Bước tới nội dung

Bào Phương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bào Phương
SinhBào Kế Hoán
(1922-11-13)13 tháng 11, 1922
Nam Xương, Giang Tây, Trung Quốc
Mất22 tháng 9, 2006(2006-09-22) (83 tuổi)
Bệnh viện Ruttonjee, Loan Tể, Hồng Kông
Quốc tịch Hồng Kông
 Trung Quốc
Nghề nghiệp
Năm hoạt động1947–1999
Người đại diệnTVB (1982–1999)
Chiều cao1,80 m (5 ft 11 in)
Phối ngẫu
Lưu Tô
(cưới 1944 – mất 1999)
Con cái3
Bào Phương
Phồn thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Giản thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Bào Kế Hoán
Phồn thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Giản thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).

Bào Kế Hoán (giản thể: 鲍继焕; phồn thể: 鮑繼煥), thường được biết đến với nghệ danh Bào Phương (giản thể: 鲍方; phồn thể: 鮑方); 13 tháng 11 năm 1922 – 22 tháng 9 năm 2006) là một nam diễn viên, đạo diễn kiêm biên kịch người Hồng Kông gốc Trung Quốc. Ông bước chân vào ngành điện ảnh từ thập niên 1940, để lại dấu ấn qua các tác phẩm Cười cười cười (1960), Lôi vũ (1961), Họa bì (1966), Khuất Nguyên (1977). Đến những năm 1980, ông gia nhập TVB và chuyển sang lĩnh vực phim truyền hình. Trong gần 60 năm hoạt động nghệ thuật, Bào Phương đã tham gia gần 100 tác phẩm điện ảnh và có nhiều đóng góp cho nền điện ảnh Trung Hoa.

Cuộc đời và sự nghiệp

Bào Phương có tên khai sinh là Bào Kế Hoán, sinh ra ở Nam Xương, Giang Tây (Trung Quốc).[1] Theo lời tự thuật của Bào Phương, cha ông là quan chức tại đại lục trong thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, từng đảm nhiệm chức quan thuế vụ hải quan khu vực Giang Tây. Năm ông lên bảy, cha ông được bổ nhiệm làm huyện trưởng huyện Nam Lăng nên ông từng có thời gian sinh sống tại nơi này.[2] Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Tiểu học Bách Uyển Châu ở Nam Xương và theo học Trường Trung học Số 1 tỉnh Giang Tây. Đến năm 1937, do xảy ra chiến tranh Trung – Nhật, cha ông khi ấy đang công tác tại Quảng Tây đã sắp xếp đưa cả gia đình chuyển đến Quế Lâm, một nơi tương đối an toàn hơn.[3]

Ông thi đỗ khoa Luật của Đại học Quảng Tây vào năm 1941. Đến năm 1942, ông gia nhập Viện Nghệ thuật tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian này, ông tham gia biểu diễn một số vở kịch nói mang tính tuyên truyền kháng Nhật.

Sau khi tốt nghiệp đại học vào năm 1947, ông chuyển sang Hồng Kông sinh sống và bắt đầu sự nghiệp diễn xuất. Ông góp mặt trong các tác phẩm của những công ty chuyên sản xuất phim nói tiếng Phổ thông. Sau đó, ông gia nhập các hãng phim cánh tả. Song song với vai trò diễn viên, Bào Phương bắt đầu làm biên kịch và đạo diễn từ cuối những năm 50.

Phim điện ảnh Khuất Nguyên (1977) chuyển thể từ vở kịch cùng tên của Quách Mạt Nhược do Bào Phương đảm nhiệm vai trò đạo diễn, biên kịch và diễn viên chính, là phim Hồng Kông đầu tiên được phát hành tại Trung Quốc đại lục sau Cách mạng Văn hóa. Đây là một bộ phim màu tưởng nhớ Khuất Nguyên và được xem là một trong những tác phẩm điện ảnh sớm nhất về nhà thơ này. Sự ra mắt của Khuất Nguyên đã gây tiếng vang và giúp Bào Phương trở thành tên tuổi quen thuộc đối với công chúng Trung Quốc. Vai diễn Khuất Nguyên của ông được đánh giá là đáp ứng kỳ vọng của khán giả về ngoại hình, khí chất và kỹ năng diễn xuất. Bộ phim này cũng đánh dấu lần hợp tác duy nhất của Bào Phương và con gái ông, diễn viên Bào Khởi Tịnh, trong lĩnh vực điện ảnh.[4][5]

