Cao Cương (tiếng Trung: 高岗; Wade–Giles: Kao Kang; 25 tháng 10 năm 1905 – 17 tháng 08 năm 1954), tên thật là Cao Đối Đức, tự Thục Khánh, là một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tại huyện Hành Sơn, tỉnh Thiểm Tây,[1] ông là một trong những người sáng lập Hồng quân và khu căn cứ cách mạng liên tỉnh Thiểm Tây - Cam Túc.[2] Trong thời kỳ Nội chiến Trung Quốc và những năm đầu thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cao Cương giữ nhiều chức vụ cốt cán của quốc gia, bao gồm Phó Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ươngChủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.

Cao Cương
高岗
Tập tin:GaoGang.jpg
Chức vụ
 Trung Quốc
Phó Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương
Nhiệm kỳTháng 9 năm 1949 – Tháng 8 năm 1954
Tiền nhiệmChức vụ thành lập
Kế nhiệmChức vụ bãi bỏ
 Trung Quốc
Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
Nhiệm kỳTháng 11 năm 1952 – Tháng 2 năm 1954
Tiền nhiệmChức vụ thành lập
Kế nhiệmLý Phú Xuân
Nhiệm kỳTháng 4 năm 1949 – Tháng 1 năm 1953
Tiền nhiệmChức vụ thành lập
Kế nhiệmChức vụ bãi bỏ
Thông tin cá nhân
Sinh(1905-10-25)25 tháng 10, 1905
Mễ Chi, Thiểm Tây, Nhà Thanh
Mất17 tháng 8, 1954(1954-08-17) (48 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc
Đảng chính trịĐảng Cộng sản Trung Quốc (bị khai trừ khỏi đảng sau khi qua đời năm 1955)
Vợ
  • Dương Chi Phương
    (cưới 1925 – ly dị 1938)
  • Lý Lực Quần (cưới 1940–1954)
Con cái1 (con trai)
Alma materTrường Trung học Ngọc Lâm [zh]
Tên tiếng Trung
Phồn thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Giản thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).

Cao Cương là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc.[3] Sinh ra trong một gia đình nông dân tại Thiểm Tây, ông gia nhập đảng vào năm 1926 và trở thành một trong những nhân vật cốt cán xây dựng căn cứ du kích tại vùng Thiểm - Cam.[4][5] Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp và thời kỳ Chiến tranh chống Nhật, Cao Cương từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Chính ủy Quân đoàn 26, Giám đốc Ban Chính trị Quân đoàn 15, và Tư lệnh Bộ chỉ huy An ninh Vùng biên giới Thiểm Tây - Cam Túc - Ninh Hạ.[6] Nhờ sự tín nhiệm của Mao Trạch Đông, trong thời kỳ Nội chiến Trung Quốc, ông được thăng tiến mạnh mẽ và nắm giữ các chức vụ Bí thư Cục Đông Bắc kiêm Tư lệnh và Chính ủy Quân khu Đông Bắc. Việc tập trung toàn bộ quyền lực đảng, chính phủ và quân đội tại khu vực trọng yếu Mãn Châu đã khiến ông được mệnh danh là "Vua Đông Bắc".

Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Cao Cương giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương và Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Đông Bắc. Năm 1952, ông được điều động về Bắc Kinh và bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước vào năm 1953. Tuy nhiên, từ cuối năm 1952 đến đầu năm 1953, Cao Cương cùng Nhiêu Thục Thạch bị cáo buộc thiết lập phe phái phản đảng nhằm thách thức vị thế của Lưu Thiếu KỳChu Ân Lai.[7] Nỗ lực này thất bại, dẫn đến việc ông bị chỉ trích gay gắt trong "Vụ án khối chống Đảng Cao - Nhiêu" và bị quản thúc tại gia. Cao Cương tự sát vào tháng 8 năm 1954 và bị khai trừ khỏi Đảng vào năm 1955.

Tiểu sử

Sự nghiệp cách mạng ban đầu

Cao Cương sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại Mễ Chi, Thiểm Tây, Nhà Thanh.[1] Năm 1922, ông theo học tại Trường THPT số 1 huyện Hành Sơn (gọi tắt là "Nhất Cao"). Tại đây, chịu ảnh hưởng từ các hoạt động của những đảng viên Cộng sản, ông đã thành lập và làm Chủ tịch Hội tự quản học sinh. Do tham gia các phong trào tiến bộ, ông bị nhà trường đuổi học. Mùa xuân năm 1925, ông cùng các học sinh như Cao Đông Chí, Thạch Tả Kỳ, Vương Đông Cao, Vương Hoài Tân tổ chức phong trào học sinh tại "Nhất Cao" và có cơ hội gặp gỡ Lưu Chí Đan.[8] Mùa thu cùng năm, ông được Hiệu trưởng Đỗ Bân Thừa tiếp nhận vào học tại Trường Trung học Du Lâm. Năm 1926, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc qua sự giới thiệu của Hồ Lý Đình và Thi Duy Nhiên. Tháng 2 năm 1927, ông học tại Trường Quân sự Tây Bắc Trung Sơn thuộc Quốc dân quân của Phùng Ngọc Tường.[8] Tháng 6 năm 1927, do bị lộ hoạt động cách mạng, ông rời Trường Quân sự Trung Sơn về huyện Hành Sơn theo sự phân công của tổ chức. Mùa thu năm 1927, ông cùng Cao Á Hoa lập các trường đào tạo quần chúng và hội nông dân tại Tương Thủy Bảo cùng một số địa phương, lãnh đạo phong trào nông dân đấu tranh chống sưu thuế. Mùa xuân năm 1928, trong bối cảnh miền bắc Thiểm Tây gặp hạn hán nghiêm trọng, ông tổ chức nông dân tại Vũ Trấn và Tương Thủy nổi dậy đấu tranh chống cường hào địa phương. Đến mùa thu cùng năm, ông rời Hành Sơn chuyển sang địa bàn Gia Tiên và Vũ Bảo để vận động quần chúng chống sưu thuế, rồi tiếp tục được điều động đến huyện Phúc Sơn (nay thuộc Diên An) hoạt động bí mật. Sau khi cuộc nổi dậy năm 1928 của Lưu Chí Đan thất bại, ông cùng Lưu Chí Đan rút lui về vùng Tây Bắc Thiểm Tây để xây dựng căn cứ địa du kích.[9] Việc các thủ lĩnh du kích địa phương tại đây lần lượt hy sinh đã khiến ông trở thành biểu tượng cốt lõi của căn cứ cách mạng này.

