Cá chép
| Bản mẫu:Taxobox name | |
|---|---|
| Tập tin:Cyprinus carpio 2008 G1 (cropped).jpg | |
| Tình trạng bảo tồn | |
| Bản mẫu:Bảng phân loại/loài | |
| Bản mẫu:Bảng phân loại/loài | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Actinopterygii |
| Bộ (ordo) | Cypriniformes |
| Họ (familia) | Cyprinidae |
| Chi (genus) | Cyprinus |
| Loài (species) | C. carpio |
| Danh pháp hai phần | |
| Cyprinus carpio (Linnaeus, 1758) | |
| Bản mẫu:Leftlegend Bản mẫu:Leftlegend | |
Cá chép (danh pháp khoa học: Cyprinus carpio) còn được gọi là cá chép châu Âu, cá chép Á Âu, là một loài cá nước ngọt phổ biến ở các vùng nước giàu dinh dưỡng trong các hồ và sông lớn ở châu Âu và châu Á.[1][2] Các quần thể hoang dã bản địa được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature, viết tắt là IUCN) xếp vào nhóm dễ bị tổn thương có nguy cơ tuyệt chủng,[3] nhưng loài này cũng đã được thuần hóa và du nhập vào các môi trường trên toàn thế giới, và thường được coi là loài xâm lấn,[1] được đưa vào Danh sách 100 loài xâm hại mạnh nhất thế giới. Tên của loài này được đặt tên cho họ cá chép, Cyprinidae.
Phân loại
Phân loài điển hình là Cyprinus carpio carpio, có nguồn gốc từ phần lớn châu Âu (đặc biệt là các sông Danube và Volga).[1][4]
Phân loài Cyprinus carpio haematopterus (cá chép Amur), có nguồn gốc từ Đông Á, đã được công nhận trong quá khứ,[4] nhưng các nhà chức trách gần đây coi nó là một loài riêng biệt dưới tên gọi này Cyprinus rubrofuscus.[3][5] Cá chép thông thường và nhiều loài cá chép châu Á họ hàng ở dạng thuần chủng có thể được phân biệt bằng đặc điểm hình thái và cũng khác nhau về di truyền, nhưng chúng có khả năng giao phối với nhau.[3][6] Cá chép thường cũng có thể lai giống với cá vàng (Carassius auratus); kết quả là ra cá chép Kollar.[7][8] Một giống lai nhân tạo khác là cá chép ma, được lai tạo giữa cá chép thường và cá koi Purachina Nhật Bản. Sự đa dạng về màu sắc khiến cá chép ma trở thành một loài cá thương mại phổ biến.[9]
Lịch sử
Cá chép thường có nguồn gốc từ châu Âu và châu Á, và đã được du nhập đến mọi nơi trên thế giới ngoại trừ vùng cực. Chúng là loài cá được du nhập nhiều thứ ba trên toàn thế giới,[10] và lịch sử chăn nuôi loài cá này bắt nguồn từ thời La Mã.[11] Cá chép được sử dụng làm thực phẩm ở nhiều khu vực, nhưng cũng bị coi là loài gây hại ở một số vùng do khả năng cạnh tranh vượt trội so với các quần thể cá bản địa. Loài cá chép thông thường nguyên thủy được tìm thấy ở vùng châu thổ nội địa của sông Danube khoảng 2000 năm trước, có hình dạng giống ngư lôi và màu vàng óng. Nó có hai cặp râu và vảy có hoa văn dạng lưới. Mặc dù ban đầu loài cá này được nuôi để khai thác, nhưng sau đó người La Mã ở miền nam Trung Âu đã nuôi chúng trong các ao lớn được xây dựng đặc biệt (được xác minh bằng việc phát hiện hài cốt cá chép thông thường trong các khu định cư được khai quật ở khu vực châu thổ sông Danube). Khi nuôi trồng thủy sản trở thành một ngành nông nghiệp có lợi nhuận, người ta đã nỗ lực nuôi trồng loài vật này, và các hệ thống nuôi trồng nhanh chóng bao gồm cả ao sinh sản và ao nuôi.[12] Phạm vi phân bố tự nhiên của cá chép thường cũng trải rộng đến Biển Đen, Biển Caspi và Biển Aral.
