Đảng Bảo thủ (Vương quốc Liên hiệp Anh)

(Đổi hướng từ Conservative Party (UK))

Đảng Bảo thủ và Liên hiệp Anh (Conservative and Unionist Party), thường được gọi là Đảng Bảo thủ (Conservative Party), là một chính đảng lớn ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Trên phổ chính trị, đảng nằm ở khuynh hướng từ trung hữu đến hữu khuynh. Sau thất bại trước Công đảng tại kỳ tổng tuyển cử năm 2024, Đảng Bảo thủ hiện là lực lượng chính trị lớn thứ hai tính theo số phiếu bầu và số ghế tại Hạ viện Anh, nắm giữ vai trò chính thức là "Phe Đối lập Trung thành Nhất của Quốc vương" (His Majesty's Most Loyal Opposition) trong Quốc hội. Nội bộ đảng quy tụ nhiều phe phái tư tưởng khác nhau, bao gồm phái Bảo thủ Một quốc gia (One-nation conservatism), phái Thatcher (Thatcherism) và phái Bảo thủ truyền thống. Tính đến nay, lịch sử ghi nhận 20 vị Thủ tướng Anh xuất thân từ đảng này. Hằng năm, đại hội toàn quốc của đảng được tổ chức vào mùa thu.

Đảng Bảo thủ và Liên hiệp Anh
Conservative and Unionist Party
Lãnh tụKemi Badenoch
Chủ tịch đảngKevin Hollinrake
Lãnh đạo tại Thượng việnThe Lord True
Thành lập1834 (192 năm trước) (1834)
Tiền thânĐảng Tory, Đảng Liên minh Tự do
Trụ sở chínhVăn phòng Bảo thủ Trung ương
số 4 Phố Matthew Parker, Luân Đôn, SW1H 9NP, Anh
Tổ chức phụ nữTổ chức Bảo thủ Nữ
Tổ chức hải ngoạiBảo thủ hải ngoại
Tổ chức LGBTLGBT+ Bảo thủ
Số lượng thành viên  (2021)Tăng 200.000[1]
Hệ tư tưởngChủ nghĩa bảo thủ (Anh)[2]
Tự do kinh tế[3]
Thống nhất Anh Quốc
Khuynh hướngThiên hữu[4][5][6] đến cánh hữu
Thuộc tổ chức quốc tếLiên minh Dân chủ Quốc tế
Nhóm Nghị viện châu ÂuĐảng Bảo thủ và Cải cách Châu Âu
Màu sắc chính thức     Xanh dương
Hạ viện[7]
119 / 650
Thượng viện[8]
285 / 826
Nghị viện Scotland
28 / 129
Nghị viện Wales
14 / 60
Hội đồng Luân Đôn
7 / 25
Hội đồng địa phương[9]
4.254 / 18.645
Ủy viên cảnh sát và tội phạm
18 / 37
Thị trưởng được bầu trực tiếp
4 / 27
Websiteconservatives.com
Quốc giaVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

Tiền thân là Đảng Tory, Đảng Bảo thủ chính thức thành lập vào năm 1834 và trở thành một trong hai lực lượng chính trị chi phối nước Anh trong thế kỷ 19, bên cạnh Đảng Tự do. Dưới sự lãnh đạo của Benjamin Disraeli, đảng giữ vai trò nòng cốt trên chính trường vào thời kỳ hoàng kim của Đế quốc Anh. Đến năm 1912, sự sáp nhập của Đảng Tự do Liên minh đã tạo nên tên gọi đầy đủ của đảng như hiện nay. Cục diện chính trị Anh hiện đại trong suốt một thế kỷ qua chủ yếu được định hình bởi sự cạnh tranh giữa Đảng Bảo thủ và Công đảng. Sau khi lên nắm quyền lãnh đạo đảng vào năm 2005, David Cameron đã thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nội bộ, mở ra giai đoạn cầm quyền liên tục của đảng từ năm 2010 đến 2024 dưới thời 5 vị thủ tướng, với người gần đây nhất là Rishi Sunak.