Mùa xuân năm 1929, theo sự phân công của tổ chức, Cao Cương thâm nhập vào Huyện ủy Diêm An của Quốc dân đảng để hoạt động bí mật. Đến mùa hè, Hội nghị Hồng Thạch Giáp do Đặc ủy Thiểm Bắc của Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức đã quyết định chuyển trọng tâm công tác sang phong trào quân sự, đưa đảng viên vào hàng ngũ Quốc dân đảng nhằm xây dựng lực lượng vũ trang.[10] Sau hội nghị, Bí thư Quân ủy Đặc ủy Lưu Chí Đan đến Diêm An trực tiếp phổ biến tinh thần này cho Cao Cương. Mùa thu cùng năm, chính quyền Quốc dân đảng bắt giữ hai người chú của Cao Cương là Cao Trọng Khuê và Cao Trọng Phát làm con tin, đồng thời ép họ viết thư dụ hàng. Tuy nhiên, Cao Cương đã kiên quyết cự tuyệt để tiếp tục hoạt động cách mạng.

Mùa xuân năm 1930, Lưu Chí Đan và Tạ Tử Xương thâm nhập vào Trung đoàn 15 thuộc Lữ đoàn 8, Sư đoàn Kỵ binh 4 Quân đội Cách mạng Quốc gia đóng tại huyện Diêm Trì, Ninh Hạ để tiến hành binh vận. Hai ông vốn là bạn học và là anh em kết nghĩa của Trung đoàn trưởng Vương Tử Nguyên. Tháng 5 năm 1930, Đặc ủy Thiểm Tây - Cam Túc của Đảng Cộng sản Trung Quốc phối hợp với quân đội của Vương Tử Nguyên thành lập một học binh đoàn tại Liên Bảo, huyện Hắc Lan. Theo thỏa thuận, đơn vị này đặt dưới quyền chỉ huy quân sự của Vương Tử Nguyên nhưng do các đảng viên Cộng sản lãnh đạo; Trương Đông Gia và Cao Cương lần lượt giữ chức Đại úy và Phó đại úy. Đồng thời, một chi bộ đặc biệt bí mật của học binh đoàn cũng được thành lập do Trương Đông Gia làm Bí thư và Cao Cương làm Phó bí thư, trực thuộc Đặc ủy Thiểm Tây - Cam Túc (sau này chuyển thuộc Đặc ủy Cam Túc - Ninh Hạ - Thanh Hải). Tháng 5 năm 1930, trong Chiến tranh Trung Nguyên, Phong Vũ Hương lệnh cho cánh quân của Tô Vũ Sinh tiến đến Bình Lượng, Cam Túc để tiếp quản phòng tuyến. Tại đây, lực lượng Tô Vũ Sinh bị quân của Diệp Thành Chương (thuộc phe tiểu lãnh chúa Hoàng Đức Quý và Mã Hồng Binh) phục kích, gây tổn thất nặng nề. Sau thất bại, tàn quân của Lữ đoàn 8 và Lữ đoàn 9 ly khai khỏi Tô Vũ Sinh, rút về cố thủ tại Hạ Mã Quan, huyện Vũ Vương. Tháng 8 năm 1930, lực lượng này bị Lôi Trung Thiên sáp nhập vào Lữ đoàn 3, Sư đoàn 8 thuộc Quân đoàn Cam Túc đóng tại Lan Châu. Thạch Tử Quân làm Lữ đoàn trưởng và Vương Tử Nguyên làm Trung đoàn trưởng; đơn vị sau đó chuyển đến phòng thủ tại Tĩnh Viễn, Cam Túc. Sau khi khóa học viên đầu tiên tốt nghiệp, Cao Cương được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng đại đội học viên. Tuy nhiên, do mâu thuẫn với Lữ đoàn trưởng Thạch Tử Quân, ông sớm bị điều động về Thiểm Tây dưới lý do tuyển quân.

