Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

(Đổi hướng từ Chủ tịch Trung Quốc)

Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Đương nhiệm
Tập Cận Bình

từ ngày 14 tháng 3 năm 2013
Văn phòng Chủ tịch nước
Kính ngữChủ tịch (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.)
(không chính thức)
His Excellency (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.)
(ngoại giao)
LoạiNguyên thủ quốc gia
Báo cáo tớiỦy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Dinh thựTrung Nam Hải
Trụ sởBắc Kinh
Đề cử bởiĐoàn chủ tịch Kỳ họp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc
Bổ nhiệm bởiĐại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc
Nhiệm kỳNăm năm
Tuân theoHiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Tiền thânChủ tịch Chính phủ nhân dân trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Thành lập27 tháng 9 năm 1954
(Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Time ago”.)
 (1954-09-27)
Người đầu tiên giữ chứcMao Trạch Đông
Bãi bỏ1975–1982
Cấp phóPhó Chủ tịch nước Trung Quốc
Lương bổng136.620 nhân dân tệ mỗi năm[1]

Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Bản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/HeaderBản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/ChineseBản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/ChineseBản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/Footer

Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thường được gọi là chủ tịch nước Trung Quốc, là nguyên thủ quốc gia của Trung Quốc. Chủ tịch nước là một chức vụ mang tính nghi lễ trong hệ thống chính trị của Trung Quốc. Mặc dù chủ tịch nước thực hiện nhiều chức năng của nguyên thủ quốc gia, nhưng Hiến pháp Trung Quốc lại không chính thức quy định chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia. Từ năm 1993, chức vụ chủ tịch nước do tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương kiêm nhiệm.

Căn cứ quyết định của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, chủ tịch nước thực hiện những nhiệm vụ và quyền han của nguyên thủ quốc gia. Mặc dù chức vụ chủ tịch nước không có nhiều thực quyền, nhưng kể từ ngày 27 tháng 3 năm 1993, chủ tịch nước kiêm nhiệm chức vụ tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương, trên thực tế là nhà lãnh đạo quốc gia tối cao, tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Trung Quốc.

Tiền thân của chức vụ chủ tịch nước là tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1912. Tôn Trung Sơn là tổng thống đầu tiên của Trung Quốc. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, chức vụ người đứng đầu Nhà nước là chủ tịch Chính phủ nhân dân trung ương. Chức vụ chủ tịch nước hiện tại được thành lập theo Hiến pháp năm 1954. Mao Trạch Đông là chủ tịch nước đầu tiên của Trung Quốc. Sau cuộc Đại Cách mạng Văn hóa vô sản, chức vụ chủ tịch nước bị bãi bỏ theo Hiến pháp năm 1975, chức năng nguyên thủ quốc gia được giao cho ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Chức vụ chủ tịch nước được tái lập theo Hiến pháp năm 1982 nhưng bị hạn chế quyền hành. Giới hạn nhiệm kỳ chủ tịch nước bãi bỏ vào năm 2018; trước đó, chủ tịch nước không được giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Lịch sử

Thành lập

Hiến pháp năm 1954 cũng quy định chủ tịch nước triệu tập, chủ trì Hội nghị quốc vụ tối cao khi cần thiết.[2] Phó chủ tịch nước, ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, tổng lý Quốc vụ viện và những quan chức khác tham gia Hội nghị quốc vụ tối cao. Chủ tịch nước trình bày ý kiến của các thành viên Hội nghị quốc vụ tối cao trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Quốc vụ viện xem xét, quyết định.[2] Hội nghị quốc vụ tối cao cũng bị bãi bỏ theo Hiến pháp năm 1975.

Chức vụ chủ tịch nước được thành lập theo Hiến pháp năm 1954.[2] Những quyền hạn của chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1954 phần lớn giống với những quyền hạn theo Hiến pháp năm 1982, ngoại trừ hai điểm khác biệt.[2] Hiến pháp năm 1954 quy định chủ tịch nước thống lĩnh lực lượng vũ trang của Trung Quốc và là chủ tịch Hội đồng quốc phòng.[2] Hội đồng quốc phòng bị bãi bỏ theo Hiến pháp năm 1975. Hiện tại, Ủy ban Quân sự Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang của Trung Quốc

1954–1975

Mao Trạch Đông được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa I bầu làm chủ tịch nước đầu tiên vào năm 1954. Phó Chủ tịch thứ nhất Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ kế nhiệm Mao làm chủ tịch nước vào năm 1959. Lưu tái cử nhiệm kỳ thứ hai vào tháng 1 năm 1965 nhưng bị hạ bệ trong Đại Cách mạng Văn hóa vô sản do Mao phát động. Lưu bị cách tất cả chức vụ trong đảng và nhà nước vào ngày 31 tháng 10 năm 1968, bao gồm chức vụ chủ tịch nước. Sau khi Lưu bị bãi nhiệm, chức vụ chủ tịch nước bị bỏ trống. Từ năm 1972 đến năm 1975, truyền thông nhà nước gọi Phó Chủ tịch nước Đổng Tất Vũ là "quyền chủ tịch nước".

