Ông sinh ngày 12 tháng 11 năm 1866[2] ở tỉnh Quảng Đông[2] trong một gia đình nông dân khá giả. Năm 13 tuổi, ông đến học ở Honolulu tại tiểu bang Hawaii vì có người anh buôn bán ở đây, ở đây ông học các trường tiểu học và trung học nên chịu ảnh hưởng rất lớn của phương Tây. Năm 1883, ông trở về nước, và năm 1886 ông học Trường Đại học Y khoa Hương Cảng và trở thành bác sĩ năm 1892.[1][3] Ông là một trong 2 người được tốt nghiệp trong lớp 12 người.[4][5][6] Tuy nhiên sau đó thấy tình cảnh đất nước bị các đế quốc chia xé, ông bỏ nghề y theo con đường chính trị.
Theo Cơ Đốc Giáo
Thời trung học, ông học tại Trường ʻIolani được dạy dỗ bởi những người Anh theo Anh giáo. Tuy trường này không bắt buộc học sinh phải theo đạo nhưng đòi hỏi học sinh dự lễ tại nhà nguyện vào chủ nhật. Tại trường, ông lần đầu tiếp xúc với Kitô giáo và bị ấn tượng sâu đậm. Theo Schriffin, Kitô giáo đã có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ cuộc đời chính trị trong tương lai của Tôn Dật Tiên.[7] Sau này ông được báp-tem tại Hồng Kông bởi một nhà truyền giáo Hoa Kỳ và trở thành một tín hữu Tự trị giáo đoàn (Congregational church, Công lý hội).[8][9] Ông tham dự Nhà thờ Đạo Tế (道濟會堂, được sáng lập bởi Hội Truyền giáo London vào năm 1888)[10] trong khi học Y khoa ở Hồng Kông. Việc ông theo Cơ Đốc Giáo liên hệ tới những lý tưởng cách mạng và nỗ lực cải tiến đất nước.[9] Tuy nhiên việc ông có thật sự tin theo Cơ Đốc Giáo hay không vẫn còn tranh cãi.
Năm 1894, Tôn Trung Sơn sang tiểu bang Hawaii tại Hoa Kỳ tập hợp Hoa kiều cùng chí hướng thành lập Hưng Trung hội với tôn chỉ đánh đổ phong kiến Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa. Ông bị người anh đưa về Trung Quốc vì sợ ông theo Kitô giáo nhưng ông đã trở lại Hawaii ít nhất hai lần vào 1900 và 1901.[11] Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất Hưng Trung hội với một số tổ chức trong nước lập thành Trung Quốc Đồng minh hội do ông làm Tổng lý. Trên tờ Dân báo, cơ quan ngôn luận của hội, ông đã công bố chủ nghĩa Tam Dân: "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc". Từ 1905 đến năm 1911 Trung Quốc Đồng minh hội tổ chức nhiều cuộc binh biến ở các tỉnh miền Nam nhưng không thành công. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, Đồng minh hội vận động được binh sĩ ở Vũ Xương (Hồ Bắc) nổi dậy khởi nghĩa và giành được thắng lợi mở đầu cho Cách mạng Tân Hợi. Phong trào này nhanh chóng bùng nổ ở nhiều tỉnh khác. Ngày 29 tháng 12 năm 1911, Tôn Trung Sơn về nước, được đại hội đại biểu các tỉnh họp ở Nam Kinh đề cử làm Đại Tổng thống lâm thời.
Ngày 1 tháng 1 năm 1912, ông tuyên thệ nhậm chức Đại Tổng thống Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tại Nam Kinh. Nhưng một tháng sau, ông nhường chức này cho Viên Thế Khải với điều kiện Viên Thế Khải bắt vua nhà Thanh thoái vị để thành lập chế độ cộng hòa, nhưng Viên Thế Khải đã phản bội và đàn áp lực lượng dân chủ cộng hòa.
Ảnh hưởng
Tôn Trung Sơn là nhân vật độc đáo trong số các nhà lãnh đạo Trung Quốc thế kỷ XX, với danh tiếng lớn tại cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan. Là người khai sinh nên Trung Hoa Dân Quốc, tại Đài Loan ông được tôn xưng là Quốc phụ. Tại đại lục, ông được coi là Cách mạng tiên hành giả ("người tiên phong của cách mạng") và tên của ông thậm chí còn được đề cập tới trong lời tựa Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào đấu tranh giành độc lập ở Việt Nam.[12] Theo giới sử học Việt Nam, Tôn Trung Sơn có mối quan hệ sâu rộng với cộng đồng người Hoa tại Chợ Lớn, Sài Gòn và Hà Nội. Lần đầu ông đến Việt Nam là tại Sài Gòn vào năm 1900 và kéo dài hơn 2 tuần. Ông tới Hà Nội lần đầu vào tháng 12 năm 1902. Từ khoảng tháng 3 năm 1907, ông hoạt động ở Việt Nam hơn một năm.[12] Tại Hà Nội, ông ngụ ở Hội quán Quảng Đông, số 22 phố Hàng Buồm.[13] Theo nhà sử học Chương Thâu, cựu Trưởng phòng Lịch sử Cận đại thuộc Viện Sử học Việt Nam, một loạt các thế hệ các nhà Cách mạng Việt Nam, từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cho tới Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng Tam Dân Chủ nghĩa của Cách mạng Tân Hợi.[14] Ngay cả sau đó, Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) cũng được tổ chức theo khuôn mẫu của Trung Quốc Đồng minh Hội do Bác sĩ Tôn Dật Tiên sáng lập tại Trung Quốc năm 1905. Tiêu ngữ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc được Hồ Chí Minh lấy từ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn vẫn được nhà nước Việt Nam dùng cho đến nay.[12]
Ông nội của Tôn Trung Sơn là Tôn Kính Hiền (孫敬賢) có ba người con trai, thứ tự lần lượt là Tôn Đạt Thành (孫達成, cha của Tôn Trung Sơn), Tôn Học Thành (孫學成) và Tôn Quan Thành (孫觀成)[18] Mẹ của ông là Dương thị (楊氏), anh cả là Tôn Mi (孫眉), chị hai là Tôn Kim Tinh (孫金星) , anh ba là Tôn Đức Hựu (孫德佑), chị tư là Tôn Diệu Thiến (孫妙茜), em gái thứ sáu là Tôn Thu Khỉ (孫秋綺). Dòng họ của ông vốn có gốc ở Thường Đức, về sau mới chuyển về Quảng Đông.
Theo nhiều giả thuyết, ông có năm lần kết hôn:
Tập tin:Lumuzhenp.JPGLư Mộ TrinhNguyên phối: Lư Mộ Trinh (卢慕贞, 1867 - 1952), con gái thương nhân Lô Vượt Hiển (盧耀顯), kết hôn năm 1884, ly hôn năm 1915. Bà bó chân từ nhỏ theo truyền thống phụ nữ thời bấy giờ, được mô tả là một người chăm chỉ, hiếu kính bề trên. Sau khi ly hôn, bà trở thành một tín đồ Cơ Đốc giáo tại Hawaii, chuyển đến Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha rồi qua đời tại đây, về sau được cải táng tại thành phố Trung Sơn. Trung Quốc còn bà như Quốc mẫu (國母) của Trung Hoa Dân Quốc.
Tập tin:Chen Cuifen.pngTrần Túy PhầnTrắc thất[20]: Trần Túy Phần (陳粹芬, 1873 - 1960), tên khác là Thụy Phân (瑞芬). Người Phúc Kiến, xuất thân bần hàn, năm 19 tuổi thì nảy sinh tình cảm với Tôn Trung Sơn, từng theo ông lưu vong sang Nhật Bản và tham gia vào công tác tổ chức, chuẩn bị cho các cuộc khởi nghĩa lịch sử. Bà ly thân với ông trước năm 1925 rồi ẩn cư tại bán đảo Mã Lai. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Trần Túy Phân chuyển sang định cư tại Hồng Kông rồi qua đời tại đây.
Thiếp thất/Ngoại thất không chính thức: Asada Haru (淺田春 / あさだ はる, Thiển Điền Xuân, 1882 - 1902), người Nhật Bản, vốn là nữ tỳ của người phiên dịch Tôn Trung Sơn là Ôn Bính Thần.
Các con của ông bao gồm:
Trưởng tử: Tôn Khoa (孫科, 1891 - 1973), mẹ là Lư Mộ Trinh, từng giữ chức Thủ tướng Trung Hoa Dân Quốc trong hai nhiệm kỳ (1932 và 1948).
Nguyên phối: Trần Thục Anh (陳淑英, 1893 - 1990), con gái Trần Thu Quang (陳秋光) và Tôn Điền (孫殿) - em gái Tôn Trung Sơn. Kết hôn năm 1912 tại Honolulu, từng làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Viện Dục anh huyện Trung Sơn, và trúng cử Đại biểu Quốc dân đại hội huyện Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông với tư cách Chủ tịch Đoàn cứu thương thanh niên Hồng Kông, Hội trưởng Hội Quần phúc phụ nữ Hồng Kông. Về sau cùng chồng di cư sang Mỹ rồi qua đời tại Đài Loan.
Trưởng tử: Tôn Trị Bình (孫治平, 1913 - 2005), từng đảm nhiệm Cố vấn Quốc sách Phủ Tổng thống, Ủy viên Trung ương Quốc dân đảng, Ủy viên Hội đồng thẩm định Trung ương Quốc dân đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Truyền hình Đài Loan.
Nhị tử: Tôn Trị Cường (孫治強, 1915 - 2001), tốt nghiệp Đại học California, giữ chức Cố vấn Cục Tín thác Trung ương và Cố vấn Viện Bảo tàng Cố cung Quốc gia.
Trưởng nữ: Tôn Tuệ Anh (孫穗英, 1922 - 2025)
Nhị tử: Tôn Tuệ Hoa (孫穗華, 1925 - 2021)
Tình nhân: Nghiêm Ái Quyên (嚴藹娟), người Chiết Giang, vốn là thư ký của Tôn Khoa, sau khi mang thai thì bị ông ruồng bỏ.
Tam nữ: Tôn Tuệ Phương (孫穗芳, 1936 - ), là tác giả "Ông nội Tôn Trung Sơn của tôi" và "Tập kỷ niệm Tiên sinh Tôn Trung Sơn ông nội của tôi".
Tình nhân: Lam Ni (藍妮, 1912 - 1996), tên khác là Lam Nghiệp Trân (藍業珍), vốn từng là vợ của Lý Định Quốc. Sau khi ly hôn, bà trở thành "Nhị phu nhân" của Tôn Khoa, từng lợi dụng danh tiếng mà cấu kết trục lợi trong chính quyền Uông Tinh Vệ, khiến Tôn Khoa thất bại trong cuộc bầu cử Phó Tổng thống năm 1948. Không lâu sau, hai người đường ai nấy đi.
Tứ nữ: Tôn Tuệ Phân (孫穗芬, 1937 - 2011), là tiếp viên hàng không trẻ nhất trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc.
Nhị nữ: Tôn Vãn (孫婉, 1896 - 1971), mẹ là Lư Mộ Trinh, sinh cùng ngày cùng tháng với cha. Từng sang Mỹ du học, sau đó theo chồng là Ủy viên Ủy ban Ngoại giao Đới Ân Sái định cư tại Ma Cao rồi qua đời tại đây.
Tam nữ: Miyagawa Fumiko (宮川 冨美子 / みやがわ ふみこ, Cung Xuyên Phú Mỹ Tử, 1906 - 1990), mẹ là Đại Nguyệt Huân.
Tên
Phả danh (theo gia phả): Tôn Đức Minh (孫德明)
Ấu danh, tiểu danh (sơ sinh): Tôn Đế Tượng (孫帝象)
Nguyên danh, đại danh (phổ biến đương thời): Tôn Văn (孫文)
Biểu tự (tên chữ): Tải Chi (載之)
Giáo danh (tên thánh): Nhật Tân (日新)
Tên phương Tây: Tôn Dật Tiên (孫逸仙 Sun Yat-sen)
Tên Nhật Bản: Trung Sơn Tiều (中山樵 Nakayama Shō)
Tên phổ biến: Tôn Trung Sơn (孫中山)
Danh hiệu: Quốc phụ (國父)
Tham khảo
^ aăSingtao daily. Saturday edition. ngày 23 tháng 10 năm 2010. 特別策劃 section A18. Sun Yat-sen Xinhai revolution 100th anniversary edition 民國之父.
^游梓翔. [2006] (2006). 領袖的聲音: 兩岸領導人政治語藝批評, 1906–2006. 五南圖書出版股份有限公司 publishing. ISBN 957-11-4268-9, ISBN 978-957-11-4268-5. p 82.
^HK university. [2002] (2002). Growing with Hong Kong: the University and its graduates: the first 90 years. ISBN 962-209-613-1, ISBN 978-962-209-613-4.
^Singtao daily. ngày 28 tháng 2 năm 2011. 特別策劃 section A10. Sun Yat-sen Xinhai revolution 100th anniversary edition.
^South China morning post. Birth of Sun heralds dawn of revolutionary era for China. ngày 11 tháng 11 năm 1999.
^Brannon, John (ngày 16 tháng 8 năm 2007). "Chinatown park, statue honor Sun Yat-sen". Honolulu Star-Bulletin. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2007. During a 1900 visit, Sun told The Advertiser [...] He said in a 1901 interview here that "This is my Hawai'i.
Who is Homer Lea?Lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2011 tại Wayback Machine Sun's best friend. He trained Chinese soldiers and prepared the frame work for the 1911 Chinese Revolution.