Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc

Chính phủ Trung Hoa Dân quốc là chính phủ trung ương kiểm soát các lãnh thổ bao gồm đảo Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Quần đảo Mã Tổ và những nhóm đảo khác, cấu thành Vùng Tự do của Trung Hoa Dân quốc.

Chính phủ Trung Hoa Dân quốc
Thành lập
Nhà nướcĐài Loan (Vùng Tự do của Trung Hoa Dân quốc)
Websitetaiwan.gov.tw
Lập pháp
Cơ quan lập pháp
Trụ sởLegislative Yuan Building, Đài Bắc
Hành pháp
Lãnh đạoViện trưởng Hành chính viện
Bổ nhiệm bởiTổng thống
Tổ chức chínhHành chính viện
Bộ35
Tư pháp
Tòa ánTư pháp viện
Trụ sởĐài Bắc
Chính phủ Trung Hoa Dân quốc
Phồn thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Giản thểLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).

Lịch sử

Trung Hoa Dân quốc chính thức được thành lập vào năm 1912 tại Nam Kinh, với Tôn Trung Sơn là Đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc theo Hiến pháp lâm thời. Sau khi Tôn nhượng vị cho Viên Thế Khải, cơ quan chính Chính phủ Trung Hoa Dân quốc chuyển đến Bắc Kinh trong cùng năm 1912, là một chính phủ Trung Quốc được quốc tế công nhận cho đến năm 1928. Thời kỳ này, chính phủ Trung Hoa Dân quốc chịu ảnh hưởng lớn của Tôn và các thủ hạ của ông, vốn xuất thân từ lực lượng Bắc Dương quân, nên đương thời còn được gọi là Chính phủ Bắc Dương.

Cùng thời đó, một loạt các thế lực cát cứ khác hình thành ở các địa phương, ly khai với chính quyền Bắc Dương, đôi khi chống đối lẫn nhau trong thời đại quân phiệt. Trong số đó, trội lên chính phủ do Trung Quốc Quốc dân Đảng lãnh đạo, ban đầu được thành lập như một chính phủ quân sự đối thủ dưới sự bảo trợ của Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu vào năm 1917. Sau khi Tôn qua đời năm 1925, Tưởng Giới Thạch tiến hành Bắc phạt (1926-1928) để thống nhất Trung Quốc và dời đô về Nam Kinh. Chính phủ của Tưởng tuyên bố dựa trên nền tảng chủ nghĩa Tam Dân và kế thừa chính phủ Bắc Dương, mở rộng dân chủ, kết hợp tham chính của nhiều đảng phái chính trị hơn, bao gồm cả Đảng Cộng sản Trung Quốc, lập Hiến pháp năm 1931. Trên thực tế, chính phủ của Tưởng tuy có được sự công nhận ngoại giao nhưng không kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Bên cạnh những chính phủ địa phương của các quân phiệt cát cứ, chính phủ Tưởng còn bị các đảng phái đối lập công kích là chính quyền độc tài độc đảng. Nổi lên có chính quyền Xô viết ly khai do đảng Cộng sản thành lập. Trong thời kỳ Chiến tranh Trung – Nhật (1937-1945), một loạt chính phủ bù nhìn do người Nhật lập nên cũng mang danh nghĩa Chính phủ Trung Hoa Dân quốc. Để phân biệt, đương thời chính quyền của Tưởng được gọi là Chính phủ Quốc dân.[1]

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Quốc dân là chính phủ duy nhất của Trung Hoa theo Hiến pháp Trung Hoa Dân quốc năm 1947. Tuy nhiên, Trung Quốc Quốc dân Đảng lại mau chóng sụp đổ trước sự trỗi dậy của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mất đi quyền kiểm soát đại lục trong Nội chiến Trung Quốc, chính phủ Trung Hoa Dân quốc dời sang Đài Loan vào năm 1949, từ đó chỉ còn kiểm soát Đài Loan và một số đảo khác bao gồm Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ, Ba BìnhĐông Sa. Vì vậy, kể từ sau năm 1949, chính phủ Trung Hoa Dân quốc thường được gọi là Chính phủ Đài Loan.

Tại Đài Loan, một thời gian dài chính phủ Trung Hoa Dân quốc vẫn bị chi phối bởi Quốc dân Đảng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình đã thay đổi khi nền chính trị Trung Hoa Dân quốc đã được chuyển đổi thành nền dân chủ đa đảng.

Chính phủ trung ương

 
Sơ đồ tổ chức Chính phủ trung ương Trung Hoa Dân quốc.

Chính phủ Trung Hoa Dân quốc chính thức gồm tổng thống và 5 nhánh quyền lực, được tổ chức theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn.

Phủ Tổng thống
 
Tổng thống
 
Hội đồng an ninh quốc gia
Hành chính việnLập pháp viện
 
Tư pháp việnKhảo thí việnGiám sát viện
 

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).