Bãi bỏ

Chức vụ chủ tịch nước bị bãi bỏ theo Hiến pháp năm 1975. Chức năng, nhiệm vụ của nguyên thủ quốc gia được chuyển giao cho ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc.[3] Hiến pháp năm 1978 không tái lập chức vụ chủ tịch nước, nhưng nhấn mạnh các vai trò nghi lễ của ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc với tư cách là nguyên thủ quốc gia.[4][ tốt hơn nguồn cần thiết ]

Từ năm 1982

Vấn đề tái lập chức vụ chủ tịch nước lại được đưa ra tranh luận trong quá trình sửa đổi hiến pháp vào năm 1980. Thực tiễn đã cho thấy việc ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc làm nguyên thủ quốc gia gây ra nhiều vấn đề vì chức vụ này tương đương với chủ tịch quốc hội ở những nước khác. Đặng Tiểu Bình đồng ý tái lập chức vụ chủ tịch nước nhưng không có quyền tham gia công việc của chính phủ.[4]

Chức vụ chủ tịch nước được tái lập trong Hiến pháp năm 1982.[4] Hiến pháp năm 1982 quy định chủ tịch nước là một chức vụ nghi lễ, có vai trò tương tự như tổng thống trong các nước cộng hòa đại nghị. Thực quyền lực được trao cho tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, tổng lý Quốc vụ việnchủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương. Chủ tịch nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nghi lễ như tiếp nhận đại sứ của nước ngoài, bổ nhiệm nhân viên đại sứ quán và không can thiệp vào công việc của Quốc vụ viện hoặc đảng. Hiến pháp cũng quy định chủ tịch nước và phó chủ tịch nước không được giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp.[cần trích dẫn]

Vào thập niên năm 1980, các chức vụ tổng lý Quốc vụ viện, chủ tịch nước và tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc do nhiều người nắm giữ. Tuy nhiên, quyền lực chính trị trên thực tế tập trung vào tay Đặng Tiểu Bình mặc dù ông không giữ chức vụ nào trong ba chức vụ trên. Chủ tịch nước Lý Tiên NiệmDương Thượng Côn có vai trò quan trọng trong giới lãnh đạo vì là một trong Bát đại nguyên lão.[5]

Sau xung đột giữa Đặng Tiểu BìnhTriệu Tử Dương về Sự kiện Thiên An Môn, chức vụ chủ tịch nước và tổng bí thư được nhất thể hóa. Năm 1993, Tổng Bí thư, Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Giang Trạch Dân đảm nhiệm chức chủ tịch nước, trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc.[6][7] Năm 2003, Phó Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào trở thành phó chủ tịch nước đầu tiên kế nhiệm chủ tịch nước sau khi Giang Trạch Dân từ chức. Năm 2013, Tập Cận Bình kế nhiệm Hồ Cẩm Đào làm chủ tịch nước.[8]

Ngày 11 tháng 3 năm 2018, tại kỳ họp thứ nhất, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa XIII thông qua sửa đổi hiến pháp bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ đối với chủ tịch nước và phó chủ tịch nước.[9] Tập Cận Bình giải thích rằng cần phải đồng bộ chức vụ chủ tịch nước với các chức vụ tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc và chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương không có giới hạn nhiệm kỳ.[10]

Quy trình bầu cử

Tiêu chuẩn

Ứng cử viên chủ tịch nước phải có đủ các điều kiện sau đây:

  • là công dân Trung Quốc;
  • có quyền bầu cử và ứng cử;
  • đủ 45 tuổi trở lên.[11]

Bầu cử

Luật Tổ chức Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc quy định chủ tịch nước do Đoàn chủ tịch Kỳ họp Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đề cử.[12] Trên thực tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định danh sách đề cử.[13][14] Về mặt lý thuyết, Đoàn chủ tịch Kỳ họp có thể đề cử nhiều ứng cử viên chủ tịch nước, nhưng chỉ luôn có một ứng cử viên trong tất cả các cuộc bầu cử.[13]

Sau khi được đề cử, chủ tịch nước được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra. Ứng cử viên chủ tịch nước phải nhận được ít nhất quá nửa số phiếu bầu.[11] Nhiệm kỳ của chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc.[11] Từ năm 2018, chủ tịch nước phải tuyên thệ nhậm chức trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc.[13]

No. Năm Khóa Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Tổng số đại biểu Chủ tịch nước Tham gia Tán thành Không tán thành Bỏ phiếu trắng
1 1954 Khóa I 1.226 Mao Trạch Đông 1.210 1.210 0 0
2 1959 Khóa II 1.235 Lưu Thiếu Kỳ
1964 Khóa III 3.040
3 1983 Khóa VI 2.978 Lý Tiên Niệm
4 1988 Khóa VII 2.970 Dương Thượng Côn 2.970 2.812 124 34
5 1993 Khóa VIII 2.977 Giang Trạch Dân 2.918 2.858 35 25
1998 Khóa IX 2.983 2.947 2.882 36 29
6 2003 Khóa X 2.985 Hồ Cẩm Đào 2.944 2.937 4 3
2008 Khóa XI 2.987 2.964 2.956 3 5
7 2013 Khóa XII 2.987 Tập Cận Bình 2.956 2.952 1 3
2018 Khóa XIII 2.980 2.970 2.970 0 0
2023 Khóa XIV 2.980 2.952 2.952 0 0

Nhiệm vụ và quyền hạn

Chủ tịch nước thay mặt Trung Quốc về đối nội và đối ngoại.[15]

Căn cứ quyết định của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc,[11][15] chủ tịch nước công bố luật và pháp lệnh, bổ nhiệm, miễn nhiệm tổng lý Quốc vụ viện, phó tổng lý, bộ trưởng các bộ, chủ nhiệm các ủy ban, ban bố lệnh đại xá, lệnh đặc xá, tuyên bố tình trạng chiến tranh, ban bố thiết quân luật, lệnh động viên và tặng thưởng huân chương, danh hiệu vinh dự nhà nước. Ngoài ra, chủ tịch nước cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền, tiếp nhận đại sứ của nước ngoài và ký điều ước quốc tế.

Chủ tịch nước cũng thay mặt Nhà nước thực hiện các chuyến thăm cấp nhà nước.[chú thích 1] Quyền thăm cấp nhà nước của chủ tịch nước là quyền hạn duy nhất không phải căn cứ quyết định của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Phần lớn quyền hạn của chủ tịch nước phụ thuộc vào sự phê chuẩn của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, nên chủ tịch nước về bản chất là một chức vụ mang tính biểu tượng và không trực tiếp tham gia điều hành chính phủ, không thực hiện quyền hành pháp.[16]Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[17]

Kế nhiệm

Trong trường hợp khuyết chủ tịch nước thì phó chủ tịch nước làm chủ tịch nước. Nếu khuyết cả chủ tịch nước và phó chủ tịch nước thì chủ tịch Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc giữ quyền chủ tịch nước cho đến khi Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra chủ tịch nước và phó chủ tịch nước mới.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Thứ tự kế nhiệm chủ tịch nước

No. Chức vụ Đương nhiệm
1 Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hàn Chính
2 Ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Triệu Lạc Tế

Danh sách nguyên thủ quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Số Hình Họ tên Đảng Nhậm chức Mãn nhiệm Thời gian đương nhiệm Phó chủ tịch nước Đã từng làm phó chủ tịch nước không?
Chủ tịch Chính phủ nhân dân trung ương (1949-1954)
1   Mao Trạch Đông Đảng Cộng sản Trung Quốc 1 tháng 10 năm 1949 27 tháng 9 năm 1954 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh, Trương Lan, Lý Tế Thâm, Cao Cương Không
Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1954-1968)
1 Mao Trạch Đông Đảng Cộng sản Trung Quốc 27 tháng 9 năm 1954 27 tháng 4 năm 1959 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Chu Đức Không
2   Lưu Thiếu Kỳ 27 tháng 4 năm 1959 31 tháng 10 năm 1968

(chưa bị bãi nhiệm theo hiến pháp[chú thích 2])

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Tống Khánh Linh, Đổng Tất Vũ Bản mẫu:Notetag
Thời kỳ khuyết chủ tịch nước và quyền chủ tịch nước (1968-1975)
-   Tống Khánh Linh Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc 31 tháng 10 năm 1968 24 tháng 2 năm 1972 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Thực hiện quyền hạn của chủ tịch nước cùng với Đổng Tất Vũ với tư cách là phó chủ tịch nước[chú thích 3]
-   Đổng Tất Vũ Đảng Cộng sản Trung Quốc 31 tháng 10 năm 1968 17 tháng 1 năm 1975 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Thực hiện quyền hạn của chủ tịch nước cùng với Tống Khánh Linh với tư cách là phó chủ tịch nước Từ năm 1968 đến năm 1972; từ tháng 2 năm 1972, ông chính thức giữ quyền chủ tịch nước
Từ năm 1975 đến năm 1982 không quy định chủ tịch nước, quyền hạn của chủ tịch nước do uỷ viên trưởng Uỷ ban thường vụ Nhân Đại toàn quốc thực hiện
Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1983 - hiện tại)
3   Lý Tiên Niệm Đảng Cộng sản Trung Quốc 18 tháng 6 năm 1983 8 tháng 4 năm 1988 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Ô Lan Phu Không
4   Dương Thượng Côn 8 tháng 4 năm 1988 27 tháng 3 năm 1993 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Vương Chấn Không
5   Giang Trạch Dân 27 tháng 3 năm 1993 15 tháng 3 năm 2003 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Vinh Nghị Nhân

Hồ Cẩm Đào

Không
6   Hồ Cẩm Đào 15 tháng 3 năm 2003 14 tháng 3 năm 2013 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Tăng Khánh Hồng

Tập Cận Bình

7   Tập Cận Bình 14 tháng 3 năm 2013[18] Đương nhiệm Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Date' not found. Lý Nguyên Triều

Vương Kỳ Sơn

Hàn Chính

Phu nhân chủ tịch nước

Kể từ Mao Trạch Đông, đã có sáu phu nhân chủ tịch nước. Phu nhân chủ tịch nước hiện tại là Bành Lệ Viện, vợ của Tập Cận Bình.

No. Hình Họ tên Chủ tịch nước Nhiệm kỳ
1 Tập tin:1967-07 1967年4月20日北京市革命委员会成立 江青 (1to1).jpg Giang Thanh Mao Trạch Đông 27 tháng 9 năm 1954 – 27 tháng 4 năm 1959
2 Tập tin:Guangmei.jpg Vương Quang Mỹ Lưu Thiếu Kỳ 27 tháng 4 năm 1959 – 31 tháng 10 năm 1968
3 Tập tin:Lin Jiamei, 1985 (cropped).jpg Lâm Giai My Lý Tiên Niệm 18 tháng 6 năm 1983 – 8 tháng 4 năm 1988
Không có Dương Thượng Côn 8 tháng 4 năm 1988 – 27 tháng 3 năm 1993
4 Tập tin:Wang Yeping.jpg Vương Dã Bình Giang Trạch Dân 27 tháng 3 năm 1993 – 15 tháng 3 năm 2003
5 Tập tin:Liu Yongqing.jpg Lưu Vĩnh Thanh Hồ Cẩm Đào 15 tháng 3 năm 2003 – 14 tháng 3 năm 2013
6 Tập tin:Peng Liyuan (2019) (cropped).jpg Bành Lệ Viện Tập Cận Bình 14 tháng 3 năm 2013 – hiện tại

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Hiện tại, chuyên cơ quốc tế của chủ tịch nước là một chiếc Boeing 747-8i đặc biệt.
  2. ^ Ngày 31 tháng 10 năm 1968, Hội nghị toàn thể lần thứ 12 Uỷ ban Trung ương khoá 8 Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định cách tất cả chức vụ trong ngoài Đảng của Lưu Thiếu Kỳ. Tuy nhiên, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khoá III bị tê liệt vào thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa vô sản và không thể triệu tập hội nghị toàn thể để bãi nhiệm chức vụ chủ tịch nước của Lưu Thiếu Kỳ. Ngày 12 tháng 11 năm 1969, Lưu Thiếu Kỳ qua đời vì bệnh tật. Từ tháng 2 năm 1972 đến tháng 1 năm 1975, Đổng Tất Vũ giữ quyền chủ tịch nước. Ngày 17 tháng 1 năm 1975, Hội nghị lần thứ nhất Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khoá IV thông qua Hiến pháp mới, bãi bỏ chức vụ chủ tịch nước và phó chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
  3. ^ Ngày 16 tháng 5 năm 1981, Tống Khánh Linh được Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc trao tặng danh hiệu "chủ tịch danh dự Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa".

Tham khảo

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ a ă â b c Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  3. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  4. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Foreword in Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  7. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  8. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  9. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  10. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  11. ^ a ă â b Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  12. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  13. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  14. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  15. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  16. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  17. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  18. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Thư mục

Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.

  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Bản mẫu:Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung HoaLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Navbox/configuration' not found.