Bước tới nội dung

Quách Mạt Nhược

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Quách Mạt Nhược
Tập tin:Guo Moruo in 1941.jpg
Quách Mạt Nhược tại Trùng Khánh năm 1941.
Chức vụ
Nhiệm kỳ15 tháng 9 năm 1954 – 12 tháng 6 năm 1978
23 năm, 270 ngày
Nhiệm kỳ21 tháng 9 năm 1949 – 21 tháng 12 năm 1964
15 năm, 91 ngày
26 tháng 2 năm 1978 - 12 tháng 6 năm 1978
106 ngày
Nhiệm kỳ1 tháng 10 năm 1949 – 15 tháng 9 năm 1954
4 năm, 349 ngày
Nhiệm kỳ1949 – 12 tháng 6 năm 1978
Tiền nhiệmchức vụ thành lập
Kế nhiệmChu Dương
Nhiệm kỳ1949 – 12 tháng 6 năm 1978
Tiền nhiệmchức vụ thành lập
Kế nhiệmPhương Nghị
Nhiệm kỳ1958 – 12 tháng 6 năm 1978
Tiền nhiệmchức vụ thành lập
Thông tin cá nhân
Quốc tịchTập tin:Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc
Sinh(1892-11-16)16 tháng 11 năm 1892
Lạc Sơn, Tứ Xuyên, Đại Thanh
Mất12 tháng 6 năm 1978(1978-06-12) (85 tuổi)
Bắc Kinh, Tập tin:Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc
Dân tộcKhách Gia
Tôn giáoNho gia
Đảng chính trịĐảng Cộng sản
Bạn đờiVu Lập Quần
Trương Quỳnh Hoa
Sato Tomiko
Con cái12
Tặng thưởngGiải thưởng Hòa bình Stalin

Quách Mạt Nhược (郭沫若; 16 tháng 11 năm 1892 - 12 tháng 6 năm 1978) là một kịch tác gia, thi sĩ, phê bình gia, sử gia, kí giả kiêm chính khách Trung Quốc, Phó Chủ tịch Toàn quốc Chính hiệp, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện.[1]

Lịch sử

Quách Mạt Nhược vốn ấu danh Văn Báo (文豹), nguyên tên là Khai Trinh (開貞), tự Đỉnh Đường (鼎堂), hiệu Thượng Võ (尚武), bút danh Cao Nhữ Hồng (高汝鸿), Mạch Khắc Ngang (麦克昂), Dịch Khảm Nhân (易坎人), Cốc Nhân (谷人), Ái Mưu (爱牟), Đỗ Thuyên (杜荃), Thạch Đà (石沱). Ông có sinh quán Lạc Sơn, Tứ Xuyên nhưng phát tích ở tận phủ Đinh Châu, Ninh Hóa, tỉnh Phúc Kiến. Cụ thủy tổ Quách Phúc nguyên là hậu duệ Phần Dương quận vương Quách Tử Nghi.[2]

Sinh thời, Quách Mạt Nhược vốn khá nổi tiếng đối với giới sân khấu miền Bắc Việt Nam thập niên 1950-70, nhưng ở quê hương Trung Hoa thì ông được coi là học giả hơn nghệ sĩ. Những trứ tác được coi là ưu tú nhất của ông lại tập trung ở thập niên 1930-40, thường được gọi "hoàng kim thời đại" của văn nghệ Trung Hoa đại lục thế kỉ XX, mà trung tâm của nó lại không phải Bắc Bình, Nam Kinh mà là Thượng Hải.[3] Tuy nhiên giai đoạn đó, Quách Mạt Nhược không phải tác gia nổi trội giữa rừng văn nghệ sĩ như Lỗ Tấn, Tiêu Hồng, Tiêu Quân, Đoan Mộc Hống Lương, Đinh Linh, Lạc Tân Cơ, Nhiếp Cám Nỗ, Thư Quần, La Phong, Tương Tích Kim, Hồ Phong, Châu Kình Văn, Mao Thuẫn, Vu Nghị Phu, Ngải Thanh, Bạch Lãng... hay thậm chí Kim Kiếm Khiếu. Danh trạng Đỉnh Đường tiên sinh chỉ cất cánh là qua mối tâm giao với Mao chủ tịch, và bắt đầu trở nên tác gia hàng đầu khi chính phủ nhân dân thành lập.

