Bước tới nội dung

Cassidini

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cassidini
Tập tin:Cassida rubiginosa.jpg
Loài Cassida rubiginosa thuộc tông Cassidini
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Arthropoda
Lớp (class)Insecta
Bộ (ordo)Coleoptera
Phân bộ (subordo)Polyphaga
Liên họ (superfamilia)Chrysomeloidea
Họ (familia)Chrysomelidae
Phân họ (subfamilia)Cassidinae
Tông (tribus)Cassidini
Gyllenhal, 1813
Các chi
Xem trong bài.

Cassidini là một tông bọ cánh cứng thuộc phân họ Cassidinae, nằm trong họ Ánh kim (Chrysomelidae).[1] Nhóm côn trùng này còn được gọi phổ biến là bọ rùa lá hay bọ rùa rùa (tiếng Anh: tortoise beetles) do hình thái cơ thể vòm khum đặc trưng giống như chiếc mai rùa.[2]

Tông Cassidini phân bố rộng khắp các châu lục ngoại trừ Nam Cực, với độ đa dạng loài cao nhất tại các vùng nhiệt đớicận nhiệt đới. Hệ thống phân loại hiện đại ghi nhận tông này gồm khoảng 80 chi với hơn 1.000 loài đã được mô tả.[3]

Hình thái học

Tập tin:Golden Tortoise Beetle - Charidotella sexpunctata.jpg
Loài Charidotella sexpunctata sở hữu màu ánh kim vàng lấp lánh khi còn sống nhờ hiện tượng khúc xạ ánh sáng.

Các đại diện thuộc tông Cassidini có kích thước từ nhỏ đến trung bình (thường từ 4 đến 12 mm). Cơ thể có dạng hình ô-van hoặc hình tròn vòm khum. Điểm đặc trưng nhất về mặt giải phẫu là phần tấm ngực trước (pronotum) và rìa ngoài của cánh cứng (elytra) phát triển rộng ra xung quanh, tạo thành một chiếc "mái hiên" trong suốt hoặc có màu che phủ hoàn toàn phần đầu và các chân khi nhìn từ trên xuống.[4]

Nhiều loài trong tông Cassidini có màu sắc rất sặc sỡ và óng ánh kim loại (vàng tươi, xanh ngọc, đỏ gạch hoặc kèm các chấm đen). Màu sắc lấp lánh này ở các loài sống (như Charidotella sexpunctata) không xuất phát từ sắc tố đơn thuần mà từ cấu trúc nhiều lớp chứa chất lưu dưới vỏ cơ thể có khả năng khúc xạ ánh sáng. Khi côn trùng bị đe dọa, căng thẳng hoặc sau khi chết, lượng chất lưu này rút đi khiến màu ánh kim biến mất và chuyển sang màu nâu cam nhạt.[5]

Sinh thái và vòng đời

Chế độ ăn

Cả sâu non (Ấu trùng) và bọ trưởng thành đều là sinh vật ăn thực vật (Thảo thực). Chúng chủ yếu gặm nhấm lá cây thuộc các họ thực vật như Họ Bìm bìm (Convolvulaceae – bao gồm rau muống, khoai lang), Họ Cà (Solanaceae), Họ Cúc (Asteraceae) và Họ Bạc hà (Lamiaceae).[6]

Tập tính bảo vệ của ấu trùng

Ấu trùng tông Cassidini có chiến lược tự vệ độc đáo trước các loài ăn thịt như Kiến hay Chim. Cấu trúc cơ thể ấu trùng sở hữu một bộ phận dạng gọng kìm ở cuối đốt bụng gọi là "gọng phân" (anal fork hoặc fecal fork). Ấu trùng sử dụng bộ phận này để tích tụ phân cùng các lớp vỏ lột cũ, tạo thành một "lá chắn chất thải" (fecal shield) dính liền dựng ngược lên lưng.[7] Khi bị tấn công, ấu trùng có thể linh hoạt điều khiển lá chắn này hướng về phía kẻ thù để xua đuổi hoặc làm bẩn cơ quan cảm giác của đối phương.

Tập tin:Cassida rubiginosa 2.jpg
Ấu trùng loài Cassida rubiginosa với lá chắn phân và vỏ lột bảo vệ trên lưng.

Phân loại học

Tông Cassidini từng có lịch sử phân loại phức tạp. Trong các hệ thống phân loại cũ, nhóm này được coi là một phân họ riêng biệt (Cassidinae). Sau khi các nghiên cứu phát sinh chủng loại cho thấy nhóm này có quan hệ phân nhánh chặt chẽ với phân họ Hispinae, hai phân họ đã được sáp nhập thành một phân họ chung lấy tên là Cassidinae sensu lato, trong đó Cassidini được xếp làm một tông chuẩn.[4]

Danh pháp đồng nghĩa

Trong lịch sử nghiên cứu taxonomy, tông Cassidini đã từng được ghi nhận dưới các danh pháp hoặc phân nhóm đồng nghĩa sau:[1]

  • Cassidini Gyllenhal, 1813
  • Cassideae Gyllenhal, 1813
  • Basiptites Chapuis, 1875
  • Hybosites Chapuis, 1875
  • Cassidites Chapuis, 1875
  • Chiridites Chapuis, 1875
  • Coptocyclitae Spaeth, 1926
  • Charidotitae Spaeth, 1942

Các chi tiêu biểu

Tông Cassidini bao gồm nhiều chi đa dạng, dưới đây là một số chi phổ biến:[2]

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ a b Bouchard, Patrice; Bousquet, Yves; Davies, Anthony E.; Alonso-Zarazaga, Miguel A.; Lawrence, John F.; Lyal, Christopher H. C.; Newton, Alfred F.; Reid, Chris A. M.; Schmitt, Michael; Slipinski, S. Adam; Smith, Andrew B. T. (2011). "Family-group names in Coleoptera (Insecta)". ZooKeys. Quyển 88. tr. 1–972. doi:10.3897/zookeys.88.807. PMC 3088472. PMID 21594053.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  2. ^ a b Borowiec, Lech; Swiętojańska, Jolanta (2002). Cassidinae of the world - an interactive manual (Coleoptera: Chrysomelidae). Department of Biodiversity and Evolutionary Taxonomy, University of Wrocław.
  3. ^ Riley, Edward G.; Clark, Shawn M.; Seeno, Terry N. (2003). Catalog of the leaf beetles of America north of Mexico (Coleoptera: Megalopodidae, Orsodacnidae and Chrysomelidae). The Coleopterists Society. tr. 1–290.
  4. ^ a b Chaboo, Caroline S. (2007). "Biology and phylogeny of the Cassidinae Gyllenhal subfamilies (Coleoptera: Chrysomelidae)". Bulletin of the American Museum of Natural History. Quyển 305. tr. 1–250. doi:10.1206/0003-0090(2007)305[1:BAPOTC]2.0.CO;2.
  5. ^ Vigneron, Jean Pol; Pasteels, Jacques M. (2007). "Structural colours in insects". Materials Science and Engineering: C. Quyển 27 số 5. tr. 1282–1289. doi:10.1016/j.msec.2006.09.004.
  6. ^ Jolivet, Pierre (1988). Food Habits and Food Selection of Chrysomelidae. Dr W. Junk Publishers. tr. 1–228.
  7. ^ Olmstead, Gary S.; Denno, Robert F. (1992). "Cost and benefit of the fecal shield as a defense in tortoise beetles". Ecological Entomology. Quyển 17 số 3. tr. 237–243. doi:10.1111/j.1365-2311.1992.tb00532.x.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).