Đại trí độ luận

(Đổi hướng từ Da zhidu lun)

Đại Trí Độ Luận (tiếng Trung: 大智度論) tức Luận giải về Trí tuệ Lớn (hàm ý chỉ Bát-nhã-ba-la-mật-đa Prajñāpāramitā) là một bộ luận đồ sộ của Phật giáo Đại thừa và là bản chú giải cho kinh Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa (tức Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa hai mươi lăm nghìn tụng). Tên tiếng Phạn nguyên bản của tác phẩm này được phục dựng thành hai dạng là Mahāprajñāpāramitopadeśa[1]Mahāprajñāpāramitāśāstra.[2]

Đại Trí Độ Luận là một bộ bách khoa toàn thư hay tổng luận về giáo lý Phật giáo Đại thừa, tác phẩm mà theo Richard McBride II "có lẽ là văn liệu quan trọng nhất để thấu hiểu Phật giáo thời Trung cổ tại Trung Hoa... không có tác phẩm nào trong văn học Đại thừa Ấn Độ có thể sánh bằng tầm ảnh hưởng to lớn mà tác phẩm này có được trong nền Phật giáo Trung Hoa thời Trung cổ."[3]

Đại Trí Độ Luận được dịch sang chữ Hán bởi tăng sĩ người Khâu TừCưu-ma-la-thập (Kumārajīva) cùng đội ngũ dịch thuật người Trung Hoa từ năm 402 đến năm 406 sau Công nguyên. Phần đề tựa (vĩ văn) của tác phẩm này khẳng định nó được biên soạn bởi triết gia Phật giáo Long Thọ (Nāgārjuna, khoảng thế kỷ thứ 2), nhưng nhiều học giả khác nhau, như Étienne Lamotte, đã nghi ngờ về sự gán định này. Theo Hans-Rudolf Kantor, tác phẩm này "mang tính nền tảng cho sự phát triển của các tông phái Trung Hoa bao gồm Tam Luận tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tôngThiền tông."

Lịch sử

Đại Trí Độ Luận hiện chỉ còn tồn tại thông qua bản dịch chữ Hán gồm 100 quyển do tăng sĩ người Khâu Từ là Cưu-ma-la-thập (344–413 CN) thực hiện từ năm 402 đến năm 406 CN. Theo các nguồn sử liệu gốc, văn bản tiếng Ấn Độ vốn gồm 100.000 câu kệ (gāthā), tương đương với 3.200.000 âm tiết tiếng Phạn, đã được Cưu-ma-la-thập tinh giản bớt hai phần ba để có được 100 quyển của bản dịch chữ Hán. Cưu-ma-la-thập đã dịch toàn bộ 34 quyển đầu tiên, và tóm lược phần tài liệu còn lại. Tác phẩm được dịch bởi Cưu-ma-la-thập trong quá trình hợp tác với người học trò của ông là Tăng Duệ – vị đã "dừng bút để tranh luận nhằm có được bản dịch chuẩn xác" và "đối chiếu bản dịch của mình với nguyên tác suốt cả ngày" – cũng như với hoàng đế nhà Hậu TầnDao Hưng (366–416 CN).

Đại Trí Độ Luận đã trở thành một văn bản trung tâm của Tam Luận tông (tiếng Nhật: Sanron) hay tông Trung Quán tại Đông Á, đồng thời gây ảnh hưởng đến tất cả các tông phái lớn của Phật giáo Trung Hoa. Tác phẩm này đóng vai trò như một bộ bách khoa toàn thư Đại thừa cho tư tưởng Phật giáo Đông Á, tương tự như vị thế của Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (Abhisamayalamkara) trong Phật giáo Tây Tạng.