Mùa xuân năm 1931, Cao Cương lúc này là Trưởng ban Vận tải Tỉnh ủy Thiểm Tây của Đảng Cộng sản Trung Quốc được tổ chức phái đến huyện Bình để thăm Lưu Chí Đan, người đang bị chính quyền Quốc dân Đảng giam giữ tại đây. Tháng 5 năm 1931, lợi dụng mâu thuẫn giữa các quân phiệt, Lưu Chí Đan thâm nhập vào Sư đoàn 13 Tân biên thuộc Quân đội Cam Túc của Trần Quý Chương tại Bình Lương, tiến hành thành lập Lữ đoàn 11. Cùng lúc đó, Cao Cương thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy Thiểm Tây Đảng Cộng sản Trung Quốc, đến Bình Lương để phối hợp với Lưu Chí Đan vạch kế hoạch binh biến. Tháng 9 năm 1931, du kích Kim Tây thuộc Hồng quân Công nông Trung Quốc vượt sông Hoàng Hà, tiến vào bắc Thiểm Tây. Cuối tháng 10, lực lượng du kích Tấn Tây tiến đến vùng Nam Lương (vùng biên giới Thiểm Tây – Cam Túc) và hội quân với Lưu Chí Đan. Nghe tin này, Tạ Tử Xương và Cao Cương đang hoạt động quân sự tại Bình Lương cũng tìm đến. Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy Thiểm Tây thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc, các bên phối hợp thành lập Ủy ban Đội du kích, do Tạ Tử Xương làm Bí thư; Lưu Chí Đan, Yên Hồng Nhan cùng một số thành viên khác tham gia ban lãnh đạo.

Tháng 1 năm 1932, ông giữ chức Thư ký Ủy ban Đội du kích Hồng quân Công nông Thiểm Tây – Cam Túc. Sau thất bại của đội du kích, ông bị điều chuyển về công tác tại Tỉnh ủy Thiểm Tây. Ngày 28 tháng 7 năm 1933, do có sự phản bội trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, cuộc họp của Tỉnh ủy Thiểm Tây tại nhà hàng Phúc Sinh Lâu (Tây An) bị phá hoại. Bí thư Tỉnh ủy Viên Nguyệt Đông cùng nhiều thành viên bị bắt, riêng Cao Cương và Gia Đà Phúc trốn thoát.

Tháng 8 năm 1933, Cao Cương giữ chức Chính ủy Bộ Tổng tham mưu lâm thời Hồng quân biên phòng Thiểm Tây - Cam Túc. Đến tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Chính ủy Sư đoàn 42 kiêm Chính ủy toàn bộ Hồng quân số 26. Ông là một trong những người sáng lập Hồng quân và khu căn cứ cách mạng Thiểm Tây - Cam Túc. Đầu tháng 1 năm 1934, sau trận Nam Nghĩa Bảo ở Chính Ninh, Cao Cương bị cách chức Chính ủy Sư đoàn do vi phạm kỷ luật và bị điều chuyển làm Chính ủy Bộ Tổng tham mưu Lực lượng Du kích Công nông biên khu Thiểm - Cam (tuyến 2). Tháng 4 năm 1934, Lực lượng Du kích tuyến 2 phối hợp với Sư đoàn 42 chiến thắng tại Tây Hóa. Tháng sau, Cao Cương được phục chức Chính ủy Sư đoàn này.

Tháng 2 năm 1935, Cao Cương được bổ nhiệm làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận thuộc Quân ủy Tây Bắc. Nhằm thống nhất sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân tại các căn cứ Thiểm-Cam và Bắc Thiểm Tây, Ủy ban Công tác cùng Ủy ban Quân sự Cách mạng Tây Bắc được thành lập; ông tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Chính ủy của Ủy ban Quân sự này. Tại Hội nghị Yanjiawazi (tháng 7 năm 1935), Cao Cương bị Quách Hồng Đào chỉ trích là "người theo phái hữu" và bị cách chức Chính ủy Sư đoàn 42. Tháng 9 năm 1935, sau khi các lực lượng Hồng quân số 25, 26 và 27 hợp nhất thành Quân đoàn 15, Cao Cương được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Bộ Chính trị (sau là Phó Chính ủy) của quân đoàn này và tham gia Chiến dịch Lao Sơn. Cuối chiến dịch, ông bị bắt giam cùng Lưu Chí Đan, Tập Trọng Huân trong một cuộc thanh trừng nội bộ.[8] Ông chỉ được trả tự do sau khi lực lượng Hồng quân Trung ương tiến đến miền bắc Thiểm Tây.[11] Tháng 1 năm 1936, Cao Cương được điều đến vùng Tam Biên (Nội Mông). Từ tháng 6 đến tháng 10, ông làm Trưởng ban Chấp hành Công tác Mông Cổ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau đó, ông chuyển sang làm Phó Bí thư (tháng 10) rồi Bí thư Ban Chấp hành Công tác Dân tộc thiểu số tỉnh Thiểm - Cam từ tháng 12 cùng năm.