Thoại kịch Hổ phù (虎符) là tác phẩm văn chương đầu tay được tác gia Quách Mạt Nhược khởi thảo vào năm 1942 và chính thức thủ diễn năm 1943, nghĩa là ở những năm cuối cùng của thời đại hoàng kim văn nghệ Thượng Hải. Nhưng chừng như cũng giống số phận Lôi vũ, Nhật xuất, Bắc Kinh nhân... mà Hổ phù sớm chìm vào quên lãng ở Trung Hoa đại lục (nơi mà vốn chuộng ca kịch hơn), và hóa ra trở nên rất phổ biến trên kịch trường Việt Nam, đặc biệt là miền Bắc. Riêng trường hợp Hổ phù còn được dựng lại thành tuồng cổ, tuồng cải lươngchèo. Có lần vào cuối thập niên 1990, chương trình Sân Khấu VTV1 cũng chiếu thoại kịch này do Nhà hát Kịch Việt Nam diễn, vở này cũng vừa giành huy chương vàng hội diễn sân khấu toàn quốc năm đó.

Theo truyền thuyết, hồi tản cư ở thủ đô kháng chiến Trùng Khánh, căn gác trọ của Quách Mạt Nhược - lúc ấy có công việc chính là dịch sách và soạn chuyên luận - ở kế bên một dãy phố buôn đồ cổ, nên những khi rảnh ông thường ra ngắm. Một hôm, Đỉnh Đường tiên sinh bắt gặp hai mảnh đồng đen đẽo hình hổ, mặt ngoài có chữ đại triện Tần Dương Lăng hổ phù (秦阳陵虎符),[4] nhưng đương thời không ai biết nghĩa gì. Ông hỏi giá, người bán đáp "10 tệ" ; đận ấy vì chiến sự leo thang nên vật giá đang lạm phát rất cao, vậy nên 10 tệ có thể đổi lấy 100 kí gạo. Thế nhưng vì thị hiếu nghiên cứu văn hiến cổ truyền, Quách Mạt Nhược vẫn nghiến răng mua. Cũng vì giai đoạn này vùng trung lưu Hoàng Hà chịu hạn nặng nên dân chết đói kể đến hàng vạn, những kẻ sống sót phải di tản nhanh về Tây Vực vốn cũng cằn cỗi chẳng kém, cũng là để tránh tai họa chiến tranh. Giới gian thương Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam cũng tung ra "vốn tự có" không chỉ lương thực mà cả cổ vật, treo cái giá cắt cổ để kiếm lời trên xương máu đồng bào. Nhưng cũng nhờ thế, nhiều di vật cổ đại mới có cơ hội ra khỏi vùng tối lịch sử.