Năm 1980, Bào Phương được mời tham gia bộ phim truyền hình dài tập Kinh hoa xuân mộng của TVB. Ông chính thức gia nhập TVB từ năm 1982, chủ yếu đảm nhận vai người cha, trưởng bối hoặc cao thủ võ lâm. Một số vai diễn nổi bật của ông trên màn ảnh nhỏ có thể kể đến Trương Tam Phong trong Ỷ Thiên Đồ Long ký (1986), Phong Thanh Dương trong Tiếu ngạo giang hồ (1996), vị sư quét chùa hay Vô Danh thần tăng trong Thiên long bát bộ (1997), Hồng An Thông trong Lộc Đỉnh ký (1998), Vô Sân đại sư trong Tuyết sơn phi hồ (1999).

Tập tin:Avenuemarkers.JPG
Dấu tay và chữ ký của Bào Phương trên Đại lộ Ngôi sao (Hồng Kông)

Cuối năm 1999, Bào Phương bị đột quỵ và phải nhập viện trong thời gian ghi hình phim truyền hình đề tài nông thôn Mối tình nồng thắm 2 tại Quảng Tây. Sau ba tháng hôn mê, ông chính thức nghỉ hưu và kết thúc hợp đồng với TVB, Mối tình nồng thắm 2 cũng trở thành tác phẩm cuối cùng của ông tại đài.[1] Bào Khởi Tịnh là người thay mặt gia đình công bố thông tin nghỉ hưu.[6]

Trong gần 60 năm hoạt động nghệ thuật với vai trò đạo diễn, biên kịch và diễn viên, Bào Phương đã tham gia gần 100 tác phẩm điện ảnh. Ông được Hội Nghệ thuật Biểu diễn Điện ảnh Trung Quốc trao giải Danh dự Đặc biệt vào năm 1993 và Danh dự Ngôi sao Điện ảnh Trung Hoa vào năm 1995. Năm 2000, ông được Giải thưởng Kim Tử Kinh Điện ảnh Hồng Kông trao giải Thành tựu trọn đời.[7] Tại Liên hoan phim Kim Kê Bách Hoa năm 2005, Bào Phương được Hội Nghệ thuật Biểu diễn Điện ảnh Trung Quốc vinh danh là một trong 100 diễn viên xuất sắc trong 100 năm điện ảnh Trung Quốc.[8] Cùng năm đó, Bào Phương để lại dấu tay trên Đại lộ Ngôi sao của Hồng Kông,[9] đánh dấu lần xuất hiện cuối cùng của ông trước công chúng.[10]

Bệnh tật và qua đời

Cuối năm 1999, Bào Phương bị đột quỵ khi đang quay phim tại Quảng Tây và chính thức nghỉ hưu ba tháng sau đó. Ông được chuyển đến Thâm Quyến rồi Hồng Kông để tiếp nhận điều trị.[6] Những năm cuối đời, ông mắc bệnh suy giảm trí nhớ và sống trong viện dưỡng lão. Đến khoảng tháng 8 năm 2006, ông nhập viện vì khó thở do suy giảm chức năng phổi.[11] Bào Phương qua đời vào chiều ngày 22 tháng 9 tại Bệnh viện Ruttonjee ở Loan Tể, Hồng Kông, hưởng thọ 83 tuổi.[12][13] Lễ tang được cử hành vào ngày 16 tháng 10. Thi hài của ông được hỏa táng tại Mũi Collinson [en], Trại Loan, và tro cốt được đặt tại Bồng Doanh Tiên Quán [en] trước khi được đưa về Nghĩa trang nhà họ Bào để hợp táng cùng vợ.[14]

Đời tư

Bào Phương và nữ diễn viên kịch nói Lưu Tô kết hôn trong thời kỳ chiến tranh Trung – Nhật. Đầu tháng 2 năm 1999, vợ ông mất do biến chứng viêm phổi sau khi bị cảm lạnh. Vợ chồng họ có hai con gái và một con trai:

  • Con gái lớn Bào Khởi Gia từng làm nhân viên giao dịch tại Ngân hàng Trung Quốc (Hồng Kông).
  • Con gái thứ Bào Khởi Tịnh (sinh ngày 20 tháng 7 năm 1949) là diễn viên từng cộng tác với các hãng phim ATV, TVB, và đoạt danh hiệu Nữ diễn viên chính xuất sắc tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 28 với Ngày và đêm ở Thiên Thủy Vi (2008).[15]
  • Con trai Bào Khởi Minh (sinh ngày 2 tháng 6 năm 1952) với nghệ danh Bào Đức Hi, là nhà quay phim điện ảnh kiêm diễn viên, từng nhiều lần được vinh danh tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông, Giải Kim Mã và là chủ nhân Giải Oscar lần thứ 73 cho Quay phim xuất sắc với tác phẩm Ngọa hổ tàng long (2000).[16]

Con rể ông, Phương Bình (chồng của Bào Khởi Tịnh), là diễn viên, đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim điện ảnh Hồng Kông.