Trong thời kỳ chiến tranh Trung-Nhật

Sau khi chiến tranh Trung – Nhật bùng nổ, Cao Cương ở lại Bắc Thiểm Tây, đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh An ninh và Bí thư Ủy ban Vùng biên giới Thiểm - Cam - Ninh của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 11 năm 1937, ông giữ chức Chỉ huy trưởng Kỵ binh thuộc Bát Lộ quân.[8] Đến tháng 12, ông được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc xếp vào danh sách 25 ủy viên chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng. Tháng 5 năm 1938, ông được bổ nhiệm làm Bí thư Ủy ban Vùng Biên giới Thiểm-Cam-Ninh của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ tháng 1 năm 1939, ông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Vùng biên giới Thiểm-Cam-Ninh tại kỳ họp thứ nhất của cơ quan này. Đến tháng 6 cùng năm, ông kiêm nhiệm chức Chính ủy Quân đoàn đồn trú thuộc Bát Lộ quân. Tháng 9 năm 1940, ông làm Bí thư Khu biên giới Thiểm Tây-Cam Túc-Ninh Hạ của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đầu năm 1941, Cao Cương giữ chức Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Khu biên giới Thiểm-Cam-Ninh của Đảng Cộng sản Trung Quốc.[8] Tháng 5 cùng năm, cơ quan này sáp nhập với Ban Chấp hành Tây Bắc để thành lập Cục Tây Bắc thuộc Trung ương Đảng, ông tiếp tục được bổ nhiệm làm Bí thư Cục Tây Bắc. Trên cương vị này, ông đồng thời kiêm nhiệm Trưởng Ban Mặt trận Thống nhất Cục Tây Bắc kiêm Viện trưởng Viện Dân tộc, chịu trách nhiệm toàn diện về công tác Đảng tại khu vực Tây Bắc, đặc biệt là chỉ đạo chính quyền Khu biên giới và Phong trào Đại sản xuất của nhân dân. Năm 1943, Cao Cương kiêm nhiệm Phó Chính ủy và Chính ủy lâm thời Quân phòng thủ Liên hợp Thiểm-Cam-Ninh-Sơn-Phi. Đến tháng 6 năm 1945, ông được bầu vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tập tin:Dongbei Ju in Harbin.png
Các lãnh đạo tại Cuộc họp mở rộng Cục Đông Bắc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (1946). Từ trái sang: Lâm Bưu, Cao Cương, Trần Vân, Trương Văn Thiên, Lã Chính Cao.

Trong thời Quốc-Cộng nội chiến lần thứ 2

Cuối tháng 10 năm 1945, Cao Cương và Trương Văn Thiên cùng một số người khác từ Diên An bay đến Đông Bắc Trung Quốc trên máy bay của phái đoàn hòa giải Mỹ. Tháng 11 năm 1945, ông được lệnh đến Đông Bắc Trung Quốc và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Bắc Mãn Châu. Tại đây, ông đã tiến hành thiết lập khu vực căn cứ địa cho Đảng Cộng sản Trung Quốc trên địa bàn bốn tỉnh thuộc vùng này. Tháng 4 năm sau, ông kiêm chức tư lệnh chỉ huy chiếm đóng Cáp Nhĩ Tân.[8] Tháng 6 năm 1946, ông được bổ nhiệm làm Phó Bí thư Cục Đông Bắc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Phó Chính ủy Quân đội Đồng minh Dân chủ Đông Bắc.[12][8] Trong vai trò này, ông trực tiếp chủ trì công tác hậu cần tại khu vực Đông Bắc và lãnh đạo phong trào cải cách ruộng đất tại đây. Năm 1947, Cao Cương đến Xích Phong chỉ đạo cải cách ruộng đất tại Cục phân cục Nhiệt-Sát-Cáp-Cơ-Liêu. Trong hồi ký của mình, Trình Tử Hoa nhận định Cao Cương đã thúc đẩy đường lối cực Tả trong phong trào này tại Nhiệt Hà.[13] Sau Hội nghị Ruộng đất Toàn quốc cùng năm, cho rằng Lưu Thiếu Kỳ thiên vị Bành Chân do nghe báo cáo phiến diện, Cao Cương bắt đầu nảy sinh bất mãn với Lưu. Cuối năm 1947, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh thứ nhất kiêm Phó Chính ủy Quân giải phóng nhân dân Đông Bắc.[chú thích 1] Tháng 1 năm 1948, Quân đội Dân chủ Đồng minh Đông Bắc đổi tên thành Quân khu Đông Bắc, Cao Cương làm Phó Tư lệnh thứ nhất kiêm Phó Chính ủy.[15]

Sau Chiến dịch Liêu Thẩm cuối năm 1948, Lâm BưuLa Vinh Hoàn dẫn quân tiến vào sơn hải quan, còn Cao Cương ở lại đảm nhiệm các chức vụ Bí thư Thứ nhất Cục Đông Bắc Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Đông Bắc, kiêm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Đông Bắc. Là nhà lãnh đạo duy nhất thời bấy giờ thâu tóm cả ba quyền lực tối cao về Đảng, chính quyền và quân đội tại một đại khu, ông được mệnh danh là "Vua Đông Bắc". Tháng 7 năm 1949, Cao Cương cùng Lưu Thiếu KỳVương Gia Tường có chuyến thăm bí mật đến Moscow.[16]

Tháng 9 năm 1949, Cao Cương tham dự Phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc và dự lễ thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 1 tháng 10. Tại đây, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương lâm thời của quốc gia mới.

Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập

Tập tin:Gaogang1949.gif
Ngày 21 tháng 9 năm 1949, tại phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Cao Cương đã đại diện cho tất cả các vùng giải phóng phát biểu ý kiến.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Cao Cương lãnh đạo vùng Đông Bắc và đạt nhiều thành tựu trong khôi phục kinh tế. Năm 1949, sản lượng ngũ cốc tại đây tăng khoảng 20% so với năm trước, tổng giá trị sản lượng công nghiệp vượt 4,2% kế hoạch, đồng thời Tập đoàn Gang thép An Sơn cũng được khôi phục.[8] Trong Chiến tranh Triều Tiên, ông phụ trách công tác hậu cần cho Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc, được Tư lệnh Bành Đức Hoài đánh giá cao sau các cuộc tham vấn trực tiếp.[chú thích 2] Ngoài ra, Cao Cương là người tiên phong phát động Chiến dịch Ba Chống ở Đông Bắc,[17] mô hình sau đó được Mao Trạch Đông nhân rộng toàn quốc. Tháng 10 năm 1951, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Chính phủ Trung ương.