Theo dật sự, chiếc bùa hình hổ nằm trong số tín vật Tần Thủy Hoàng cho làm hàng trăm cái phát cho tướng lĩnh, về sau các bại tướng đem dâng Hán vương Lưu Bang để chuộc tính mạng. Khi chính phủ cộng hòa nhân dân thành lập, các đoàn khảo cổ cũng khai quật được thêm nhiều di vật tương tự, còn chiếc bùa họ Quách được hiến cho quốc lập bác vật quán bảo tồn. Ngày nay, chiếc hổ phù này thường được coi là nguồn cội vở thoại kịch. Vậy hổ phù là cái gì ? Từ triều Tây Châu do giặc cướp nổi lên như ong, nên nhà vua sai làm cái bùa hình hổ bằng đồng. Theo thông lệ, hổ phù hoặc binh phù là tín vật của vua và tượng trưng cho quyền lực nhà vua, nên hễ người nào được vua ban thì có thể tùy nghi điều binh khiển tướng ở nơi xa. Cũng vì thế nên đôi lúc có truyện, hàng quân tan vỡ vì tướng cầm đầu đánh rơi hổ phù. Lịch sử hồ phù có nhẽ kết thúc ở triều Tống, sau này triều Nguyên là ngoại tộc lên thì không tiếp thu lệ ấy nữa, nên nó chỉ còn là kí ức trong thư tịch và cũng rất ít người biết. Chiếc hổ phù được coi đẹp nhất là ở di chỉ lăng Văn Vương nhà Triệu nước Nam Việt. Trước đây tỉnh Thái Bình có địa danh Phù Ngự (符御村), xưa là thái ấp quan thái sư Trần Thủ Độ, cửa lăng có làm con hổ bằng đá mà đuôi thì vuông, kì thực cũng chỉ là mô phỏng hổ phù, với cái ý rằng ông làm quan đầu triều và trên ông chỉ có vua mà thôi. Cũng nói thêm, thời Tống còn chế ra ngư phù hay còn gọi ngư đại, vốn là tín vật bằng gỗ buộc chỉ thao bên hông các quan lớn, ngư phù càng to đẹp thì chức vụ càng cao. Các quan An Nam khi đi sứ nước Tống thường khoe ngư phù xi vàng khiến ai nấy trầm trồ, duy rằng vì lối ăn chơi xa hoa đó mà về sau văn hiến Lý-Trần suy vong. Nhưng đó là lịch sử... Tác gia Quách Mạt Nhược dựa theo một điển tích trong Sử kí (史記•魏公子列傳), kể về sự đời Tín Lăng quân nước Ngụy - một trong Chiến Quốc tứ công tử. Mà ở trong ca kịch cổ điển, truyện Tín Lăng quân thường được gọi Thiết phù cứu Triệu (竊符救趙). Nhân vật Tín Lăng thoát li lịch sử để trở nên hình tượng hóa tín nghĩa, cho nên sự kiện Hàm Đan chi chiến cũng không nhất thiết nội hàm lịch sử gì nữa mà chỉ là cái cớ để phát huy cá tính mà thôi.

Tập tin:Qin State Qin Dynasty Bronze Tiger Tally (9930714396).jpg
Chiếc hổ phù 10 tệ của Đình Đường tiên sinh.

Nguyên rằng, năm đó quân Tần vây kinh sư Hàm Đan, Bình Nguyên quân nước Triệu (tỉ trượng Tín Lăng) xin Ngụy ra quân cứu viện. Ngụy An Ly vương (bào huynh Tín Lăng) mới đầu sai tướng Tấn Bỉ sang giúp, nhưng vừa đến biên thùy thì Tần sứ dọa xua quân sang đánh nốt nước Ngụy. Tấn Bỉ sợ nên án binh bất động. Sau đó Sở Khảo Liệt vương theo hợp tung cũng sai Xuân Thân quân đi, nhưng cũng bị Tần dọa, phải nằm yên ở ngả ba đường. Bình Nguyên quân lần này liều nhờ Tín Lăng quân, dù chẳng còn mấy hi vọng. Tín Lăng cùng hào sĩ giục Ngụy vương, song An Ly cả sợ nên cũng không đá động. Cuối cùng, Tín Lăng quân lập mưu ám sát đại tướng Tấn Bỉ, đem binh phù đi giải vây cho nước Triệu. Ở sát chân thành Hàm Đan, đạo quân Tần dưới trướng tướng Vương Lăng bị liên quân Ngụy-Sở-Triệu đánh tan tác. Tín Lăng quân tự bấy được biệt đãi ở Triệu còn hơn nước Ngụy, đến thời Hán Cao Tổ còn lập bài vị thờ ông làm thượng đẳng phúc thần.