Dù từng ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ trong lịch sử, nhưng từ thập niên 1980 trở đi, Đảng Bảo thủ đã chuyển sang áp dụng các chính sách kinh tế tự do, ưu tiên cơ chế thị trường tự do. Đảng mang lập trường kiên định về tính thống nhất của Vương quốc Anh (British unionism), phản đối ý tưởng hợp nhất Ireland cũng như phong trào đòi độc lập tại Scotland, Wales, Bắc Ireland hay Anh, đồng thời luôn duy trì thái độ dè dặt đối với chính sách phân quyền cho các địa phương. Trong quá khứ, đảng từng theo đuổi mục tiêu củng cố và duy trì Đế quốc Anh. Đối với Liên minh Châu Âu (EU), nội bộ đảng tồn tại nhiều luồng quan điểm, trong đó phái hoài nghi châu Âu (Euroscepticism) chiếm ưu thế rõ rệt so với phái thân châu Âu đang ngày càng thu hẹp. Về mặt xã hội, đảng theo truyền thống giữ vững đường lối bảo thủ.[10][11] Trong lĩnh vực quốc phòng, Đảng Bảo thủ ủng hộ việc duy trì chương trình vũ khí hạt nhân độc lập và cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thành viên trong khối NATO.

Trong phần lớn chiều dài lịch sử chính trị Anh hiện đại, Vương quốc Liên hiệp Anh luôn tồn tại sự phân hóa rõ rệt giữa khu vực thành thị và nông thôn. Cơ sở cử tri cùng nguồn hỗ trợ tài chính của Đảng Bảo thủ từ trước đến nay chủ yếu đến từ giới chủ doanh nghiệp, nông dân, người sở hữu nhà, cử tri thuộc tầng lớp trung lưu và các nhà phát triển bất động sản, đặc biệt tập trung tại các vùng nông thôn và ngoại thành nước Anh.[12][13][14][15][16] Tuy nhiên, kể từ sau cuộc trưng cầu dân ý về việc rời đi hay ở lại EU vào năm 2016, đảng này đã chuyển hướng sang tiếp cận thêm nhóm cử tri thuộc tầng lớp lao động tại những khu vực vốn được xem là "pháo đài" truyền thống của Công đảng.[17][18][19][20]

Sự áp đảo trên chính trường Anh suốt thế kỷ 20 từng đưa Đảng Bảo thủ trở thành một trong những đảng chính trị thành công nhất lịch sử về mặt tranh cử.[21][22][23][24] Mặc dù vậy, mức độ ủng hộ dành cho đảng đã sụt giảm đáng kể trong những năm gần đây, đỉnh điểm là tỷ lệ phiếu bầu chạm mức thấp kỷ lục trong kỳ tổng tuyển cử năm 2024.[25][26][27][28]

Lịch sử

Đảng Bảo thủ có nguồn gốc từ một phe phái, bắt nguồn từ Đảng Whig trong thế kỷ thứ 18, kết hợp lại chung quanh William Pitt Younger. Họ được biết đến như là "Independent Whigs", "Friends of Mr Pitt", hay "Pittites". Sau cái chết của Pitt, thuật ngữ "Tory" được sử dụng. Đây là một sự ám chỉ đến "Tories", một nhóm chính trị truyền thống đã tồn tại từ năm 1678, nhưng không có liên hệ tổ chức với đảng Pittite. Từ khoảng năm 1812 về sau, cái tên "Tory" thường được sử dụng hiện đại thay cho Đảng.[29] Vì vậy, Đảng Bảo thủ hiện vẫn còn được biết với cái tên Đảng Tory và các chính trị gia thuộc Đảng này gồm những người ủng hộ vẫn được gọi là những "Tories".

Thuật ngữ "Bảo thủ" được đề nghị đặt làm tên Đảng bởi một bài báo của J. Wilson Croker trong tạp chí Quarterly Review vào năm 1830.[30] Cái tên ngay lập tức được gọi cho Đảng và được chính thức thông qua dưới sự lãnh đạo của Sir Robert Peel khoảng năm 1834. Peel được công nhận là người sáng lập Đảng Bảo thủ, mà ông đã tạo ra với sự công bố của bản tuyên ngôn Tamworth. Thuật ngữ "Đảng Bảo thủ" hơn là Tory được sử dụng chiếm ưu thế vào năm 1845.[31][32]

Vào đầu thế kỷ 20, Đảng thành lập một liên minh với phe Liên hiệp của Đảng Tự do (phe Liên hiệp chống lại sự ủng hộ của Đảng Tự Do đối với việc trao quyền tự chủ cho Ireland trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland). Từ đó, Đảng bắt đầu có tên Bảo thủ và Liên hiệp như hiện nay.

Đảng Bảo thủ nắm chính quyền trong hai phần ba thời gian trong thế kỷ 20. Sau thất bại ở kỳ bầu cử năm 2024, trước Công đảng, Đảng Bảo thủ trở thành Đảng đối lập chính trong chính phủ Anh.

Ý thức hệ

Tổ chức

Kết quả bầu cử

Tổng tuyển cử

Hạ viện Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Bầu cử Lãnh đạo Phiếu bầu Số ghế Vị trí Kết quả
Số lượng % Số lượng ± %
1835 Robert Peel 261,269 40.8%
273 / 658
  98 41.5%   2 Whig
1837 379,694 48.3%
314 / 658
  41 47.7%   2 Whig
1841 379,694 56.9%
367 / 658
  53 55.8%   1 Đảng Bảo thủ[a]
1847 Earl of Derby 205,481 42.7%
325 / 656
[b]
  42 49.5%   1 Whig[c]
1852 311,481 41.9%
330 / 654
[b]
  5 50.5%   1 Chính phủ thiểu số Đảng Bảo thủ[d]
1857 239,712 34.0%
264 / 654
  66 40.4%   2 Whig[e]
1859 193,232 34.3%
298 / 654
  34 45.6%   2 Chính phủ thiểu số Đảng Bảo thủ[f]
1865 346,035 40.5%
289 / 658
  9 43.9%   2 Liberal[g]
1868[33] Benjamin Disraeli 903,318 38.4%
271 / 658
  18 41.2%   2 Đảng Tự do
1874 1,091,708 44.3%
350 / 652
  79 53.7%   1 Đảng Bảo thủ
1880 1,462,351 42.5%
237 / 652
  113 36.3%   2 Đảng Tự do[h]
1885[34] Marquess of Salisbury 1,869,560 43.4%
247 / 670
  10 36.9%   2 Chính phủ thiểu số Đảng Bảo thủ[i]
1886 1,417,627 51.4%
393 / 670
  146 58.7%   1 Conservative–Liberal Unionist
1892 2,028,586 47.0%
314 / 670
  79 46.9%   2 Chính phủ thiểu số Đảng Bảo thủ[j]
1895 1,759,484 49.3%
411 / 670
  97 61.3%   1 Conservative–Liberal Unionist
1900 1,637,683 50.2%
402 / 670
  9 60.0%   1 Conservative–Liberal Unionist[k]
1906 Arthur Balfour 2,278,076 43.4%
156 / 670
  246 23.3%   2 Đảng Tự do
Tháng 1 năm 1910 2,919,236 46.8%
272 / 670
  116 40.6%   2 Chính phủ thiểu số Đảng Tự do
Tháng 12 năm 1910 2,270,753 46.6%
271 / 670
  1 40.5%   2 Chính phủ thiểu số Đảng Tự do[l]
Hợp nhất với Đảng Tự do Liên hiệp vào năm 1912 thành Đảng Bảo thủ và Liên hiệp
1918[35] Bonar Law 4,003,848 38.4%
379 / 707
332 elected with Coupon
  108 53.6%   1 Coalition Liberal–Đảng Bảo thủ
1922 5,294,465 38.5%
344 / 615
  35 55.9%   1 Đảng Bảo thủ
1923 Stanley Baldwin 5,286,159 38.0%
258 / 625
  86 41.3%   1 Chính phủ thiểu số Đảng Bảo thủ[m]
1924 7,418,983 46.8%
412 / 615
  124 67.0%   1 Đảng Bảo thủ
1929[36] 8,252,527 38.1%
260 / 615
  152 42.3%   2 Chính phủ thiểu số Công đảng
1931 11,377,022 55.0%
470 / 615
  210 76.4%   1 Đảng Bảo thủ – Đảng Tự do – Tổ chức Lao động Quốc gia
1935 10,025,083 47.8%
386 / 615
  83 62.8%   1 Đảng Bảo thủ – Đảng Tự do Quốc gia – Tổ chức Lao động Quốc gia
1945 Winston Churchill 8,716,211 36.2%
197 / 640
  189 30.8%   2 Công đảng
1950 11,507,061 40.0%
282 / 625
  85 45.1%   2 Công đảng
1951 13,724,418 48.0%
302 / 625
  20 48.3%   1 Đảng Bảo thủ – Đảng Tự do Quốc gia
1955 Anthony Eden 13,310,891 49.7%
324 / 630
  22 51.4%   1 Đảng Bảo thủ – Đảng Tự do Quốc gia
1959 Harold Macmillan 13,750,875 49.4%
345 / 630
  21 54.8%   1 Đảng Bảo thủ – Đảng Tự do Quốc gia
1964 Alec Douglas-Home 12,002,642 43.4%
298 / 630
  47 47.3%   2 Công đảng
1966 Edward Heath 11,418,455 41.9%
250 / 630
  48 39.7%   2 Công đảng
1970[37] 13,145,123 46.4%
330 / 630
  80 52.4%   1 Đảng Bảo thủ
Tháng 2 năm 1974 11,872,180 37.9%
297 / 635
  33 46.8%   2 Chính phủ thiểu số Công đảng
Tháng 10 năm 1974 10,462,565 35.8%
277 / 635
  20 43.6%   2 Công đảng
1979 Margaret Thatcher 13,697,923 43.9%
339 / 635
  62 53.4%   1 Đảng Bảo thủ
1983 13,012,316 42.4%
397 / 650
  58 61.1%   1 Đảng Bảo thủ
1987 13,760,935 42.2%
376 / 650
  21 57.8%   1 Đảng Bảo thủ
1992 John Major 14,093,007 41.9%
336 / 651
  40 51.6%   1 Đảng Bảo thủ
1997 9,600,943 30.7%
165 / 659
  171 25.0%   2 Công đảng
2001 William Hague 8,357,615 31.7%
166 / 659
  1 25.2%   2 Công đảng
2005 Michael Howard 8,785,941 32.4%
198 / 646
  32 30.7%   2 Công đảng
2010 David Cameron 10,704,647 36.1%
306 / 650
  108 47.1%   1 Conservative–Liberal Democrats
2015 11,334,920 36.9%
330 / 650
  24 50.8%   1 Đảng Bảo thủ
2017 Theresa May 13,636,684 42.3%
317 / 650
  13 48.8%   1 Chính phủ thiểu số Đảng Bảo thủ
with DUP confidence and supply
2019 Boris Johnson 13,966,451 43.6%
365 / 650
  48 56.2%   1 Đảng Bảo thủ
2024 Rishi Sunak 6,828,925 23.7%
121 / 650
  244 18.6%   2 Công đảng

Ghi chú

  1. ^ Chính phủ đa số (1841–1846); Đảng đối lập (1846–1847).
  2. ^ a b Includes Peelites
  3. ^ Đảng đối lập (1847–1852); Chính phủ thiểu số (1852).
  4. ^ Chính phủ thiểu số (1852); Đảng đối lập (1852–1857).
  5. ^ Đảng đối lập (1857–1858); Chính phủ thiểu số (1858–1859).
  6. ^ Chính phủ thiểu số (1859); Đảng đối lập (1859–1865).
  7. ^ Đảng đối lập (1865–1866); Chính phủ thiểu số (1866–1868).
  8. ^ Đảng đối lập (1880–1885); Chính phủ thiểu số (1885).
  9. ^ Chính phủ thiểu số (1885–1886); Đảng đối lập (1886).
  10. ^ Chính phủ thiểu số (1892); Đảng đối lập (1892–1895).
  11. ^ Chính phủ đa số (1900–1905); Đảng đối lập (1905–1906).
  12. ^ Đảng đối lập (1910–1915); Chính phủ liên hiệp (1915–1916).
  13. ^ Chính phủ thiểu số (1923); Đảng đối lập (1923–1924).

Tham khảo

  1. ^ Merrick, Rob (ngày 27 tháng 3 năm 2021). "Tories hail big rise in party membership, because 'everyone loves the prime minister'". The Independent. Truy cập ngày 30tháng 3 năm 2021. The numbers paying up to join the Tories were thought to have plunged as low as 70,000 – but have now bounced back to 200,000, its chairman has revealed. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp)
  2. ^ "Capping welfare and working to control immigration". Conservatives.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2016.
  3. ^ Wolfram Nordsieck. "Parties and Elections in Europe". parties-and-elections.eu.
  4. ^ Bản mẫu:Chú thích book
  5. ^ "Competing on the centre right: An examination of party strategy in Britain". University of Leicester. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016.
  6. ^ Coulson, Rebecca (ngày 4 tháng 5 năm 2016). "What does being right wing mean?". Conservative Home. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016.
  7. ^ Current State of the Parties – UK Parliament. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2015.
  8. ^ "Lords by party, type of peerage and gender". www.parliament.uk. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
  9. ^ "Local Council Political Compositions". Keith Edkins. ngày 6 tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2017.
  10. ^ Hartley-Brewer, Julia (ngày 25 tháng 7 năm 2000). "Section 28". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2021.
  11. ^ "Keep Sunday Special: Why Sunday trading regulations need to stay". Keep Sunday Special. Conservative Home (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.
  12. ^ "Why the UK has no clear party of business". theconversation.com (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2022.
  13. ^ "How Tory dominance is built on home ownership". New Statesman (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2022.
  14. ^ Walker, Peter (ngày 11 tháng 7 năm 2021). "Tories have unhealthy financial reliance on property developers, says report | Housing". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2022.
  15. ^ "Conservatives 'receive donations worth £17,500 a day from developers'". The Independent (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2022.
  16. ^ "Why some farmers are turning away from the Tories" (bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 25 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2022.
  17. ^ "Tories won more working class votes than Labour amid stark generation gap at general election, poll suggests". The Independent. ngày 17 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2020.
  18. ^ Mueller, Benjamin (ngày 13 tháng 12 năm 2019). "How Labour's Working-Class Vote Crumbled and Its Nemesis Won the North". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2020.
  19. ^ Garcha, Ciara (ngày 3 tháng 4 năm 2021). "The Conservatives' attack on the ECHR: A Long Time Coming". Cherwell (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2022.
  20. ^ "How the Tories became the party of the working class". The Independent (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2022.
  21. ^ Steve Coulter (ngày 10 tháng 4 năm 2011). "Book Review: The Conservative Party from Thatcher to Cameron". Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2016.
  22. ^ Philip Johnston (ngày 19 tháng 4 năm 2016). "The Conservative Party may be destroyed by this European madness". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2016.
  23. ^ Andrew Gimson (ngày 15 tháng 5 năm 2017). "Why the Tories keep winning". New Statesman. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017.
  24. ^ Earle, Samuel (ngày 23 tháng 2 năm 2021). "The Sordid Story of the Most Successful Political Party in the World". The New Republic. ISSN 0028-6583. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2023.
  25. ^ Eaton, George (ngày 15 tháng 5 năm 2025). "Are the Tories doomed this time?". New Statesman (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  26. ^ "Britain's battered Tories ask if they still have further to fall". POLITICO (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  27. ^ Greening, Justine (ngày 5 tháng 5 năm 2025). "Let's be clear: this Conservative party is dead. Those who killed it should own up so we can move on". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  28. ^ "Britain's Tory Party Has Suffered Its Worst-Ever Defeat". Jacobin (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  29. ^ Robert Blake, The Conservative Party from Peel to Major (1997) p. 9
  30. ^ Safire, William (2008). Safire's Political Dictionary. Oxford University Press. tr. 144. ISBN 0195343344. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2017.
  31. ^ Ivor Bulmer-Thomas, The Growth of the British Party System Volume I: 1640–1923 (1965) pp. 66–81
  32. ^ David Paterson, Liberalism and Conservatism, 1846–1905 (2001) p. 5
  33. ^ The first election held under the Reform Act 1867.
  34. ^ The first election held under the Representation of the People Act 1884 and the Redistribution of Seats Act 1885.
  35. ^ The first election held under the Representation of the People Act 1918 in which all men over 21, and most women over the age of 30 could vote, and therefore a much larger electorate.
  36. ^ The first election held under the Representation of the People Act 1928 which gave all women aged over 21 the vote.
  37. ^ Franchise extended to all 18- to 20-year-olds under the Representation of the People Act 1969.

Thư mục