Tháng 11 năm 1952, Cao Cương được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước thuộc Chính phủ Nhân dân Trung ương kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đông Bắc, rồi chuyển đến Bắc Kinh vào năm 1953.[18] Thời điểm này, các lãnh đạo địa phương gồm Đặng Tiểu Bình, Nhiêu Thục Thạch, Đặng Tử KhôiTập Trọng Huân cũng lần lượt được điều động về trung ương, tạo nên câu nói nổi tiếng "Năm con ngựa vào Bắc Kinh, một con ngựa đi đầu" (trong đó "một con ngựa" chỉ Cao Cương do vai trò đặc biệt quan trọng của ông). Là một cán bộ xuất thân từ căn cứ cách mạng ("vùng đỏ"), Cao Cương dần nảy sinh bất mãn với tầm ảnh hưởng của Lưu Thiếu KỳChu Ân Lai, những người vốn hoạt động lâu năm trong vùng kiểm soát của Quốc dân đảng ("vùng trắng").

Sự kiện Cao - Rao thực chất là nỗ lực của Cao Cương và Nhiêu Thục Thạch nhằm hạ bệ Lưu Thiếu KỳChu Ân Lai khỏi các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, với mục tiêu chính là Lưu Thiếu Kỳ. Bước ngoặt thúc đẩy Cao Cương giành quyền lực xuất phát từ việc ông nhận định sai lệch thái độ của Mao Trạch Đông. Đầu năm 1953, Mao Trạch Đông từng bày tỏ sự không hài lòng về chính sách kinh tế và hợp tác xã nông nghiệp trong các cuộc trò chuyện riêng với Cao Cương. Điều này khiến Cao Cương lầm tưởng bản thân được tin cậy tuyệt đối và coi đó là cơ hội để công kích Lưu Thiếu KỳChu Ân Lai.[19][20]

Tại Hội nghị Tài chính và Kinh tế Toàn quốc năm 1953, Cao Cương cùng các đồng mật đã mượn cớ chỉ trích Bạc Nhất Ba để chĩa mũi nhọn vào Lưu Thiếu KỳChu Ân Lai. Cùng lúc đó, tại Hội nghị Công tác Tổ chức Toàn quốc lần thứ hai, Nhiêu Thục Thạch cũng lợi dụng việc phê bình An Tử Văn với mục đích tương tự.[21] Những động thái này đã khiến Mao Trạch Đông bắt đầu chú ý.[8] Tháng 10 cùng năm, Cao Cương đến Hàng Châu nhằm thuyết phục Lâm Bưu gia nhập liên minh. Tuy nhiên, sau khi được Trần Vân truyền đạt chỉ thị từ Mao Trạch Đông, Lâm Bưu đã tuyên bố rút lui và ngừng ủng hộ Cao Cương.[22] Tại cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị ngày 24 tháng 12 năm 1953, Mao Trạch Đông ngầm chỉ trích Cao Cương khi tuyên bố: "Ở Bắc Kinh có hai đại bản doanh. Một là đại bản doanh do tôi đứng đầu, hoạt động công khai; hai là đại bản doanh do người khác đứng đầu, chuyên hoạt động ngầm và tạo sóng ngầm. Đây là vấn đề của một chính phủ hay nhiều chính phủ?"[8]

Tại phiên họp ngày 6 tháng 2 năm 1954, Chu Ân LaiTrần Vân phát biểu ngầm chỉ trích Cao Cương về hành vi xây dựng "vương quốc độc lập". Đến ngày 17 tháng 2, Cao Cương tự sát bằng súng nhưng không thành. Ngày 28 tháng 4 năm 1954, hàng loạt quan chức thuộc Cục Đông Bắc và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước bị cách chức,[chú thích 3][8] bao gồm Trương Tú Sơn, Trương Minh Viễn, Quách Phong, Mã HồngTriệu Đức Tôn. Ngay sau đó, vào ngày 29 tháng 4, Cao Cương nộp bản "Tự phản tỉnh của tôi" lên Ban Chấp hành Trung ương. Đầu tháng 8 năm 1954, Cao Cương tiếp tục cố gắng tự tử bằng điện nhưng bất thành.[8] Ngày 17 tháng 8 năm 1954, ông qua đời sau khi uống thuốc ngủ quá liều.

Tháng 4 năm 1955, Cao Cương bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VII. Kết luận chính thức xác định vụ việc là một âm mưu vô nguyên tắc nhằm tước đoạt quyền lực tối cao. Sau khi tự sát, ông được chôn cất tại Nghĩa trang Vạn An, Bắc Kinh.

Vào ngày 16 tháng 5 năm 1966, khi Cách mạng Văn hóa bùng nổ, bia mộ của Cao Cương đã bị đập vỡ làm đôi.[23]

Tháng 5 năm 2011, Nhà xuất bản Nhân dân Thiểm Tây phát hành cuốn tiểu sử công khai đầu tiên về Cao Cương tại Trung Quốc, do Đới Mậu Lâm và Triệu Hiểu Quang biên soạn.[24]

Sách

  • Tuyển tập Cao Cương là một bộ sách do Nhà xuất bản Văn hóa và Nghệ thuật Hoa Hạ phát hành năm 2009. Tác phẩm tập hợp 31 bài viết, báo cáo và bản thảo của Cao Cương trong giai đoạn từ năm 1941 đến năm 1952.
  • Tuyển tập tác phẩm Cao Cương do Nhà xuất bản Văn hóa Nghệ thuật Hoa Hạ phát hành năm 2013. Tác phẩm tập hợp hơn 70 bài phát biểu, báo cáo, bài giảng và bài trò chuyện của Cao Cương trong giai đoạn từ năm 1939 đến năm 1953.
  • Tuyển tập thư từ và điện tín của Cao Cương do Nhà xuất bản Văn hóa và Nghệ thuật Hoa Hạ phát hành năm 2013. Tác phẩm tập hợp hơn 350 bức thư và điện tín trao đổi giữa Cao Cương với Mao Trạch Đông cùng các nhân vật khác trong giai đoạn 1939–1952.
  • Danh dự thuộc về ai?” - Cao Cương tại Hội nghị Cán bộ vùng Đông Bắc.