Thập niên 1930-40, thiên tai và cả họa xâm lăng của quân Nhật khiến Trung Hoa hoàn toàn tan rã. Nhưng trong lúc đó giữa người Trung Hoa với nhau vẫn đầy hiềm khích, tiếng là đoàn kết kháng Nhật cứu quốc nhưng thực ra vẫn ngầm triệt hạ nhau, như là hình tượng lục quốc dù đã hợp tung nhưng khi gặp tai họa thì bo bo giữ thân mà thôi. Thế cho nên, chí ít kịch phẩm này cũng là sự đả kích thói quen đọc văn chương cổ điển để giải sầu rất thịnh hành ở Á Đông, trong khi chẳng áp dụng được chút nào vào thực tế quanh mình, tóm lại là quen thói tầm chương trích cú mà chẳng hiểu gì.

Quách Mạt Nhược có thời gian ngắn làm hiệu trưởng Trường nghệ thuật mang tên Lỗ Tấn. Sau ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc. Là nhà sử học chuyên về cổ sử Trung Quốc, Quách Mạt Nhược có nhiều cống hiến trong việc nghiên cứu văn tự cổ (ghi trên mai rùa xương thú) và thể chế xã hội chiếm nô. Ông còn là viện trưởng đầu tiên Viện khoa học xã hội Trung Quốc trong một thời gian dài. Ông từng bị phê đấu trong thời kì Cách mạng Văn hóa.

Tập tin:Soong and Guo accept Stalin Peace Prize.jpg
Tác gia Ilya Ehrenburg trao kỉ niệm chương Hòa bình Stalin cho phu nhân Tống Khánh Linh và tác gia Quách Mạt Nhược.

Quách Mạt Nhược còn từng là Phó chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới. Năm 1951, ông được tặng Giải thưởng Hòa bình Stalin.

Năm 1978, khi nằm trên giường bệnh ở Tổng y viện Bắc Kinh, Quách Mạt Nhược hay tin Mao chủ tịch băng hà và Tứ Nhân Bang bị đánh đổ, bèn cảm tác bài Đè bẹp Tứ Nhân Bang[5] (水调歌头·粉碎四人帮) như sau :

Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Nghe tin mà phấn chấn,)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Tứ Nhân Bang tàn rồi.)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Văn học đã lưu manh,)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Chính trị thì dốt nát.)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Toàn xui nguyên giục bị,)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Tinh những kẻ yêu tà.)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Đem chổi sắt quét sạch !)

Sự nghiệp

Theo một số thống kê sơ bộ, tác gia Quách Mạt Nhược đã xử dụng khoảng trên dưới 50 bút danh trong suốt hành trình văn nghệhọc thuật : 沫若、麦克昂、郭鼎堂、石沱、高汝鸿、汾阳主人、竹君主人、定甫、夏社、沫、爱牟、鼎堂、高浩然、吴诚、林守仁、杜顽庶、杜荃、杜衎、坎人、易坎人、石沱生、陈启修、李季、阿和乃古登志、蒙其外史、王假维、郭爱牟、蒙其生、蒙侄、谷人、郭石沱、佐藤和夫、安娜、鼎、杨伯勉、杜衍、白圭、戎马书生、牛何之、羊易之、丁汝成、龙子、克拉克、江耦、有孤、藤子丈夫、佐藤贞吉、郭麦弱、高鸣、于硕等.[6][7]

Liệt biểu trứ tác Đỉnh Đường tiên sinh theo ấn phẩm A Selective Guide to Chinese Literature, 1900-1949, do bà Milena Doleželová-Velingerová hiệu đính.[8]

Tập tin:Guomoruo.JPG
Tượng kịch tác gia Quách Mạt Nhược tại công viên Thập Sát Hải.
Tập tin:上海多伦路文化名人街郭沫若足印.JPG
Dấu chân Quách Đỉnh Đường tại cái nôi văn nghệ Thượng Hải.
Tập tin:郭鼎堂.png
Thư pháp Đỉnh Đường tiên sinh.
Tập tin:Stele of Guo Moruo in Maidashi Campus of Kyushu University.jpg
Bia tưởng niệm Đỉnh Đường tiên sinh trong Cửu Châu đại học hiệu viên.

