Chu Khí Thịnh
| Chu Khí Thịnh 朱器墭 | |
|---|---|
| Đường Dụ vương (唐裕王) | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | ? |
| Mất | 1629 |
| Phối ngẫu | xem văn bản |
| Hậu duệ | Chu Duật Kiện |
| Thân phụ | Đường Đoan vương Chu Thạc Hoàng |
| Thân mẫu | Thứ phi Ngụy thị (魏氏) |
Chu Khí Thịnh (chữ Hán: 朱器墭, ? - 1629), được biết đến với tước hiệu Đường Dụ vương (唐裕王)[1] là một tông thất nhà Minh, hậu duệ của Đường Định vương Chu Kính (朱桱).
Với tư cách là sinh phụ của Minh Thiệu Tông Chu Duật Kiện và Thiệu Vũ Đế Chu Duật Việt, ông được con trai truy phong Hoàng đế sau khi qua đời[2].
Tiểu sử
Chu Khí Thịnh không rõ năm sinh, là con trai trưởng của Đường Đoan vương Chu Thạc Hoàng (朱宙栐), hậu duệ con trai Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương là Đường Định vương Chu Kính. Sinh mẫu của ông là Thứ phi[3] Ngụy thị (魏氏), đích mẫu của ông là Vương phi Tô thị (蘇氏).
Năm Vạn Lịch thứ 22 (1594), ông được sách phong làm Đường vương phủ Thế tử. Cha ông Chu Thạc Hoàng là người có đức hạnh lại có lòng hiếu thảo nên được triều đình và dân chúng tán thưởng, tuy nhiên khi về già lại vô cùng sủng ái thiếp thất Ngô thị (吳氏), người sinh ra em trai ông là Chu Khí Sảng (朱器塽). Chu Khí Thịnh có một khối u trên môi, Ngô thị lấy cớ đó mà chèn ép Thế tử để đưa con trai bà ta lên thay, vì vậy ông bị cha mình giam cầm ông tại Thừa Phụng ty. Chu Thạc Hoàng thậm chí còn muốn giết chết ông, tuy nhiên nhờ bà nội ông là Đường Thuận vương Kế phi Ngụy thị (魏氏) kịch liệt phản đối nên chuyện này không thành.
Năm Sùng Trinh thứ 2 (1629), ông qua đời, nghi là bị hai em trai khác mẹ là Chu Khí Sảng và Chu Khí Tuấn (朱器埈) đầu độc chết. Con trai ông là Chu Duật Kiện kế thừa tước vị Đường vương, truy thụy Dụ (裕), sau khi xưng đế thì tặng Tuyên Hoàng đế (宣皇帝)[4].
Gia quyến
Tổ tiên
Nhánh của Đường vương trong hoàng thất nhà Minh luôn nổi danh là "cung kính hiếu thảo, giỏi văn chương thi từ".
- Thủy tổ: Đường Định vương Chu Kính
- Thất tổ phụ: Đường Hiến vương Chu Quỳnh Đạt (朱瓊炟, 1412 - 1475)
- Thất tổ mẫu: Vương phi Tống thị (宋氏), con gái Đông Thành chỉ huy binh mã Tống Chân (宋真).
- Lục tổ phụ: Đường Trang vương Chu Chi Chi (朱芝址, 1432 - 1484), sơ phong Vũ Dương vương (舞陽王).
- Viễn tổ phụ: Văn Thành Cung Tĩnh vương Chu Di Kiềm (朱彌鉗, 1463 - 1516), truy thụy Đường Cung vương (唐恭王).
- Viễn tổ mẫu: Vương phi Dương thị (楊氏).
- Tằng tổ phụ: Đường Kính vương Chu Vũ Ôn (朱宇温, 1490 - 1560), truy phong Huệ Hoàng đế (惠皇帝).
- Tổ phụ: Đường Thuận vương Chu Trụ Vịnh (朱宙栐, 1538 - 1565), truy phong Thịnh Hoàng đế (順皇帝).
- Thân phụ: Đường Đoan vương Chu Thạc Hoàng (朱碩熿, ? - 1630), truy phong Đoan Hoàng đế (端皇帝)[8].
- Đích mẫu: Vương phi Tô thị (蘇氏), người huyện Nam Dương, vốn là con gái một thường dân tên Tô Đạo Trung (苏道忠), phong Vương phi năm Vạn Lịch thứ 5 (1577).
- Sinh mẫu: Thứ phi Ngụy thị (魏氏), có quan hệ họ hàng với Kế phi Ngụy thị, tặng Đoan Hoàng hậu (端皇后).
- Thứ mẫu: Thứ phi Ngô thị (吳氏, ? - 1636), sủng thiếp, sau khi con trai bị giết thì đau buồn mà chết.
Anh em
- Nhị đệ, tam đệ, tứ để khuyết danh, chết yểu.
- Phúc Sơn vương Chu Khí Sảng (朱器塽, ? - 1636), mẹ là Ngô thị. Được cha yêu mà sinh kiêu, đầu độc chết anh trai, về sau bị Chu Duật Kiện đánh chết.
- Thanh Nguyên vương Chu Khí Diên (朱器埏)
- An Dương vương Chu Khí Tuấn (朱器埈, ? - 1646), mẹ là Ngô thị. Đầu độc chết anh trai, bị Chu Duật Kiện đánh trọng thương, những năm cuối Sùng Trinh được giao trấn giữ Khai Phong. Khai Phong thất thủ, theo Hoằng Quang Đế chạy xuống phương nam, bị quân Thanh bắt được và xử tử tại Bắc Kinh.
- Bảo Khánh vương Chu Khí Tăng (朱器增)
- Vĩnh Hưng vương Chu Khí Bồi (朱器培)
- Vĩnh Thọ vương Chu Khí Kỳ (朱器圻, ? - 1645), mẹ là Ngô thị, những năm cuối Sùng Trinh được giao trấn giữ Khai Phong. Khai Phong thất thủ, theo Hoằng Quang Đế chạy xuống phương nam, sau khi Hoàng đế bị bắt thì cùng vợ là Vương phi Trịnh thị (鄭氏) gieo mình xuống sông tự sát, được anh trai Chu Khí Tuấn chôn cất tại Nam Kinh.
- Đặng vương Chu Khí Thống (朱器䵺, ? - 1647), sơ phong Đức An vương (德安王). Từng cùng Chu Duật Việt giám quốc tại Phúc Châu. Phúc Kinh thất thủ, ông chạy đến Quảng Châu, sau cùng Chu Duật Việt cùng nhiều vương gia khác bị hại tại đây.
Thê thiếp
- Vương phi Trương thị (張氏), nguyên phối, về sau truy phong Hoàng hậu nhưng không có thụy hiệu[9].
- Vương phi Mao thị (毛氏), kế phối, là sinh mẫu của Chu Duật Kiện, tặng Tuyên Hoàng hậu (宣皇后)[10].
- Thứ phi Trần thị (陳氏, ? - 1646), trắc thất, danh xưng Quang Hoa Trần phi (光華陳妃), có thuyết chép là Phu nhân (夫人), anh trai là Trung thư xá nhân Trần Thuần (陈纯), mẹ là Tưởng thị (蒋氏). Chu Duật Kiện xưng đế, tôn vị Thái phi (太妃), sau khi Chu Duật Kiện bị quân Thanh giết thì cùng gia quyến bị sát hại không lâu sau, được dân chúng chôn cất tại núi La Hán.
- Thứ phi Diêu thị (姚氏, ? - 1646), trắc thất, sau tôn vị Thái phi (太妃), qua đời trong lúc cùng hoàng thất Nam Minh di chuyển đến Quảng Đông.
- Thứ thiếp Thẩm thị (沈氏, ? - 1646), người Kim Hoa. Chu Duật Kiện xưng đế, tôn vị Thái tần (太嫔), sau khi Chu Duật Kiện bị quân Thanh giết thì cùng gia quyến bị sát hại không lâu sau, được dân chúng chôn cất tại núi La Hán.
Con cái
Con trai
- Chu Duật Kiện, tức Long Vũ Đế nhà Nam Minh, mẹ là Vương phi Mao thị.
- Đường Mẫn vương Chu Duật Sắt (朱聿鏼, ? - 1641), mẹ là Vương phi Mao thị. Do Chu Duật Kiện tự ý đem quân nên bị Sùng Trinh phế làm thứ dân nên được thừa kế tước vị Đường vương. Nam Dương phủ bị quân của Lý Tự Thành công phá, Chu Duật Sắt bị sát hại ở Kỳ Lân các (麒麟閣) trong Đường vương phủ.
- Chu Duật Việt, tức Thiệu Vũ Đế nhà Nam Minh, mẹ là Vương phi Mao thị.
- Đường vương Chu Duật Ngạc (朱聿鍔, ? - 1659), mẹ không rõ. Thừa kế tước vị Đường vương, về sau di chuyển đến Văn Thôn (nay thuộc Quảng Đông). Văn Thôn bị quân Thanh bao vây, Chu Duật Ngạc uống thuốc độc tự sát tuẫn quốc. Ông là người giữ tước vị Đường vương cuối cùng, do không có con cái nên tước hiệu bị trừ về sau.
- Trần Mẫn vương Chu Duật Khiết (朱聿𨧨, ? - 1641), mẹ không rõ, tử nạn cùng Chu Duật Sắt. Có một con trai là Chu Lâm Mỹ (朱琳渼) được phong Thế tử, sau khi nhà Nam Minh rút khỏi Quảng Đông thì không còn tung tích.
Con gái
- Vĩnh An huyện chúa (永安縣主), mẹ là Vương phi Mao thị. Long Vũ Đế đăng cơ tiến phong Công chúa, lấy Củng Vĩnh Cố (鞏永固).
Chú thích
- ^ 墭,亦作上城下皿
- ^ Long Vũ đế truy tôn thành Tuyên Hoàng đế (宣皇帝)
- ^ ở đây ám chỉ thân phận [Nhị phi], chỉ đứng sau Vương phi
- ^ 第一集·卷三十七 隆武即位詔. 歷代寶案. : 1198.
弘光主,朕親上尊號曰聖安皇帝,併於登極之日,上朕高、曾、祖、考尊謚曰:惠皇帝、惠皇后;順皇帝、順皇后;端皇帝、端皇后;宣皇帝、宣皇后。伸此尊親之典,盡朕孺慕之誠。臣民此後遵守,以恪崇秩。
- ^ 《南明史·卷二十六·列傳第二》
- ^ ám chỉ người vợ đầu của ông nội
- ^ ám chỉ người vợ kế của ông nội
- ^ 第一集·卷三十七 隆武即位詔. 歷代寶案. : 1198.
弘光主,朕親上尊號曰聖安皇帝,併於登極之日,上朕高、曾、祖、考尊謚曰:惠皇帝、惠皇后;順皇帝、順皇后;端皇帝、端皇后;宣皇帝、宣皇后。伸此尊親之典,盡朕孺慕之誠。臣民此後遵守,以恪崇秩。
- ^ 《南明史·卷二十六·列傳第二》:器墭以萬曆二十二年封世子,妃張、毛,生紹宗。……紹宗即位,追尊諡敬、順、端、裕四世為皇帝,妃趙、周、魏、張、毛為皇后。毛皇后早世。
- ^ 第一集·卷三十七 隆武即位詔. 歷代寶案. : 1198.
弘光主,朕親上尊號曰聖安皇帝,併於登極之日,上朕高、曾、祖、考尊謚曰:惠皇帝、惠皇后;順皇帝、順皇后;端皇帝、端皇后;宣皇帝、宣皇后。伸此尊親之典,盡朕孺慕之誠。臣民此後遵守,以恪崇秩。