Vinh danh

  • Giải thưởng Hội Nghệ thuật biểu diễn Điện ảnh Trung Quốc: Giải Danh dự Đặc biệt (1993)
  • Hội Nghệ thuật Biểu diễn Điện ảnh Trung Quốc: Giải Danh dự Ngôi sao Điện ảnh Trung Hoa (1995)
  • Giải thưởng Kim Tử Kinh Điện ảnh Hồng Kông: Giải Thành tựu trọn đời (2000)
  • Đại lộ Ngôi sao Hồng Kông (2005)
  • Hội Nghệ thuật Biểu diễn Điện ảnh Trung Quốc: Danh sách 100 diễn viên xuất sắc trong kỷ niệm 100 năm điện ảnh Trung Quốc (2006)

Chú thích

Tài liệu

  • Bào Phương (1999). 葫芦里什么药 [Trong hồ lô có thuốc gì] (bằng tiếng Trung). Bắc Kinh: Nhà xuất bản Hiện Đại. ISBN 7-80028-443-3.

Tham khảo

  1. ^ a b "縱橫影視圈 導編演樣樣掂" (bằng tiếng Trung). 明報 Ming Pao. ngày 23 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2007 – qua Yahoo! Hong Kong.
  2. ^ Bào Phương (1999), tr. 9.
  3. ^ Bào Phương (1999), tr. 68.
  4. ^ 齐鲁壹点 (ngày 17 tháng 6 năm 2018). "屈原影视形象真不少,有的让人爱有的招人烦". 鳳凰網 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026.
  5. ^ 三木 (ngày 31 tháng 1 năm 2021). ""扫地神僧"鲍方之后,再无《屈原》". 163.com. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026.
  6. ^ a b Triệu Lôi, 赵蕾 (ngày 12 tháng 10 năm 2006). "鲍方:时代巨星的陨落" [Bào Phương: Sự ra đi của một ngôi sao thời đại]. CCTV.com (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  7. ^ "鲍方获第5届香港电影金紫荆终身成就奖" [Bào Phương giành giải Thành tựu trọn đời tại Giải thưởng Kim Tử Kinh Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 5]. Sohu (bằng tiếng Trung). ngày 2 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  8. ^ "中国电影百年百位优秀演员" [Một trăm diễn viên xuất sắc trong một trăm năm điện ảnh Trung Quốc]. Sina (bằng tiếng Trung). ngày 13 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  9. ^ "77 鮑方先生". avenueofstars.com.hk (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026.
  10. ^ "鮑方病逝 子女泣別". Oriental Daily News 東方日報 (bằng tiếng Trung). ngày 23 tháng 9 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026.
  11. ^ "港艺人鲍方病逝 次女未见最后一面哭成泪人(图)" [Nghệ sĩ Hồng Kông Bào Phương qua đời, con gái thứ không kịp gặp mặt ông lần cuối nên khóc nức nở (Ảnh)]. 中国新闻网 Chinanews (bằng tiếng Trung). ngày 24 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  12. ^ "Fong Pao, Hong Kong Actor Passed Away" [Nam diễn viên Hồng Kông Bào Phương qua đời]. China.org (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  13. ^ "组图:香港资深演员鲍方 身体衰弱昨日逝世". 新浪娱乐 Sina (bằng tiếng Trung). ngày 23 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2025.
  14. ^ 小米 (ngày 17 tháng 10 năm 2006). "鲍方骨灰与妻合葬 鲍德熹将拍片纪念父亲(图)". 搜狐娱乐 Sohu (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026.
  15. ^ "第28屆香港電影金像獎提名及得獎名單 List of Nominees and Awardees of The 28th Hong Kong Film Awards" [Danh sách đề cử và chiến thắng Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 28]. hkfaa.com (bằng tiếng Trung và Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  16. ^ Yip Wai Yee (ngày 11 tháng 3 năm 2015). "Oscar-winning cinematographer Peter Pau takes on demon slayer Zhong Kui in new film" [Nhà quay phim từng đoạt giải Oscar Bào Đức Hi đảm nhận vai diễn kẻ trừ yêu diệt ma Chung Quỳ trong phim mới]. The Straits Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.

Liên kết ngoài