Cả hai phân loài châu Âu và châu Á đều đã được thuần hóa.[4] Ở châu Âu, việc thuần hóa cá chép để làm cá thực phẩm được các tu sĩ truyền bá từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 16. Các dạng cá chép hoang dã đã đến vùng châu thổ sông Rhine vào thế kỷ 12, có lẽ với sự trợ giúp của con người.[13] Các biến thể phát sinh trong quá trình thuần hóa bao gồm cá chép gương, với vảy lớn, giống như gương (gương tuyến tính – không có vảy ngoại trừ một hàng vảy lớn chạy dọc theo đường bên; có nguồn gốc từ Đức), cá chép da (hầu như không có vảy ngoại trừ gần vây lưng), và cá chép có vảy hoàn toàn. Cá chép Koi (錦鯉 (nishikigoi trong tiếng Nhật, 鯉魚 (bính âm: lĭ yú) trong tiếng Trung) là một giống cá cảnh được thuần hóa có nguồn gốc từ vùng Niigata của Nhật Bản vào những năm 1820.[14] nhưng loài bố mẹ của nó có khả năng là cá chép Đông Á, có thể là C. rubrofuscus.[3][5]
Cá chép kính
Cá chép kính, cá chép gương hay cá chép Israeli,Bản mẫu:Refn là một loại cá nhà thường được tìm thấy ở châu Âu nhưng được du nhập hoặc nuôi trồng rộng rãi ở những nơi khác. Chúng là một giống của cá chép thông thường (Cyprinus carpio) được phát triển thông qua chọn lọc giống. Tên gọi "cá chép kính" bắt nguồn từ việc vảy của chúng giống như kính.
Nhập cư vào Bắc Mỹ
Cá chép, có nguồn gốc từ khu vực Á - Âu, được đưa vào Bắc Mỹ với một sự quảng cáo rùm beng như là "loài cá tuyệt hảo nhất thế giới" năm 1877. Chuyến đầu tiên chở 345 cá chép sống được thả xuống ao hồ ở công viên đồi Druid thuộc Baltimore, Maryland. Sau này, lượng cá dư thừa được thả ở các hồ Babcock tại Công viên Đài tưởng niệm, Washington, D.C.. Đây là dự án của Rudolf Hessel, một người nuôi cá cho chính quyền Mỹ. Đây là sự quảng cáo có lợi và thực tế cá chép đã được giới thiệu rộng rãi trên toàn nước Mỹ.
Kết quả của việc giới thiệu loài ngoại lai này cho thấy cá chép nhanh chóng thích ứng với môi trường mới, chúng nhanh chóng chiếm lĩnh các khu vực sinh sống. Chúng ăn các loại rong trong ao hồ, nhưng với số lượng không nhiều như người ta vẫn đồn đại. Người ta cũng cho rằng chúng ăn trứng của các loại cá khác. Đây chỉ là điều ngụy tạo do không có chứng cứ chính xác về điều này. Cá chép làm vẩn đục các ao hồ là đúng; tuy nhiên, vẫn còn đáng ngờ về việc chúng làm đục nước đến mức đủ để làm tổn hại đến các loại cá khác. Thịt của chúng có vị thơm ngon khi nuôi trong môi trường nước sạch, nhưng vẫn có lẫn xương.
Mặc dù có giá trị trong dinh dưỡng và tiêu khiển (câu cá), nhưng tại Hoa Kỳ và Úc, cá chép không được yêu thích. Cá chép bị coi là mối đe dọa đối với các loại cá bản địa. Tuy nhiên, số lượng và chủng loại cá bản địa đã suy giảm trước khi cá chép nhập cư. Dưới áp lực của nhu cầu cá nước ngọt trên thực tế là nguyên nhân để nhập khẩu cá chép. Đơn giản là cá chép có khả năng sinh sống trong những môi trường đã bị ô nhiễm sau nhiều năm không điều chỉnh lượng chất thải công nghiệp tốt hơn so với nhiều loại cá bản địa dễ nhạy cảm. Việc tiêu diệt cá chép thông thường là bỏ thuốc độc cho chết hết cá trong ao hồ, sau đó khử trùng và thả lại các loại cá khác thích hợp hơn. Do sự chịu đựng tốt của cá chép, biện pháp này hầu như không đem lại hiệu quả.