Trong Phật giáo Hán truyền, tác phẩm của các cao tăng như ngài Cát Tạng thuộc Tam Luận tông, ngài Huệ Tư và Trí Khải thuộc Thiên Thai tông, cùng ngài Trừng Quán thuộc Hoa Nghiêm tông, đều trích dẫn một lượng lớn tư liệu từ Đại Trí Độ Luận.[4] Tác phẩm tiêu biểu cho pháp môn Chỉ Quán của tông Thiên Thai là cuốn Thứ Đệ Thiền Môn phần lớn cũng lấy tư liệu từ bộ Đại Trí Độ Luận này.[5] Việc kiêm học Đại Trí Độ Luận vốn là xu hướng phổ biến của Phật giáo thời Nam Bắc triều,[6][7] và trong nền Phật giáo phương Bắc với trung tâm là Trường An và Nghiệp Thành, thậm chí còn xuất hiện các bậc thầy chuyên nghiên cứu sâu về bộ luận này, được gọi là các bậc Trí Độ Luận sư phương Bắc (Bắc thổ Trí Độ Luận sư).[8]

Tác phẩm Đại Phẩm Kinh Nghĩa Sớ của ngài Cát Tạng có dẫn lại cuốn Bát Nhã Kinh Vấn Luận Tập (còn có tên gọi khác là Đại Trí Luận Sao) của ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn, gọi tên tiếng Phạn của bộ Đại Trí Độ LuậnMahāprajñāpāramitopadeśa (Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật Ưu-ba-đề-xá).[9] Hai bản chép tay cổ dạng mảnh vỡ của bộ Đại Trí Độ Luận được khai quật tại Khu tự trị Kucha thuộc Tân Cương, cũng ghi tựa đề là Mahāprajñāpāramitopadeśa.[10]

Theo truyền thống, văn bản này được cho là do nhà triết học Trung Quán Ấn Độ là Long Thọ (Nagarjuna) biên soạn. Tuy nhiên, phản bác lại việc gán quyền tác giả truyền thống này cho Long Thọ, Étienne Lamotte cũng như Paul Demiéville đã kết luận rằng tác giả hẳn phải là một tăng sĩ Phật giáo thuộc bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) hoặc Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Mulasarvāstivāda) đến từ Tây Bắc Ấn Độ, một người thông hiểu về A-tì-đàm (Abhidharma), về sau chuyển sang Đại thừa và Trung Quán rồi biên soạn "một bộ luận giải thích đồ sộ đóng vai trò như một lời đáp trả của Đại thừa đối với A-tì-đàm của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ".[11] Điều này là do các tài liệu về Luận (Abhidharma) và Luật (Vinaya) tìm thấy trong văn bản này trùng khớp với truyền thống Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở Bắc Ấn Độ. Đây là quan điểm được chấp nhận rộng rãi trong giới học giả hiện đại. Lamotte cũng lưu ý về các minh chứng nội tại của văn bản cho thấy tác giả của nó có khả năng đến từ một vùng đất nằm trong Đế quốc Quý Sương (Kushan).

Tuy nhiên, Hikata Ryusho lại lập luận rằng có một phần cốt lõi cổ xưa trong văn bản này có thể thuộc về Long Thọ (bên cạnh một lượng lớn các phần bồi đắp về sau). R. Hikata tranh luận rằng mặc dù một phần của văn bản là do Long Thọ viết, nhưng nó cũng bao gồm nhiều "phần bổ sung hoặc chèn thêm bởi Cưu-ma-la-thập". Trong khi đó, học giả Trung Quốc là Ấn Thuận lại lập luận ủng hộ việc gán quyền tác giả truyền thống cho Long Thọ. Trong một nghiên cứu gần đây, Châu Bá Khám (Po-kan Chou) đã lập luận rằng Đại Trí Độ Luận là sản phẩm từ sự biên tập của Tăng Duệ (352?–436?), người học trò, đồng dịch giả và cũng là người ghi chép của Cưu-ma-la-thập.[12]

Theo truyền thuyết, ngài Long Thọ được Đại Long Bồ-tát đưa đến Long cung, tại đây ngài được thọ nhận rất nhiều kinh điển Phương Đẳng thâm diệu cùng vô lượng diệu pháp; sau khi trở ra, ngài đã hoằng dương Phật pháp một cách rộng rãi, sáng tác cuốn Ưu-ba-đề-xá gồm mười vạn câu kệ, cùng bộ Trung Luận gồm năm trăm câu kệ.[13][14] Tác phẩm Ưu-ba-đề-xá được nhắc đến trong truyền thuyết có lẽ chính là bộ Đại Trí Độ Luận, bởi theo ghi chép trong bài Đại Trí Tích Luận Tự của ngài Tăng Duệ, ngài Long Thọ đã viết bộ Đại Trí Độ Luận và bản tóm lược của tác phẩm này có đến mười vạn câu kệ.

Đối với việc liệu tác giả của Đại Trí Độ Luận có phải là ngài Long Thọ hay không, các nhà nghiên cứu hiện đại không có quan điểm thống nhất. Có người cho rằng bộ luận này do một tăng sĩ người Kashmir – vị vốn học Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ rồi sau đó chuyển sang học Đại thừa – biên soạn, nhưng cũng có người cho rằng bộ luận này chính là do ngài Long Thọ trước tác.[15]

Nội dung

Văn bản này chủ yếu mang tính Đại thừa và giải thích các giáo lý Đại thừa căn bản như Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajñāpāramitā) cùng các ba-la-mật-đa khác của bồ-tát, nhưng cũng bao gồm nhiều nội dung thuộc A-tì-đàm (Abhidharma) của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada), Bổn Sanh (Jataka) và Phật giáo nguyên thủy. Như Lamotte đã lưu ý, "Bộ Luận này trích dẫn dài hoặc trích dịch khoảng một trăm bộ kinh thuộc Tiểu thừa; phần lớn trong số đó được mượn từ các tuyển tập kinh A-hàm (Āgama)". Tác phẩm cũng trích dẫn nhiều kinh điển Đại thừa khác nhau, chẳng hạn như Kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra), Kinh Duy-ma-cật (Vimalakirti Sutra), Kinh Thập Địa (Dasabhumika Sutra), Kinh Nhập Pháp Giới (Gandavyuha Sutra), cũng như các câu chuyện Bổn Sanh (Jataka) và văn học Thí Dụ (Avadana) khác nhau. Theo Akira Hirakawa, "Các lập luận của Đại Trí Độ Luận chủ yếu nhằm vào các luận sư Tỳ-bà-sa (Vaibhasikas) thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ."

Đại Trí Độ Luận gồm 90 chương (phẩm) chia làm 100 quyển. Tác phẩm bao gồm hai phần chương, theo Lamotte thì phần đầu tiên gồm 52 chương (Đại Chính tạng, Quyển 1509, trang 57c-314b) "dường như là một phiên bản trọn vẹn từ nguyên tác Ấn Độ", trong khi phần thứ hai gồm 89 chương (Đại Chính tạng, Quyển 1509, trang 314b-756c) có vẻ là một bản tóm lược.

Nội dung của phần đầu tiên, được Étienne Lamotte dịch (sang tiếng Pháp) và Karma Migme Chodron dịch (sang tiếng Anh), như sau:

  • Các chương từ 1 đến 15 chú giải về phần mở đầu hoặc nhân duyên (nidana) của Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa hai mươi lăm nghìn tụng (Đại Chính tạng, Tập VIII, Số 223).
  • Các chương từ 16 đến 30 đưa ra lời chú giải sâu rộng về một đoạn văn ngắn của kinh tập trung vào sáu đức tính siêu việt hay ba-la-mật-đa (pāramitās).
  • Các chương từ 31 đến 42, theo Lamotte: "phần này, mang tính chuyên môn nhất và không nghi ngờ gì nữa là phần thú vị nhất của Bộ Luận, có chủ đề là các thực hành cấu thành nên Đạo lộ chứng ngộ Niết-bàn (Nirvāṇa) và các công đức thuộc tính của chư Phật." Phần này bao gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo (bodhipākṣikadharmas), "tám nhóm pháp bổ trợ cho Đạo lộ" (chẳng hạn như Ba tam-ma-địa và Bốn thiền) và "Sáu nhóm pháp khác của Đạo lộ" (chẳng hạn như Chín tưởng về tướng bất tịnh và Tám niệm). Đối với mỗi chủ đề này, các quan điểm của A-tì-đàm thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ được giải thích song hành cùng các quan điểm của Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vốn thường phê phán cách hiểu của A-tì-đàm. Các Agama cũng được trích dẫn trong những giải thích này.
  • Các chương từ 42 đến 48 thảo luận về Bồ-tát thừa, bồ-đề tâm (bodhicitta), công đức, các thần thông (abhijñas), tánh Không (được giảng dạy theo hệ thống "mười tám tánh Không" 十八空), Trung Quán, và sự thực hành (học xứ - śikṣā) Bát-nhã-ba-la-mật-đa.
  • Các chương từ 49 đến 52 thảo luận về các chủ đề xa hơn như đại nguyện của một vị bồ-tát (chia làm hai bộ gồm 24 nguyện và 38 nguyện) cũng như tính nhân quả, Pháp tánh (Dharmata), thiên nhãn thông (divyacakṣu), và bốn đại (tứ đại nguyên tố).