Kịch, văn xuôi, văn vần

  • 1921: Nữ thần : Kịch khúc thi ca tập (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).).[9] English translation: Selected Poems from the Goddesses, A. C. Barnes and John Lester, tr., Beijing: Foreign Languages Press, 1958.[10]
  • 1926, 1932: Cây trám (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Shanghai: Chuangzao she chubanshe bu, 1929 (book series: Chuangzao she congshu).[11]
  • 1928, 1932: Lá rơi : Mạt Nhược tiểu thuyết hí khúc tập (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Shanghai : Xin zhong guo shu ju, 1932.[12]
  • 1936: Khuất Nguyên : Ngũ mạc hồi (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).);.[13] English translation: Chu Yuan: A Play in Five Acts, Yang Xianyi and Gladys Yang, tr., Beijing: Foreign Languages Press, 1953; 2nd edition, 1978; Honolulu: University Press of the Pacific, 2001.[14]
  • 1946: "Under the Moonlight", in: The China Magazine (formerly China at War), June 1946; reprinted in: Chi-Chen Wang, ed., Stories of China at War, Columbia University Press, 1947; reprinted: Westport, Conn. : Greenwood Press, 1975.[15][16]
  • 1947: Tiếng cười dưới đất đen (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Shanghai and Beijing: Hai yan shu dian[17] - selected stories.
  • 1959: Hồng kì ca dao (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Beijing Shi: Hongqi zhazhi she (= Red Flag Magazine), 1959; English translation: Songs of the Red Flag, Yang Zhou, tr., Peking, Foreign Languages Press, 1961.[18]

Truyện kí

  • 1947: Thời thanh niên (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Shanghai.[19]
    • French translation: Autobiographie : mes années d'enfance, tr. Pierre Ryckmans, Paris, Gallimard, 1970.[20]
    • German translation: Kindheit : Autobiographie, tr. Ingo Schäfer, Frankfurt am Main: Insel, 1981.[21]
  • Before and After the Revolution (Fanzheng qianhou).
  • 1930, 1931: Con mèo mun ngồi trên tháp (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Shanghai, 1930.[22] - often referred to just as Black Cat (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).).
  • The First Outing of Kuimen (Chuchu Kuimen).
  • My Student Years (Wode xuesheng shidai).
  • 1932: Mười năm sáng tạo (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Shanghai : Xian dai shu ju, 1932.[23]
  • 1938: Mười năm sáng tạo - tục biên (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Shanghai : Bei xin shuju. (book series: Chuangzuo xin kan).
  • On the Road of the Northern Expedition (Beifa Tuci).
  • ?: Hồng ba khúc (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). / Hongbo qu).

Khảo cứu

  • 1935, rev. ed., 1957: 兩周金文辭大系圖彔攷釋 / Liang Zhou jin wen ci da xi tu lu kao shi (Lưỡng Châu kim văn từ đại hệ đồ lục khảo thích), Beijing: Ke xue chu ban she, 1957 (考古学专刊. 甲种 = Archaeological monograph series).[24]
  • 1950: "Report on Culture and Education", in: The First Year of Victory, Peking, Foreign Languages Press.[25]
  • 1951: Culture and Education in New China, Peking : Foreign Languages Press, 1951 (joint authors: Chien Chun-jui, Liu Tsun-chi, Mei Tso, Hu Yu-chih, Coching Chu and Tsai Chu-sheng).[26]
  • 1982: 甲骨文合集 Jiaguwen Heji (Giáp cốt văn hợp tập), Shanghai: Zhonghua shuju, 1978-1983, 13 volumes (edited with Hu Houxuan)[27] - collection of 41,956 oracle bone inscriptions from Yinxu.