Đánh giá

Đánh giá của Mao Trạch Đông

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Cao Cương từng có những đóng góp nhất định và giành được sự tín nhiệm trong Đảng. Tuy nhiên, xu hướng chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện qua sự tự mãn lúc thuận lợi và dao động khi gặp khó khăn, cùng lối sống thiếu chuẩn mực của ông không được khắc phục kịp thời, ngày càng bộc lộ rõ sau năm 1949. Những hạn chế này kéo dài dẫn đến các hoạt động chống lại đường lối của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong giai đoạn sau đó.[25]

Đánh giá của Lý Duy Hán

Thứ nhất, đường lối của Hội nghị cán bộ cao cấp Cục Tây Bắc (1942) là chính xác; thứ hai, hoạt động của Cao Cương tại Cục Tây Bắc và Khu biên giới Thiểm - Cam - Ninh hoàn toàn phù hợp với đường lối của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.[26]

Đánh giá tích cực

Cao Cương được ghi nhận với 5 đóng góp lớn trong sự nghiệp: Xây dựng căn cứ: Tham gia thành lập Căn cứ cách mạng biên khu Thiểm - Cam tại Tây Bắc Trung Quốc. Lãnh đạo thời chiến: Ba nhiệm kỳ liên tiếp giữ chức Chủ tịch Hội đồng Khu biên khu Thiểm - Cam - Ninh trong Chiến tranh Trung - Nhật. Tiếp quản Đông Bắc: Đóng góp chủ chốt vào việc Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát vùng Đông Bắc trong Nội chiến. Kiến thiết kinh tế: Chủ trì công cuộc khôi phục và xây dựng kinh tế Đông Bắc giai đoạn đầu thành lập CHND Trung Hoa. Hậu cần quân sự: Đảm bảo công tác hậu cần trong Chiến tranh Triều Tiên (Kháng Mỹ viện Triều).[27]

Đánh giá tiêu cực

Tháng 2 năm 1954, tại hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm phê phán Cao Cương và Nhiêu Thục Thạch, Chu Ân Lai đã có bài phát biểu tổng kết vào ngày 25 tháng 2, đưa ra 10 cáo buộc chính đối với Cao Cương. Các cáo buộc này bao gồm: Về chính trị và tổ chức: Tuyên truyền tư tưởng ly khai ("Đảng từ nòng súng", chia rẽ vùng Đỏ và vùng Trắng); hoạt động bè phái, chống lại các lãnh đạo trung ương; tự ý hứa hẹn chức vụ cho cán bộ và biến địa phương do mình quản lý thành "vương quốc độc lập". Về uy tín và đạo đức: Tung tin đồn gây mất đoàn kết nội bộ; mạo danh Trung ương để hạ thấp uy tín của cơ quan này; đạo văn để trục lợi chính trị; và có lối sống riêng tư sa đọa. Về đối ngoại và quyền lực: Gây tổn hại đến quan hệ ngoại giao Xô - Trung; âm mưu chiếm đoạt quyền lực tối cao của Đảng và Nhà nước.[27] Bản tóm tắt sau đó được trình lên Mao Trạch Đông phê duyệt. Đánh giá về Cao Cương cho thấy, dù có những đóng góp đáng ghi nhận trong giai đoạn cách mạng trước đó, sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân sau năm 1949 đã dẫn đến những sai lầm chính trị mang tính quyền lực của ông, cuối cùng kết thúc bằng sự thất bại.[28]