Bản dịch

Chữ Hán

Vào năm Hoằng Thủy thứ tư thời Hậu Tần (năm 402), ngài Cưu-ma-la-thập bắt đầu dịch tác phẩm này tại chùa Tây Minh thuộc vườn Tiêu Dao ở Trường An, và hoàn thành vào năm Hoằng Thủy thứ bảy (năm 405), biên soạn gộp cả phần Kinh và Luận lại thành tổng cộng một trăm quyển. Trong đó, phần văn Kinh của Kinh Đại Phẩm Bát-nhã (bản Phạn văn gồm hai vạn hai nghìn bài tụng) chiếm hai mươi bảy quyển, nếu khấu trừ phần kinh văn này thì phần luận giải thích (Thích luận) sẽ là bảy mươi ba quyển. Trong một trăm quyển của Đại Trí Độ Luận, ba mươi tư quyển đầu giải thích chi tiết về Phẩm Tự của Kinh Đại Phẩm Bát-nhã, phần này là bản dịch toàn vẹn; còn phần luận giải thích cho các phẩm khác là được chọn lọc những điểm yếu cốt để dịch ra.

Ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn vì thấy bộ Đại Trí Độ Luận "rườm rà, nặng nề", nên để tiện cho người mới học, ngài đã cắt giảm, biên tập lại thành cuốn Đại Trí Luận Sao, còn có tên gọi khác là Bát Nhã Kinh Vấn Luận Tập, tác phẩm này nay đã thất truyền. Trong lịch sử, từng tồn tại nhiều bản chú giải khác nhau cho bộ Đại Trí Độ Luận, nhưng đến nay chỉ còn lưu giữ được bản Đại Trí Độ Luận Sớ của ngài Huệ Ảnh thời Bắc Chu (nguyên bản gồm 24 quyển, hiện nay chỉ còn tồn tại 7 quyển).

Tiếng Anh

Một phần ba tác phẩm này đã được Étienne Lamotte dịch sang tiếng Pháp với nhan đề Le Traité de la Grande Vertu de Sagesse. Một bản dịch tiếng Anh dựa trên bản dịch tiếng Pháp của Lamotte đã được Tỳ-kheo-ni (Gelongma) Karma Migme Chodron hoàn thành với tiêu đề "The Treatise on the Great Virtue of Wisdom" (Luận giải về Đức tính Siêu việt của Trí tuệ Lớn).

Tỳ-kheo (Bhiksu) Dharmamitra cũng đã dịch các phần của tác phẩm này sang tiếng Anh, bao gồm các chương từ 17 đến 30 và một tuyển tập gồm 130 câu chuyện cũng như giai thoại được trích xuất từ bộ luận.

Trung tâm Dịch thuật Quốc tế Phật Quang Sơn hiện đang trong quá trình thực hiện một bản dịch hoàn chỉnh cho toàn bộ văn bản này, dưới tiêu đề The Great Perfection of Wisdom Treatise (Luận giải về Sự Hoàn hảo Vĩ đại của Trí tuệ).[16]

Tiếng Việt

  • Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.[17]
  • Ngoài ra còn có bản dịch Hán ra Việt của hòa thượng Thích Thiện Siêu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành 1997, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh 1998 - 2001.[18]