Năm 2005, giải vô địch thế giới về cá chép được tổ chức tại sông Saint Lawrence ở tiểu bang New York. Các đội từ khắp thế giới sẽ thi đấu trong 5 ngày với phần thưởng trị giá $1.000.000 nếu bất kỳ người thi đấu nào phá được kỷ lục của bang New York là 50 lb 4oz (khoảng 22.82 kg).
Hình ảnh
Xem thêm
- Danh sách các loài cá cảnh nước ngọt
- Cá giếc Nhật
- Cá tạp
- Benson, một con cá chép nổi tiếng
- Cá trôi đen
Tham khảo
- ^ a ă â "I Challenge Thee". www.fishbase.org. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2026.
- ^ "http://www.arkive.org/common-carp/cyprinus-carpio/info.html". www.arkive.org (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong(trợ giúp)|title= - ^ a ă â b Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có têniucn status 19 November 2021 - ^ a ă â Zhou, Jian Feng; Wu, Qing Jiang; Ye, Yu Zhen; Tong, Jin Gou (ngày 1 tháng 9 năm 2003). "Genetic Divergence Between Cyprinus carpio carpio and Cyprinus carpio haematopterus as Assessed by Mitochondrial DNA Analysis, with Emphasis on Origin of European Domestic Carp". Genetica (bằng tiếng Anh). Quyển 119 số 1. tr. 93–97. doi:10.1023/A:1024421001015. ISSN 1573-6857.
- ^ a ă Craig, J.F., eds. (2015). Freshwater Fisheries Ecology. p. 297. Wiley-Blackwell. Bản mẫu:ISBN.
- ^ Zhou, J., Wu, Q., Wang, Z. and Ye, Y. (2004). Molecular Phylogenetics of Three Subspecies of Common carp Cyprinus Carpio, based on sequence analysis of cytochrome b and control region of mtDNA. Journal of Zoological Systematics and Evolutionary Research 42(4): 266–269.
- ^ Taylor, J., R. Mahon. 1977. Hybridization of Cyprinus carpio and Carassius auratus, the first two exotic species in the lower Laurentian Great Lakes. Environmental Biology Of Fishes 1(2):205-208.
- ^ "ERRP | Expired Registration Recovery Policy". www.tnfish.org. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2026.
- ^ "Carp - Ghost/Koi". Farnham Angling Society. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2023.
- ^ Courtenay, Walter R.; Welcomme, R. L. (ngày 23 tháng 5 năm 1989). "International Introductions of Inland Aquatic Species". Copeia. 1989 (2): 520. doi:10.2307/1445460. ISSN 0045-8511. JSTOR 1445460.
- ^ Balon, Eugene K. (1974), "Probable Origin of Domestication", Domestication of the carp Cyprinus caprio L., Royal Ontario Museum, tr. 16–18
- ^ "Balon, E. K. (2004). About the oldest domesticates among fishes. Journal of Fish Biology, 65 (Supplement A): 1–27. In Carp Fishing Science". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Aanvullend Archeologisch Onderzoek op terrein 9 te Houten-Loerik, gemeente Houten (U.)" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2014.
- ^ "Ray Jordan Koi History". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2009.
Liên kết ngoài
- Cyprinus carpio Arkive
- Bản mẫu:SealifePhotos
- Carp herpesvirus - Managing Water Ecosystems - CSIRO
- Carp Fishingeye - information about Mirror carp fishing
- Galleries of Mirror & Common carp & UK carp fishing venues
- Photographs of Mirror carp caught at fishing venue in France Lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013 tại Wayback Machine
- The British Record Mirror Carp
Bản mẫu:Cá chép Bản mẫu:Thủy sản thương phẩm Bản mẫu:Taxonbar
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Trang có lỗi chú thích
- Lỗi CS1: liên kết ngoài
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Chi Cá chép
- Cá chép
- Loài an toàn theo NatureServe
- Cá thương mại
- Họ Cá chép châu Á
- Cá được mô tả năm 1758
- Cá Triều Tiên
- Cá nước ngọt Bắc Mỹ
- Cá nước ngọt New Zealand