Gia đình

  • Dương Chi Phương (tháng 12 năm 1905 – 1 tháng 5 năm 2001) là người vợ đầu tiên của Cao Cương, quê tại huyện Mễ Chi, tỉnh Thiểm Tây. Hai người kết hôn năm 1925 và ly hôn vào năm 1938. Nguyên nhân ly hôn xuất phát từ đề nghị của Vương Tử Nghi — Giám đốc Sở Dân chính Chính quyền Khu biên giới Thiểm-Cam-Ninh. Ông cho rằng Cao Cương thường xuyên hoạt động công chúng, trong khi Dương Chi Phương vẫn giữ tục bó chân nên việc xuất hiện cùng nhau là không phù hợp. Dương Chi Phương sau đó đã chấp nhận ly hôn.[29]
  • Lý Lực Quần (26 tháng 12 năm 1919 – 6 tháng 4 năm 2020) là người vợ thứ hai của Cao Cương, kết hôn vào ngày Tết Dương lịch năm 1940. Bà quê ở huyện Tú Thiên, tỉnh Giang Tô. Trong sự nghiệp, bà từng đảm nhiệm các chức vụ: Cố vấn Vụ Học sinh Bộ Giáo dục, Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Thiếu nhi Đông Bắc Dục Tài, Đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa IV và Ủy viên Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc khóa V. Bà nghỉ hưu tháng 8 năm 1983 với chế độ tương đương Tổng Giám đốc.
  • Cao Nghị là con trai trưởng của Cao Cương với người vợ đầu Dương Chi Phương. Năm 1939, ông cùng một số hậu duệ lãnh đạo cách mạng Trung Quốc theo Chu Ân Lai sang Liên Xô và theo học tại Trại trẻ mồ côi quốc tế số 2. Đến năm 1947, ông về nước, học dự bị tại Viện Công nghệ Cáp Nhĩ Tân (HIT). Năm 1948, Cao Nghị nằm trong số 21 con em cán bộ trung ương và liệt sĩ được cử sang Liên Xô du học, theo chuyên ngành Kiến trúc tại Viện Kỹ thuật Điện Moscow. Đầu năm 1951, ông trở về nước và tiếp tục học ngành Kỹ thuật cơ khí tại HIT, tại đây ông quen biết người vợ tương lai là Tống Lệ Đa. Sau sự cố chính trị của Cao Cương, Cao Nghị và vợ bị điều động đến làm việc tại Nhà máy số 120 Cáp Nhĩ Tân khi chưa tốt nghiệp, sau đó chuyển sang Nhà máy số 430 Tây An với vai trò kỹ thuật viên. Năm 1979, được sự chấp thuận của Trung ương, ông chuyển về Viện Nghiên cứu Gia công Điện thuộc Ủy ban Khoa học và Công nghệ Bắc Kinh để nghiên cứu về máy công cụ. Ông nghỉ hưu với học hàm kỹ sư cao cấp.
    • Vợ ông, Tống Lệ Đạt, mang một nửa dòng máu Nga.
  • Con gái của Cao Bân Bân tốt nghiệp trường Trung học Nữ sinh trực thuộc Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan cùng năm với Du Huệ Thanh, con gái của Hoàng Kính.

Tác phẩm văn học, điện ảnh và truyền hình

  • Năm 1976, Cold Wave (Album ảnh)
  • Năm 2009, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập.
  • Năm 2024, Những năm tháng Tây Bắc
  • Bộ phim truyền hình Đài Loan "Dòng lạnh" (1977) có nhân vật chính Cao Dương do diễn viên Trương Phong thủ vai, được xây dựng dựa trên nguyên mẫu Cao Cương.
  • Năm 1962, các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc gồm Mao Trạch Đông và Khang Sinh chỉ trích cuốn tiểu thuyết Lưu Chí Đan, cáo buộc tác phẩm này nhằm minh oan cho Cao Cương.

Ghi chú

  1. ^ Trích từ "Suy nghĩ của tôi" của Cao Cương: "Mối quan hệ rạn nứt với Thiếu Kỳ có lẽ bắt đầu từ năm 1947. Khi đó, Triệu Đức Tôn đến Bình Sơn dự hội nghị đất đai. Chúng tôi yêu cầu ông báo cáo với Thiếu Kỳ về tình hình Đông Bắc Trung Quốc, bao gồm cả cuộc tranh luận về chính sách làm việc ở Đông Bắc Trung Quốc, những sai lầm của Bành Chân và những người khác, và việc điều chỉnh Cục Đông Bắc theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương. Chúng tôi hy vọng Thiếu Kỳ sẽ ủng hộ công việc của chúng tôi. Tuy nhiên, sau khi nghe báo cáo, Thiếu Kỳ không nói về đúng sai trong cuộc tranh luận ở Đông Bắc Trung Quốc. Ông chỉ nói: 'Chúng ta nên chú trọng sự đoàn kết chứ không nên đạp đổ người ta khi họ đang ngã. Trong quá khứ, Đảng Mãn Châu và Đảng Giải phóng Triều Tiên đã bị kẻ thù đánh bại vì họ không đoàn kết.'" Sau khi Triệu Đức Tôn trở về và truyền đạt lời của Thiếu Kỳ, chúng tôi không hiểu: rõ ràng là để sửa sai, vậy làm sao có thể gọi là 'đá người đang ngã' và 'không đoàn kết'? Do đó, chúng tôi nghĩ rằng Thiếu Kỳ có phần bao che cho những sai lầm của Bành Chân và những người khác và không ủng hộ công việc của chúng tôi. Từ đó trở đi, chúng tôi xa lánh Thiếu Kỳ, nhưng đây chỉ là vấn đề liên quan đến công việc.”[14]:178
  2. ^ Trong hồi ký *Những ký ức của tôi*, Trương Minh Nguyên viết rằng Bành Đức Hoài rất hài lòng với công tác hậu cần ở Đông Bắc Trung Quốc trong suốt thời chiến (ông khá bất mãn với công tác của Tổng cục Hậu cần thuộc Quân ủy Trung ương và Ủy ban Tài chính và Kinh tế Trung ương). Ông nhiều lần tuyên bố với các cán bộ Tình nguyện và trong các cuộc họp rằng chiến thắng của Tình nguyện chủ yếu là nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Cao Cương và Đông Bắc Trung Quốc, nói rằng nếu phải quy công cho quân đội thì "60 đến 70% là nhờ công tác hậu cần". Tướng Bành cũng nói rằng công tác hậu cần chủ yếu dựa vào hai người có vết rỗ (ám chỉ Cao Cương và Hồng Học Chí)!
  3. ^ Năm người này được gọi là "Ngũ Hổ Tướng" của Cao Cương.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ a b Vương Kiện Anh (chủ biên). Các lãnh đạo cấp cao của Đảng, Chính phủ và Quân đội trong Chiến tranh kháng chiến chống Nhật [M]. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 1 năm 2016, trang 59.
  2. ^ "高岗--七一导航—党员干部上网指南--人民网". cpc.people.com.cn. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  3. ^ Witold Rodzinski, The People's Republic of China: A Concise Political History (New York, 1988), p. 39.
  4. ^ Kenneth Lieberthal, Governing China: From Revolution Through Reform (New York, 1995) p. 96.
  5. ^ Frederick C. Teiwes, Politics At Mao's Court: Gao Gang and Party Factionalism in the Early 1950s (New York, 1990) pp. 36–37.
  6. ^ Barnouin, Barbara; Yu, Changgen (2006). Zhou Enlai: A Political Life (bằng tiếng Anh). Chinese University Press. ISBN 978-962-996-280-7.
  7. ^ Kenneth Lieberthal, Quản trị Trung Quốc: Từ Cách mạng đến Cải cách (New York, 1995), trang 97.
  8. ^ a b c d e f g h i j k l Dai, Maolin (2011). Gao Gang zhuan. Internet Archive. Xi'an : Shaanxi ren min chu ban she. ISBN 978-7-224-09634-7.
  9. ^ Frederick C. Teiwes, Politics and Purges in China: Rectification and the Decline of Party Norms, 1950–1965 (2nd ed.; New York, 1993), p. 132.
  10. ^ "红石峡会议与"三色"革命理论的提出-陕甘边革命根据地照金纪念馆". www.zjjng.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  11. ^ 吴葆朴,李志英著 (2007). 《秦邦宪(博古)传》. 北京:中共党史出版社. tr. 196. ISBN 978-7-80199-6855.
  12. ^ Maurice Meisner, Mao's China: A History of the People's Republic (New York, 1977), p. 131.
  13. ^ 程子华 (1987). 《程子华回忆录》. 解放军出版社. tr. 294.
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên biography
  15. ^ 张明金、刘立勤 (2010年). 《中国人民解放军历史上的200个军区》 (bằng tiếng Trung). 北京市西城区地安门西大街40号: 解放军文艺出版社. tr. 344. ISBN 9787503322525.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  16. ^ "人民网—高岗:在毛泽东和斯大林之间(知情者说)
    "
    . www.people.com.cn. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  17. ^ Spence, Jonathan D. The Search for Modern China. WW Norton & Company publishing.1991.ISBN 978-0-393-30780-1
  18. ^ "回忆父亲邓子恢_资讯_凤凰网". news.ifeng.com. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  19. ^ Frederick C. Teiwes, 'Extract from Mao and his Lieutenants', in G. Benton (eds), Mao Zedong and the Chinese Revolution (Volume II) (New York, 2008), p. 93-94.
  20. ^ Frederick C. Teiwes, Politics At Mao's Court: Gao Gang and Party Factionalism in the Early 1950s (New York, 1990), p. 37.
  21. ^ "第二次全国组织工作会议(1953年9月16日-10月27日)". 中国共产党新闻网 (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  22. ^ 中共中央文献研究室 (2000). 《陈云年谱(中卷)》. 北京: 中央文献出版社. tr. 192. ISBN 9787507307870.
  23. ^ 赵家梁、张晓霁 (2008.07). 半截墓碑下的往事 高岗在北京. 香港: 大风出版社. ISBN 978-988-99725-5-4. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2022. {{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  24. ^ 2130. "用最新史料解开历史疑云 实事求是写《高岗传》--中国共产党新闻-人民网". dangshi.people.com.cn. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026. {{Chú thích web}}: |last= có tên số (trợ giúp)
  25. ^ "百科参考资料". baike.baidu.com. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  26. ^ Biên soạn bởi Văn phòng Nghiên cứu Lịch sử Đảng thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trụ cột của Đảng Cộng sản Trung Quốc và cuộc kháng chiến chống Nhật (Tập 1) [M]. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 2005, tr. 306.
  27. ^ a b "高岗的是非功过解读 一生五项功绩十大罪行_历史_环球网". history.huanqiu.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  28. ^ "同高岗接触过的女性敢怒不敢言(2)_读书频道_新浪网". book.sina.com.cn. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  29. ^ Dai, Maolin (2011). Gao Gang zhuan. Internet Archive. Xi'an : Shaanxi ren min chu ban she. ISBN 978-7-224-09634-7.
Tiền nhiệm:
không
Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
1952–1954
Kế nhiệm:
Lý Phú Xuân

Đọc thêm

  • Triệu Gia Lương và Trương Hiểu Tễ, Những câu chuyện quá khứ bên dưới tấm bia mộ xây dở: Cao Cương ở Bắc Kinh, Hồng Kông: Nhà xuất bản Đại Phong, 2008. ISBN 978-988-99725-5-4
  • 凤凰网:高岗之死的真相 Được lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2020 tại Wayback Machine
Chức vụ Đảng
Chức vụ mới Bí thư Cục Tây Bắc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Tháng 5 năm 1941 – Tháng 10 năm 1945
Kế vị:
Tập Trọng Huân
Chức vụ chính trị
Chức vụ mới
Phó Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương
(kiêm nhiệm cùng lúc

với Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh, Trương Lan, Lý Tế Thâm
1949–1954

Kế vị:
Chu Đức
Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Chức vụ nhà nước
Chức vụ mới Chủ tịch Chính phủ Nhân dân vùng Đông Bắc
Tháng 4 năm 1949 – Tháng 1 năm 1953
Chức vụ bãi bỏ
Chủ tịch Ủy ban Hành chính vùng Đông Bắc
Tháng 1 năm 1953 – Tháng 2 năm 1954
Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước thuộc Chính phủ Nhân dân Trung ương
Tháng 11 năm 1952 – Tháng 8 năm 1954
Kế vị:
Lý Phú Xuân
Giám đốc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa