những năm 1960, bom quang-điện tử (hoặc bom camera) đã được tái giới thiệu. Chúng được trang bị máy ảnh vô tuyến truyền hình và kính ngắm pháo sáng, qua đó quả bom sẽ được lái cho đến khi pháo sáng đè lên mục tiêu. Các bom camera truyền hình ảnh "tầm mắt của bom" về mục tiêu cho máy bay điều khiển. Một người vận hành trên máy bay này sau đó truyền tín hiệu điều khiển đến các cánh lái có thể điều chỉnh được lắp trên quả bom. Những vũ khí như vậy đã được sử dụng ngày càng nhiều bởi USAF trong vài năm cuối của Chiến tranh Việt Nam vì môi trường chính trị ngày càng không khoan nhượng với thương vong dân sự, và vì có thể tấn công các mục tiêu khó (như cầu cống) hiệu quả chỉ với một nhiệm vụ duy nhất; ví dụ, Cầu Thanh Hóa đã bị tấn công nhiều lần bằng bom trọng lực nhưng không có kết quả, cây cầu chỉ bị phá hủy trong một nhiệm vụ bằng vũ khí dẫn đường.

Mặc dù không phổ biến bằng các loại vũ khí JDAMJSOW mới hơn, hay thậm chí là các hệ thống bom dẫn đường bằng laser cũ hơn, các loại vũ khí như bom dẫn đường bằng TV AGM-62 Walleye vẫn đang được sử dụng, kết hợp với thiết bị liên kết dữ liệu AAW-144, trên các máy bay F/A-18 Hornet của Hải quân Hoa Kỳ.

Hồng ngoại

Trong Thế chiến II, Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng Quốc gia Hoa Kỳ đã phát triển loại VB-6 Felix, sử dụng hồng ngoại để tự dẫn vào các tàu biển. Mặc dù nó đã được đưa vào sản xuất vào năm 1945, nhưng nó chưa bao giờ được sử dụng trong tác chiến.[4]

Laser

GBU-10 ngay trước khi va chạm với một con thuyền nhỏ trong một bài tập huấn luyện

Vào năm 1962, Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu các hệ thống dẫn đường bằng Laser và đến năm 1967, Không quân Hoa Kỳ đã tiến hành đánh giá cạnh tranh dẫn đến việc phát triển hoàn chỉnh loại bom dẫn đường bằng laser đầu tiên trên thế giới, BOLT-117, vào năm 1968. Tất cả các loại bom như vậy đều hoạt động theo cùng một cách, dựa vào mục tiêu được chiếu sáng, hay được "sơn", bởi một thiết bị chỉ thị mục tiêu bằng laser trên mặt đất hoặc trên máy bay. Chúng có nhược điểm đáng kể là không thể sử dụng trong thời tiết xấu khi không thể nhìn thấy ánh sáng chiếu mục tiêu, hoặc ở những nơi không thể đưa thiết bị chỉ thị mục tiêu lại gần mục tiêu. Thiết bị chỉ thị laser gửi chùm tia của nó theo một loạt các xung được mã hóa để quả bom không bị nhầm lẫn bởi một loại laser thông thường, và cũng để nhiều thiết bị chỉ thị có thể hoạt động trong khoảng cách gần một cách hợp lý.

Vũ khí dẫn đường bằng laser không trở nên phổ biến cho đến khi có sự ra đời của vi mạch. Chúng đã ra mắt thực tế tại Việt Nam vào ngày 13 tháng 5 năm 1972 khi được sử dụng trong cuộc tấn công thành công thứ hai vào Cầu Thanh Hóa ("Hàm Rồng"). Công trình này trước đó đã là mục tiêu của 800 phi vụ của Mỹ[5] (sử dụng vũ khí không dẫn đường) và đã bị phá hủy một phần trong mỗi hai cuộc tấn công thành công, cuộc tấn công còn lại là vào ngày 27 tháng 4 năm 1972 sử dụng các quả Walleye. Nhiệm vụ đầu tiên đó cũng có vũ khí dẫn đường bằng laser, nhưng thời tiết xấu đã ngăn cản việc sử dụng chúng. Chúng đã được sử dụng, dù không phải trên quy mô lớn, bởi lực lượng Anh trong Chiến tranh Falklands năm 1982.[6] Việc sử dụng quy mô lớn đầu tiên vũ khí thông minh diễn ra vào năm 1991 trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc khi chúng được lực lượng liên quân sử dụng chống lại Iraq. Mặc dù vậy, hầu hết các loại đạn dược thả từ trên không được sử dụng trong cuộc chiến đó là "bom ngu", mặc dù tỷ lệ phần trăm bị sai lệch do việc sử dụng nhiều loại Bom chùm (không dẫn đường). Vũ khí dẫn đường bằng laser đã được sử dụng với số lượng lớn trong Chiến tranh Kosovo năm 1999, nhưng hiệu quả của chúng thường bị giảm do điều kiện thời tiết xấu phổ biến ở miền nam vùng Balkan.

Có hai dòng bom dẫn đường bằng laser cơ bản trong biên chế của Mỹ (và khối chịu ảnh hưởng của Mỹ): Paveway II và Paveway III. Hệ thống dẫn đường Paveway III hiệu quả hơn về mặt khí động học và do đó có tầm bắn xa hơn, tuy nhiên nó đắt hơn. Paveway II LGB nặng 230 kilôgam (500 lb) (như GBU-12) là một loại PGM hạng nhẹ rẻ hơn phù hợp để sử dụng chống lại các phương tiện và các mục tiêu nhỏ khác, trong khi một đầu xuyên Paveway III nặng 900 kilôgam (2.000 lb) (như GBU-24) là một loại vũ khí đắt tiền hơn phù hợp để sử dụng chống lại các mục tiêu có giá trị cao. Các quả GBU-12 đã được sử dụng mang lại hiệu quả tuyệt vời trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, được thả từ máy bay F-111F để tiêu diệt các phương tiện bọc thép của Iraq trong một quy trình được gọi là "tank plinking".

Vệ tinh

Một chiếc F-22 thả một quả JDAM từ khoang bụng trung tâm khi đang bay ở tốc độ siêu thanh

Những bài học rút ra trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất đã cho thấy giá trị của vũ khí chính xác, nhưng chúng cũng làm nổi bật những khó khăn khi vận hành—đặc biệt là khi tầm nhìn từ trên không xuống mặt đất hoặc mục tiêu bị suy giảm.[7] Vấn đề tầm nhìn kém không ảnh hưởng đến các vũ khí dẫn đường bằng vệ tinh như JDAMJSOW, vốn sử dụng hệ thống GPS của Hoa Kỳ để dẫn đường. Loại vũ khí này có thể được sử dụng trong mọi điều kiện thời tiết mà không cần bất kỳ sự hỗ trợ nào từ mặt đất. Do hệ thống GPS có thể bị gây nhiễu, gói dẫn đường sẽ chuyển sang chế độ dẫn đường quán tính trong trường hợp mất tín hiệu GPS. Dẫn đường quán tính có độ chính xác thấp hơn đáng kể; JDAM đạt được sai số vòng tròn xác suất (CEP) công bố là 13 mét (43 ft) khi có dẫn đường GPS, nhưng thường chỉ đạt khoảng 30 mét (100 ft) dưới sự dẫn đường quán tính (với thời gian rơi tự do từ 100 giây trở xuống).[8][9]

Hệ thống HOPE/HOSBO của Luftwaffe với sự kết hợp giữa GPS/INS và dẫn đường quang-điện tử

Độ chính xác của các vũ khí này phụ thuộc vào cả độ chính xác của hệ thống đo lường được sử dụng để xác định vị trí và độ chính xác trong việc thiết lập tọa độ của mục tiêu. Yếu tố sau phụ thuộc trực tiếp vào thông tin tình báo, vốn không phải lúc nào cũng chính xác. Theo một báo cáo của CIA, vụ ném bom nhầm vào đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade trong Chiến dịch Allied Force của máy bay NATO là do thông tin mục tiêu bị sai lệch.[10] Tuy nhiên, nếu thông tin mục tiêu chính xác, vũ khí dẫn đường bằng vệ tinh có khả năng thực hiện một cú tấn công thành công trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào cao hơn đáng kể so với bất kỳ loại vũ khí dẫn đường chính xác nào khác. Các hệ thống dẫn đường vệ tinh quân sự khác bao gồm: GLONASS của Nga, Galileo của châu Âu, Bắc Đẩu của Trung Quốc, NavIC của Ấn Độ, và QZSS của Nhật Bản.

Lịch sử

Bom dẫn đường có nguồn gốc từ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Việc sử dụng chúng tăng lên sau sự thành công của loại vũ khí này trong Chiến tranh Vùng Vịnh.

Chiến tranh Thế giới thứ hai

Một quả bom dẫn đường BAT

Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, các thiết bị dẫn đường Fritz X và Henschel Hs 293 đã được Đức Quốc xã sử dụng trong chiến đấu chống lại các tàu biển, tương tự như cách Không lực Lục quân Hoa Kỳ đã làm với loại Azon và sau đó là Razon trong việc tấn công các cây cầu và các mục tiêu khó đánh trúng khác ở cả Tây Âu và Miến Điện. Sau đó, Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng Quốc gia Hoa Kỳ đã phát triển loại VB-6 Felix, sử dụng đàu dò hồng ngoại để tự dẫn vào các tàu. Mặc dù nó đã được đưa vào sản xuất vào năm 1945, nhưng nó chưa bao giờ được sử dụng trong tác chiến.[11]

Chiến tranh Triều Tiên

Hoa Kỳ đã triển khai ngắn hạn bom ASM-A-1 Tarzon (hoặc VB-13 Tarson) (một quả bom Tallboy được lắp thêm bộ dẫn đường vô tuyến) trong Chiến tranh Triều Tiên, thả chúng từ các máy bay Boeing B-29 Superfortress.

Chiến tranh Việt Nam

Vào năm 1962, Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu các hệ thống dẫn đường bằng Laser và đến năm 1967, Không quân Hoa Kỳ đã thực hiện một cuộc đánh giá cạnh tranh dẫn đến việc phát triển hoàn chỉnh loại bom dẫn đường bằng laser đầu tiên trên thế giới, BOLT-117, vào năm 1968.

Chiến tranh Vùng Vịnh

Các quả GBU-12 Paveway II đã được sử dụng mang lại hiệu quả tuyệt vời trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, được thả từ máy bay F-111F để tiêu diệt các phương tiện bọc thép của Iraq trong một quy trình được gọi là "tank plinking" (diệt xe tăng).

Cuộc chiến chống khủng bố

Cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh đầu tiên đã cho thấy giá trị của bom dẫn đường, với các loại vũ khí dẫn đường chính xác chiếm tới 70% lượng đạn dược tiêu thụ trong Chiến dịch Enduring Freedom.[12]

Các khái niệm dẫn đường tiên tiến

Phản hồi các báo cáo sau tác chiến từ các phi công sử dụng vũ khí dẫn đường bằng laser và/hoặc vệ tinh, Boeing đã phát triển loại laser JDAM (LJDAM) để cung cấp cả hai loại dẫn đường trong một bộ kit duy nhất. Dựa trên các cấu hình JDAM hiện có, một gói dẫn đường bằng laser được thêm vào vũ khí dẫn đường bằng GPS/INS để tăng độ chính xác tổng thể của vũ khí.[13] Raytheon cũng đã phát triển dòng Enhanced Paveway, bổ sung dẫn đường GPS/INS vào các gói dẫn đường bằng laser Paveway của họ.[14] Những vũ khí "lai" dẫn đường bằng laser và GPS này cho phép mang theo ít loại vũ khí hơn trong khi vẫn duy trì tính linh hoạt của nhiệm vụ, vì những vũ khí này có thể được sử dụng tương đương để chống lại cả mục tiêu di động và mục tiêu cố định, hoặc các mục tiêu cơ hội. Ví dụ, một tải trọng vũ khí điển hình trên một chiếc F-16 bay trong Chiến tranh Iraq bao gồm một quả JDAM nặng 900 kg (2.000 lb) và hai quả LGB nặng 230 kg (500 lb). Với LJDAM và loại bom đường kính nhỏ (SDB) mới, các máy bay này có thể mang theo nhiều bom hơn nếu cần thiết, và có tùy chọn dẫn đường bằng vệ tinh hoặc laser cho mỗi lần thả vũ khí.

Tham khảo

  1. ^ Hamilton, Richard (1995). "Precision guided munitions and the new era of warfare". Air Power Studies Centre, Royal Australian Air Force. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009.
  2. ^ Selected Originals – Bomb With A Brain (Newsreel 52/51A). British Pathé. ngày 23 tháng 6 năm 1952. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  3. ^ Fitzsimons, op. cit., Volume 10, p.1090, "Gargoyle".
  4. ^ Fitzsimons, Bernard, biên tập (1978). "Felix". The Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare. Quyển 9. New York: Columbia House. tr. 926. OCLC 4515674.
  5. ^ "Thanh Hoa Bridge". af.mil. Air Force Research Laboratory. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2005.
  6. ^ "The Air War". Britain's Small Wars. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  7. ^ Hansen, Ryan (ngày 17 tháng 3 năm 2006). "JDAM continues to be warfighter's weapon of choice". af.mil. United States Air Force.
  8. ^ "Factsheets: Joint Direct Attack Munition". af.mil. United States Air Force. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2003.
  9. ^ "JDAM Specifications". GlobalSecurity.org.
  10. ^ Tenet, George J. (ngày 22 tháng 7 năm 1999). "DCI Statement on the Belgrade Chinese Embassy". cia.gov. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2006.
  11. ^ Fitzsimons, op. cit., Volume 9, p.926, "Felix".
  12. ^ Lambeth, Benjamin S. (2005). "Air Power Against Terror: America's Conduct of Operation Enduring Freedom" (PDF). RAND Corporation. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2014.
  13. ^ "Laser JDAM Overview" (PDF). boeing.com. Boeing. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2006.
  14. ^ "Raytheon Enhanced Paveway" (PDF). raytheon.com. Raytheon. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2008.