Xem thêm

Nguồn

  1. ^ Chou, Po-kan, The Problem of the Authorship of the Mahāprajñāpāramitopadeśa: A Re-examination, BIBLID1012-8514(2004)34p.281-327 2004.10.19收稿,2004.12.21通過刊登
  2. ^ "Explanation of Arguments [Chapter I]". ngày 14 tháng 8 năm 2014.
  3. ^ Richard D. McBride, I. I. (ngày 30 tháng 6 năm 2005). "Dhāraṇī and Spells in Medieval Sinitic Buddhism". Journal of the International Association of Buddhist Studies (bằng tiếng Anh): 85–114. ISSN 0193-600X.
  4. ^ Thích Hậu Quán (2019). "Biên tập và giảng dạy bài giảng Đại trí độ luận" (PDF). Phật giáo Đồ thư quán Quán san. 66: 15–25. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  5. ^ Lâm Huệ Thắng (2004). "Thiền pháp của Trí Giả Đại Sư: Luận thuật lấy 「Thông Minh Quán」 làm trung tâm" (PDF). Thành Đại Tôn giáo dữ Văn hóa Học báo. 4.
  6. ^ Thích Thánh Khải. "Sự lưu truyền và ảnh hưởng của Đại trí độ luận thời Nam Bắc triều". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024. {{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  7. ^ Lý Tứ Long (2014). "Kinh điển, địa vực và truyền thống tư tưởng——Lấy Địa Luận sư thế kỷ thứ VI và trung tâm Phật giáo phương Bắc làm ví dụ". Trung Quốc Cao giáo Xã hội Khoa học. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2024.
  8. ^ Thích Thánh Khải. "Sự lưu truyền và ảnh hưởng của Đại trí độ luận thời Nam Bắc triều". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024. {{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  9. ^ 吉藏大品經義疏:「解云:論無別文,但論題-{云}-大智度,有是為智。何故爾?遠法師依大論造問論-{云}-摩訶般若波羅蜜優波提舍。今大論秤(稱)為大智度,即是以智翻波若也。」: Cát Tạng Đại phẩm kinh nghĩa sớ: "Giải vân: Luận vô biệt văn, đản Luận đề vân Đại trí độ, hữu thị vi trí. Hà cố nhĩ? Viễn pháp sư y Đại luận tạo Vấn luận vân Ma-ha bát-nhã ba-la-mật ưu-ba-đề-xá. Kim Đại luận xứng (xưng) vi Đại trí độ, tức thị dĩ trí phiên Ba-nhã dã."
  10. ^ Chu Bá Khám. "Nghiên cứu bản tả bản tàn quyển của Đại trí độ luận phát hiện tại Khố Xa". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2020. Nay bản tả bản tàn quyển này đã viết rõ ràng là "Ưu-ba-đề-xá", cho nên chữ Phạn của "Luận" nhất định là upadesa không sai. Tên chữ Phạn nguyên bản của Đại trí độ luận nhất định là Mahāprajñāpāramitopadeśa. Qua sự kiểm chứng của hai bản tả bản tàn quyển này, những phỏng đoán trước đây của giới học giả quốc tế về tên chữ Phạn nguyên bản của cuốn sách này đến đây có thể chấm dứt. {{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  11. ^ Lamotte, Etienne (French trans.); Karma Migme Chodron (English trans.); The Treatise on the Great Virtue of Wisdom of Nagarjuna - Mahāprajñāpāramitāśāstra, Vol. III Chapters XXXI-XLII, 2001, page 876-877.
  12. ^ Chou, Po-kan, The Problem of the Authorship of the Mahāprajñāpāramitopadeśa: A Re-examination, BIBLID1012-8514(2004)34p.281-327 2004.10.19收稿,2004.12.21通過刊登
  13. ^ Thích Ấn Thuận (1991). "Tác giả và bản dịch của Đại trí độ luận". Đông Phương Tôn giáo Nghiên cứu. 2: 9–70. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  14. ^ 廬山慧遠大智論抄序:「有大乘高士,厥號龍樹,生于天竺,出自梵種。……遂自誓落簪,表容玄服,隱居林澤,守閑行禪,靖慮研微,思通過半。……俄而迴步雪山,啟神明以訊志,將歷古仙之所遊。忽遇沙門於巖下,請質所疑,始知有方等之學。及至龍宮,要藏祕典,靡不管綜。滯根既拔,則名冠道位,德備三忍。然後開九津於重淵,朋鱗族而俱遊。學徒如林,英彥必集。由是外道高其風,名士服其致,大乘之業於茲復隆矣。其人以般若經為靈府妙門,宗一之道,三乘十二部由之而出,故尤重焉。然斯經幽奧,厥趣難明,自非達學,尠得其歸。故敘夫體統,辨其深致。若意在文外,而理蘊於辭,輒寄之賓主,假自疑以起對,名曰問論。」 僧叡大智釋論序:「龍樹生於像法之末……像末多端,故乃寄跡凡夫,示悟物以漸。又假照龍宮,以朗搜玄之慧。託聞幽祕,以窮微言之妙。爾乃憲章智典,作茲釋論。其開夷路也,則令大乘之駕方軌而直入。其辨實相也,則使妄見之惑不遠而自復。……經本既定,乃出此釋論。論之略本有十萬偈,偈有三十二字,并三百二十萬言。」 龍樹菩薩傳:「龍樹菩薩者,出南天竺梵志種也……即自誓曰:我若得脫,當詣沙門,受出家法。既出入山,詣一佛塔,出家受戒,九十日中,誦三藏盡。更求異經,都無得處。遂入雪山,山中有塔,塔中有一老比丘,以摩訶衍經典與之。……大龍菩薩見其如是惜而愍之,即接之入海,於宮殿中開七寶藏,發七寶華函,以諸方等深奧經典,無量妙法授之。……龍樹既得諸經一相,深入無生,二忍具足。龍還送出於南天竺,大弘佛法,摧伏外道,廣明摩訶衍作優波提舍十萬偈,又作莊嚴佛道論五千偈,大慈方便論五千偈,中論五百偈,令摩訶衍教大行於天竺。又造無畏論十萬偈,中論出其中。」Lư Sơn Tuệ Viễn Bài tựa bản tóm tắt Đại Trí Luận: "Có bậc cao sĩ Đại thừa tên là Long Thụ, sinh ở nước Thiên Trúc, xuất thân từ dòng dõi Phạn chí. ... Bèn tự thề cắt tóc, mặc áo nâu sồng, ẩn cư nơi rừng đầm, giữ lòng thanh nhàn tu thiền, lặng lòng nghiên cứu điều vi diệu, tư duy thông suốt quá nửa. ... Chẳng bao lâu ngài chuyển bước đến Tuyết Sơn, mở lòng thành kính hướng đến thần minh để hỏi về chí hướng, định dạo qua những nơi các vị tiên xưa từng ở. Chợt gặp một vị Sa-môn dưới vách đá, bèn thưa hỏi những điều nghi ngờ, mới bắt đầu biết đến học thuật Phương đẳng (Đại thừa). Đến khi vào Long cung, thâu tóm các kinh điển bí mật, không gì là không thông suốt. Căn bản mê muội đã nhổ sạch, danh tiếng đứng đầu hàng đạo vị, đức hạnh vẹn toàn tam nhẫn. Sau đó ngài mở chín bến nước nơi vực sâu, cùng dạo chơi với các loài thủy tộc. Học trò đông đúc như rừng, các bậc anh hiền đều tụ hội. Do đó ngoại đạo kính trọng phong thái của ngài, danh sĩ kính phục tài trí của ngài, sự nghiệp Đại thừa từ đây lại hưng thịnh. Vị ấy xem Kinh Bát Nhã là cửa nhiệm mầu của linh phủ, là đạo cốt lõi của tông môn, tam thừa mười hai bộ kinh đều từ đó mà ra, cho nên đặc biệt coi trọng. Nhưng kinh này u huyền sâu kín, tôn chỉ khó minh bạch, nếu không phải là bậc thông đạt thì ít ai tìm được nơi quy hướng. Cho nên ngài đã thuật lại hệ thống, biện minh cho ý nghĩa thâm sâu. Nếu ý ở ngoài văn, mà lý ẩn trong lời, ngài liền gửi gắm vào vai chủ và khách, mượn sự nghi vấn để khởi sự đối đáp, đặt tên là Vấn Luận." Tăng Duệ Bài tựa Đại Trí Thích Luận: "Long Thụ sinh vào cuối thời Tượng pháp... Thời Tượng pháp cuối có nhiều mối sai lệch, nên ngài mới gửi dấu nơi phàm phu, chỉ dạy cho vạn vật tỉnh ngộ dần dần. Lại mượn ánh sáng nơi Long cung để làm rạng rỡ cái tuệ tìm kiếm điều huyền vi. Nương nghe lời u bí để đi sâu vào sự vi diệu của lời vi ngôn. Nhờ đó ngài đã khuôn mẫu theo kinh điển trí tuệ mà làm ra bộ Thích Luận này. Mở ra con đường bằng phẳng, khiến cho cỗ xe Đại thừa đi thẳng vào một cách dễ dàng. Biện minh cho thực tướng, khiến cho sự mê lầm của vọng kiến chẳng cần đi xa mà tự quay về. ... Kinh bản đã định, bèn cho ra bộ Thích Luận này. Bản tóm lược của Luận có mười vạn bài kệ, mỗi bài kệ có ba mươi hai chữ, tổng cộng là ba triệu hai mươi vạn lời." Truyện Bồ Tát Long Thụ: "Bồ Tát Long Thụ xuất thân từ dòng dõi Phạn chí ở Nam Thiên Trúc... bèn tự thề rằng: Nếu ta được thoát nạn, sẽ đến chỗ Sa-môn để thụ pháp xuất gia. Sau khi vào núi, đến một tòa tháp Phật, xuất gia thụ giới, trong chín mươi ngày tụng hết Tam tạng. Lại tìm các kinh khác nhưng hoàn toàn không tìm được chỗ nào có. Bèn vào Tuyết Sơn, trong núi có một tòa tháp, trong tháp có một vị Tỳ-kheo già trao cho ngài các kinh điển Ma-ha-diễn (Đại thừa). ... Đại Long Bồ Tát thấy ngài như vậy thì thương xót, liền đón ngài vào biển, trong cung điện mở bảy kho báu, mở tráp hoa bằng bảy báu, trao cho ngài các kinh điển Phương đẳng thâm áo và vô lượng diệu pháp. ... Long Thụ đã đắc được nhất tướng của các kinh, thâm nhập Vô sanh, đầy đủ hai nhẫn. Rồng lại đưa ngài ra ở Nam Thiên Trúc, đại hoằng Phật pháp, phá tan ngoại đạo, làm sáng tỏ rộng rãi giáo pháp Ma-ha-diễn, viết Ưu-ba-đề-xá mười vạn bài kệ, lại viết Trang Nghiêm Phật Đạo Luận năm ngàn bài kệ, Đại Từ Phương Tiện Luận năm ngàn bài kệ, Trung Luận năm trăm bài kệ, làm cho giáo pháp Ma-ha-diễn thịnh hành ở Thiên Trúc. Lại tạo Vô Úy Luận mười vạn bài kệ, Trung Luận xuất từ trong đó."
  15. ^ Thích Ấn Thuận (1991). "Tác giả và bản dịch của Đại trí độ luận". Đông Phương Tôn giáo Nghiên cứu. 2: 9–70. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  16. ^ "Book Archives - Page 2 of 4". Fo Guang Shan International Translation Center | Buddhist Publications (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2026.
  17. ^ THƯ VIỆN HOA SEN. "Đại Trí Độ Luận". THƯ VIỆN HOA SEN. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2026.
  18. ^ Dụng, Phật Pháp Ứng (ngày 19 tháng 6 năm 2017). "Luận Đại Trí Độ (Trọn bộ 5 tập) - HT Thích Thiện Siêu dịch". Kinh Luật Luận Phật Giáo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2026.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

  • Gelongma Karma Migme Chodron (2001), Maha Prajnaparamita Sastra, wisdomlib.org (English translation based on Lamotte's French version)
  • ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN, Tác giả: Bồ Tát Long Thọ, Hán dịch: Tam Tạng Cưu Ma La Thập, Việt dịch: Ni Trưởng TN Diệu Không, Nhuận văn: HT Thích Thiện Trí, Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm. Thư viện Hoa Sen.
  • Luận Đại Trí Độ. ( Mahàprajnàparamitàsatra). Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ). Dịch Phạn ra Hán: Cưu Ma La Thập. Dịch Hán ra Việt: Thích Thiện Siêu.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán