Comatulida
Comatulida là một bộ thuộc lớp Huệ biển. Các thành viên thuộc bộ này được gọi là sao lông vũ và hầu hết không có cuống khi đã trưởng thành. Mặt miệng hướng lên trên, được bao quanh bởi 5 cánh (thường chẻ nhánh) mang các vảy nhỏ dạng lông chim. Các loài trong bộ này sống ở đáy biển và trên các rạn san hô thuộc vùng biển nhiệt đới cũng như ôn đới.
| Comatulida | |
|---|---|
| Khoảng thời gian tồn tại: | |
| Lamprometra palmata | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Echinodermata |
| Lớp: | Crinoidea |
| Phân lớp: | Articulata |
| Order: | Comatulida |
Phân loại
Bourgueticrinida (thường được gọi là huệ biển) theo truyền thống từng được xem là một bộ thuộc Articulata và là một taxon chị em với Comatulida. Tuy nhiên, một nghiên cứu xuất bản năm 2011 đã đề xuất đổi tên nhóm này thành Bourgueticrinina và coi đây là một phân bộ của Comatulida.[1]
Đặc điểm
Giống như các loài da gai khác, sao lông vũ trưởng thành có đối xứng ngũ đài (5 phần), trong khi ấu trùng của chúng có đối xứng hai bên. Vào giai đoạn phát triển muộn, ấu trùng bám vào đáy biển bằng một chiếc cuống, nhưng trong quá trình biến thái, huệ biển non sẽ tách khỏi cuống và chuyển sang sống tự do. Cơ thể chúng có bộ xương trong cấu tạo từ nhiều tấm đá vôi khớp với nhau gọi là các xương nhỏ (ossicle), bao phủ bên ngoài bởi một lớp biểu bì mỏng. Cơ thể có dạng hình chén (đài chén - calyx) với một nắp đậy (màng bao - tegmen), sở hữu miệng nằm ở trung tâm và lỗ hậu môn ở gần mép, nối với nhau bằng một đường ống tiêu hóa hình chữ U. Gần gốc của mặt đối miệng (mặt dưới) có một vòng các phụ bộ dạng móng chuốt (tua bám - cirri); chúng dùng các tua này để bám chặt vào giá thể, giúp sao lông vũ giữ cố định vị trí.[2][3]
Có 5 cánh (tia) dài, thường phân nhánh, gắn xung quanh mép màng bao. Mỗi cánh này lại tiếp tục chia thành các nhánh nhỏ hơn dạng lông chim (pinnule). Hầu hết các loài sao lông vũ ban đầu có 10 cánh (tay), do mỗi tia chính phân chia một lần. Các tay này rất dễ gãy, và nếu một tay bị gãy mất, ít nhất hai tay mới sẽ mọc ra tại vị trí đó; nhờ vậy, số lượng tay có thể tăng lên.[3] Các tay được cấu tạo từ các xương nhỏ khớp với nhau và liên kết bằng dây chằng, các nhánh lông chim cũng có cấu trúc tương tự. Các tay rất linh hoạt, có thể xòe rộng hoặc cuộn tròn lại. Một rãnh chân ống (ambulacral groove) bắt đầu từ mỗi nhánh lông chim và hợp nhất với các rãnh khác để tạo thành các rãnh lớn trên tay, tất cả đều dẫn đến các rãnh trên màng bao và kết thúc tại miệng. Các rãnh thu thập thức ăn này được che phủ bởi các tấm đá vôi nhỏ (lappet) và có một lớp lông rung mịn lót bên trong.[3]
Tập tính
Nhiều loài sao lông vũ sống trong các khe nứt, dưới các rạn san hô hoặc bên trong bọt biển, với bộ phận duy nhất có thể nhìn thấy là một vài cánh (tay). Một số loài chỉ chui ra ngoài vào ban đêm và đậu trên các gờ đá cao để kiếm ăn. Nhiều loài có thể di chuyển trên đáy biển bằng cách nâng cơ thể lên trên các tay. Nhiều loài còn có thể bơi bằng tay, nhưng hầu hết chúng sống khá cố định và hiếm khi di chuyển xa khỏi nơi ẩn nấp đã chọn.[4]
Tập tính ăn
Sao lông vũ là nhóm động vật ăn lọc. Các tay được xòe rộng và giữ ở vị trí giúp tối đa hóa diện tích bắt mồi đối với dòng nước. Tại mỗi khớp nối giữa các xương nhỏ trên nhánh lông chim có một nhóm gồm ba chân ống không có giác hút. Chân ống dài nhất trong số này đảm nhận việc dò tìm sinh vật phù du trong vùng nước xung quanh. Khi phát hiện được hạt thức ăn, cả ba chân ống sẽ phối hợp thu gom và đẩy hạt đó vào rãnh chân ống. Tại đây, thức ăn được trộn với chất nhầy tạo thành viên thức ăn và di chuyển dần xuống miệng nhờ chuyển động của các lông rung, đồng thời được các tấm đá vôi nhỏ (lappet) giữ lại bên trong rãnh.[4]
Sinh sản
Sao lông vũ là động vật phân tính, với mỗi cá thể mang giới tính đực hoặc cái riêng biệt. Các giao tử được sản sinh trong các nhánh lông chim chuyên hóa ở gốc các tay, và quá trình thụ tinh diễn ra bên ngoài. Ấu trùng thuộc dạng phù du và trôi nổi theo dòng nước. Sau nhiều giai đoạn ấu trùng, chúng định cư ở đáy biển và neo mình bằng một chiếc cuống. Khi biến thái, chiếc cuống bị đứt ra và cá thể non có thể tự do di chuyển.[5]
Sinh thái học
Sao lông vũ có thành phần cấu tạo chứa 80% canxi cacbonat nên không phải là món ăn hấp dẫn đối với hầu hết các loài săn mồi. Một số loài cá được biết đến là ăn chúng, thường bằng cách rỉa đứt một cánh (tay) hoặc khối nội tạng, và cả hai bộ phận này đều có khả năng tái sinh. 47% số mẫu vật được một nhà nghiên cứu quan sát thấy bị thiếu một hoặc nhiều tay hoặc có chi đang trong quá trình tái sinh, do đó tỉ lệ săn mồi không gây tử vong có lẽ là thấp. Nhiều loài động vật không xương sống khác sống hội sinh giữa các cánh của huệ biển, và những con mồi nhỏ này có thể mới là mục tiêu chính của hầu hết các loài săn mồi.[6] Loài sao lông vũ Florometra serratissima ở phía đông bắc Thái Bình Dương đã được ghi nhận là bị săn bởi cua ngụy trang[7] Oregonia gracilis và loài sao biển hướng dương Pycnopodia helianthoides. Việc mất các tay có thể là do hiện tượng Tự đứt, tức là tự rụng một tay để bảo vệ phần cơ thể còn lại. Người ta phát hiện một tay dài 20 xentimét (7,9 in) ở loài này đã tái sinh hoàn toàn trong vòng 9 tháng.[8]
Bộ Comatulida
Cơ sở dữ liệu sinh vật biển thế giới (World Register of Marine Species) bao gồm các phân bộ, thượng họ và họ sau thuộc bộ Comatulida: [9]
- Phân bộ Bourgueticrinina
- Họ Atelecrinidae
- Họ Bathycrinidae
- Họ Phrynocrinidae
- Họ Rhizocrinidae
- Phân bộ Oligophreata
- Thượng họ Antedonoidea
- Họ Antedonidae
- Họ Pentametrocrinidae
- Họ Zenometridae
- Thượng họ Comatuloidea
- Họ Comatulidae
- Thượng họ Himerometroidea
- Họ Colobometridae
- Họ Himerometridae
- Họ Mariametridae
- Họ Zygometridae
- Thượng họ Notocrinoidea
- Họ Aporometridae
- Họ Notocrinidae
- Thượng họ Tropiometroidea
- Họ Asterometridae
- Họ Calometridae
- Họ Charitometridae
- Họ Maorimetridae[11]
- Họ Ptilometridae
- Họ Thalassometridae
- Họ Tropiometridae
- Thượng họ incertae sedis trong bộ Comatulida
- Họ Atopocrinidae
- Họ Bourgueticrinidae
- Họ Eudiocrinidae
- Họ Guillecrinidae
- Họ Septocrinidae
Tham khảo
- ^ Hess, H.; Messing, C. G. (2011). "Comatulida". Trong: Hess H., Messing C. G., Ausich W. I. Treatise on Invertebrate Paleontology, Part T, Echinodermata 2 Revised, 1633 Crinoidea, tập 3. University of Kansas Press, Lawrence, Kansas, tr. 70–146.
- ^ Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Nhà xuất bản Saunders College. tr. 790–792. ISBN 0-03-030504-7.
- ^ a b c Messing, Charles. "Vương miện và đài hoa". Trang Crinoid của Charles Messing. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012.
- ^ a b Messing, Charles. "Cơ chế kiếm ăn của huệ biển". Trang Crinoid của Charles Messing. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012.
- ^ "Sao lông vũ, Bộ Comatulida". Wild Singapore. tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012.
- ^ Messing, Charles. "Săn mồi các loài huệ biển sống". Trang Crinoid của Charles Messing. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012.
- ^ Cua ngụy trang được ghi nhận là cắt các tay của huệ biển để dùng làm lớp ngụy trang. Hugh B. Cott, Adaptive Coloration in Animals, Oxford, 1940. tr. 360.
- ^ Mladenov, Philip V. (1983). "Tốc độ tái tạo cánh tay và các nguyên nhân tiềm tàng gây mất cánh tay ở sao biển lông vũ Florometra serratissima (Echinodermata: Crinoidea)". Tạp chí Động vật học Canada. 61 (12): 2873–2879. doi:10.1139/z83-375.
- ^ Messing, Charles (2023). "Comatulida". WoRMS. World Register of Marine Species. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Conometridae". GBIF. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2025.
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Cite_Q tại dòng 13: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
Liên kết ngoài
Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).