Phiên dịch

Gia đình

  • Nguyên phối: Trương Quỳnh Hoa (张琼华, ? - 1980), kết hôn năm 1912 trong một cuộc hôn nhân sắp đặt. Kết hôn được năm ngày thì Quách Mạt Nhược bỏ nhà đi, Trương Quỳnh Hoa cứ như vậy thủ tiết tại gia đình chồng cho đến khi qua đời.
  • Tập tin:Guo's family.jpg
    Quách Mạt Nhược, Sato Tomiko cùng con cái
    Kế phối: Sato Tomiko (をとみ/ 佐藤富子/ Tá Đằng Phú Tử, 1894 - 1995), người Nhật Bản, tên Trung là Quách An Na (郭安娜), con gái đạo sĩ Uemon (卯右卫门, Mão Hữu Vệ Môn) và Sato Hajime, con gái Nam tước Sato Shosuke - nhà nông học hiện đại đầu tiên của Nhật Bản, Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Hoàng gia. Kết hôn năm 1916, vì vậy mà đoạn tuyệt với cha mẹ, ly thân năm 1937 khi Chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ. Về sau, bà cùng các con đến Đại Liên theo lời mời của Thủ tướng Chu Ân Lai, được bầu làm Ủy viên Chính hiệp Toàn quốc khóa 6. Năm 1974, bà quay lại Nhật Bản, sinh sống tại thành phố Ichikawa cho đến khi qua đời.
    • Trưởng tử Quách Hòa Phu (郭和夫, 1917 - 1994), nhà hóa học thuộc Viện Khoa học Trung Quốc.
    • Nhị tử Quách Bác (郭博, 1920 - 2010), Kiến trúc sư kiêm nhiếp ảnh gia, từng giữ chức Tham sự Văn phòng Tham sự Chính phủ Nhân dân Thành phố Thượng Hải.
    • Tam tử Quách Phục Sinh (郭复生, 1922 - 2004), Kỹ sư phục vụ tại Viện Động vật thuộc Viện Khoa học Trung Quốc.
    • Trưởng nữ Quách Thục Vũ (郭淑瑀, 1925 - 1984), kết hôn với Lâm Ái Tín (林爱信)
    • Tứ tử Quách Chí Hồng (郭志鸿, 1932 - 2024), Giáo sư tại Học viện Âm nhạc Trung ương.
  • Tình nhân: Vu Lập Cẩm (于立忱, ? - 1937), từng làm phóng viên của tờ Đại Công Báo, quen biết năm 1934, treo cổ tự sát không lâu sau khi trở về Trung Quốc.
  • Tam kế phối: Vu Lập Quần (于立群, ? - 1974), em gái Vu Lập Cẩm, kết hôn không lâu sau cái chết của chị, về sau cũng treo cổ tự sát.
    • Ngũ tử Quách Hán Anh (郭汉英, 1939 - 2010), tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa, từng là nghiên cứu viên tại Viện Vật lý Lý luận thuộc Viện Khoa học Trung Quốc.
    • Nhị nữ Quách Thứ Anh (郭庶英, sinh năm 1940), tốt nghiệp Đại học Khoa học kỹ thuật Trung Quốc, hiện là Tổng giám đốc một trung tâm phát triển kinh tế tại Bắc Kinh.
    • Lục tử Quách Thế Anh (郭世英, 1942 - 1968), tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, về sau trong Cách mạng Văn hóa bị Hồng vệ binh của Đại học Nông nghiệp Trung Quốc bắt giữ và tra tấn dã man, sau đó rơi từ tầng 4 xuống đất tử vong.
    • Thất tử Quách Dân Anh (郭民英, 1943 - 1967), tốt nghiệp Học viện Âm nhạc Trung ương, sau gia nhập lực lượng Hải quân và tự sát trong làn sóng Cách mạng Văn hóa.
    • Tam nữ Quách Minh Anh (郭平英, sinh năm 1946), tốt nghiệp Đại học Nhân dân Trung Quốc, hiện giữ chức Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lịch sử thuộc Viện Khoa học Xã hội kiêm Giám đốc Nhà lưu niệm Quách Mạt Nhược.
    • Bát tử Quách Kiến Anh (郭建英, sinh năm 1953), tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ.

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ "Raise a glass to painter Fu Baoshi, MA". www.chinadaily.com.cn. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2018.
  2. ^ David Tod Roy, "Kuo Mo-jo: The Early Years". Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts. 1971. No ISBN.
  3. ^ The Westernization of Chinese Theatre (CCTV)
  4. ^ Guo, Moro (2002). 两周金文辭大系考釋 [Corpus of Inscriptions on Bronzes from the Two Zhou Dynasties] (bằng tiếng Trung). 科学出版社. ISBN 978-7-03-010656-8.
  5. ^ 郭沫若 (1976年10月21日). "水调歌头粉碎四人帮" (bằng tiếng Trung). 大快人心事/揪出四人帮/政治流氓文痞/狗头军师张/还有精生白骨/自比则天武后/铁帚扫而光/篡党夺权者/一枕梦黄梁/野心大/阴谋毒/诡计狂/真是罪该万死/迫害红太阳/接班人是俊杰/遗志继承果断/功绩何辉煌/拥护华主席/拥护党中央 {{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần |magazine= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  6. ^ 彭放 (1979). "郭沫若的笔名和别名". 社会科学战线. Số 04. ISSN 0257-0246. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  7. ^ 李文遂, 王泽君 (1998). "郭沫若笔名、别名、化名汇释". 中国郭沫若研究会专题资料汇编. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  8. ^ Doleželová-Velingerová, Milena; và đồng nghiệp, biên tập (1988–1990). [[[:Bản mẫu:Google books]] A Selective Guide to Chinese Literature, 1900–1949]. Quyển 1–4. Leiden: E. J. Brill. {{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  9. ^ Nü shen : ju qu shi ge ji (Book, 1921), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  10. ^ Selected poems from The Goddesses (Book, 1984), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  11. ^ Ganla (Book, 1929), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  12. ^ Xiao pin wen yan jiu (Book, 1932), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  13. ^ Chʻü Yüan (book, 1936), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  14. ^ Chu Yuan : a play in five acts (Book, 2001), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  15. ^ Kuo Mo-jo, "Under the Moonlight", The China Magazine (formerly China at War), June 1946; reprinted in: Chi-Chen Wang, ed., Stories of China at War, Columbia University Press, 1947; reprinted: Westport, Conn.: Greenwood Press, 1975. Retrieved 15 June 2022.
  16. ^ Chi-Chen Wang, ed., Stories of China at War, Westport, Conn.: Greenwood Press, 1975. Retrieved 15 June 2022.
  17. ^ Di xia de xiao sheng (Book, 1947), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  18. ^ Songs of the Red Flag (Book, 1961), worldcat. Retrieved 15 June 2022.
  19. ^ Wo de tong nian (Book, 1947), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  20. ^ Autobiographie mes années d'enfance (Book, 1970), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  21. ^ Kindheit : Autobiographie (Book, 1981), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  22. ^ Hei mao yu ta (Book, 1931), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  23. ^ Chuangzao shi nian (book, 1932), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  24. ^ "Guo Moruo" entry, Merriam Webster's Encyclopedia of Literature, 1995 edition.
  25. ^ The First Year of Victory (Book, 1950), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  26. ^ Culture and Education in New China (book, 1951), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  27. ^ [Jiaguwen heji Jiaguwen Heji (Book, 1978)], worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  28. ^ Appeal and Resolutions of the First Session of the World Peace Council : Berlin ; February 21-26, 1951 ; Kuo Mo-jo's Speech at the World Peace Council (Book, 1951), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  29. ^ The People's New Literature : Four Reports at the First All-China Conference of Writers and Artists (Book, 1951), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.
  30. ^ Cho Wen-chün: A Play in Three Acts (Book, 1974), worldcat.org. Retrieved 15 June 2022.

Liên kết

Tài liệu

  • 1974: Cho Wen-chün: A Play in Three Acts (abridged), in: Straw Sandals: Chinese Short Stories, 1918-1933, Harold R. Isaacs, ed., Cambridge, Mass.: MIT Press.[1]
  • Chen Xiaoming, From The May Fourth Movement to Communist Revolution: Guo Moruo and the Chinese Path to Communism, Albany, New York: State University of New York Press, 2007.
  • Arif Dirlik, "Kuo Mo-jo and Slavery in Chinese History", in: Arif Dirlik, Revolution and History : The Origins of Marxist Historiography in China, 1919-1937, Berkeley, CA : University of California Press, 1978, pp. 137–179. Also online here (UC Press E-Books Collection, 1982-2004).
  • Robert Elegant, "Confucius to Shelley to Marx: Kuo Mo-jo", in: Robert Elegant, China's Red Masters, New York: Twayne Publishers, 1951; reprinted: Westport, Connecticut: Greenwood Press, 1971
  • Gudrun Fabian, "Guo Moruo: Shaonian shidai", 4 November 2020, in: Kindlers Literatur Lexikon, Living Edition (i.e. online edition), Heinz Ludwig Arnold, ed.
  • Marian Galik, The Genesis of Modern Chinese Literary Criticism (1917–1930), Routledge, 1980 - includes chapter: "Kuo Mo-jo and his Development from Aesthetico-impressionist to Proletarian Criticism"
  • James Laughlin, New Directions in Prose and Poetry 19: An Anthology, New York: New Directions, 1966.
  • Jean Monsterleet, Sommets de la littérature chinoise contemporaine, Paris: Editions Domat, 1953. "Includes a general overview of the literary renaissance from 1917-1950, as well as sections on Novel (with chapters on Ba Jin, Mao Dun, Lao She and Shen Congwen), Stories and Essays (with chapters on Lu Xun, Zhou Zuoren, Bing Xin, and Su Xuelin), Theater (Cao Yu, Guo Moruo), and Poetry (Xu Zhimo, Wen Yiduo, Bian Zhilin, Feng Zhi, and Ai Qing). Source: General Literary Studies 1 Lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại Wayback Machine
  • Jaroslav Prusek, ed., Studies in Modern Chinese Literature, Ostasiatische Forschungen, Schriften der Sektion fur Sinologie bei der Deutschen Akademie der Wissenschaften zu Berlin, Heft 2. Berlin (East), Akademie Verlag, 1964
  • David Tod Roy, Kuo Mo-jo: The Early Years, Cambridge: Mass., Harvard University Press, 1971 (Harvard East Asian series, 55)
  • Shi Shumei, The Lure of the Modern : Writing Modernism in Semicolonial China, 1917-1937, Berkeley and Los Angeles, California: University of California Press, 2001, especially chapter "Psychoanalysis and Cosmopolitanism: The Work of Guo Moruo"
  • Yang Guozheng, "Malraux et Guo Moruo: deux intellectuels engagés", in: Présence d'André Malraux No. 5/6, Malraux et la Chine: Actes du colloque international de Pékin 18, 19 et 20 avril 2005 (printemps 2006), pp. 163–172.
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). = Journal of Guo Moruo Studies, Century Journals Project - Literature/History/Philosophy (Series F): 1987 - 1993, at ebscohost.com

Tư liệu

Bản mẫu:Viện trưởng Viện Khoa học Trung Quốc

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên worldcat.org