Eurovision Song Contest 2026
| Eurovision Song Contest 2026 | |
|---|---|
| United by Music Đoàn kết bởi âm nhạc (tiếng Việt) | |
| Ngày và địa điểm | |
| Bán kết 1 |
|
| Bán kết 2 |
|
| Chung kết |
|
| Địa điểm | Wiener Stadthalle, Viên, Áo |
| Tổ chức | |
| Đơn vị tổ chức | Liên minh Phát sóng châu Âu |
| Đạo diễn Eurovision Song Contest | Martin Green |
| Nhà sản xuất điều hành Eurovision Song Contest | Gert Kark |
| Sản xuất | |
| Đài phát thanh chủ nhà | Đài Phát thanh Truyền hình Áo |
| Đạo diễn |
|
| Nhà sản xuất điều hành |
|
| Dẫn chương trình |
|
| Tham gia | |
| Quốc gia tham gia | 35 |
| Quốc gia chung kết | 25 |
| Quốc gia trở lại | |
| Quốc gia rút lui | |
| Bầu chọn | |
| Phương thức | Mỗi quốc gia sẽ trao hai bộ điểm gồm 12, 10, 8–1 điểm cho mười bài hát. Các phiếu bầu trực tuyến từ người xem ở các quốc gia không tham gia sẽ được tổng hợp và trao thành một bộ điểm duy nhất. |
| Bài hát vô địch | "Bangaranga" |
Cuộc thi Ca khúc Truyền hình châu Âu 2026, hay còn được gọi chính thức là Eurovision Song Contest 2026, là cuộc thi Ca khúc truyền hình châu Âu lần thứ 70. Cuộc thi gồm hai vòng bán kết vào ngày 12 và 14 tháng 5, và một vòng chung kết vào ngày 16 tháng 5 năm 2026, được tổ chức tại Wiener Stadthalle ở Viên, Áo, và được dẫn chương trình bởi Victoria Swarovski và Michael Ostrowski, với Emily Busvine làm người dẫn chương trình hậu trường. Cuộc thi do Liên hiệp Phát sóng châu Âu (EBU) và đài truyền hình chủ nhà Đài Phát thanh Truyền hình Áo (ORF) tổ chức, đơn vị đã tổ chức sự kiện này sau khi giành chiến thắng cuộc thi năm 2025 cho Áo với bài hát "Wasted Love" của JJ.
Các đài truyền hình từ 35 quốc gia đã tham gia cuộc thi, ít hơn 2 quốc gia so với năm 2025. Cuộc thi này có số lượng quốc gia tham gia ít nhất kể từ năm 2003, trước khi vòng bán kết được giới thiệu. Cộng hòa Ireland, Hà Lan, Iceland, Slovenia và Tây Ban Nha đã quyết định không tham gia vì phản đối việc Israel được đưa vào cuộc thi trong bối cảnh chiến tranh Israel – Hamas, đánh dấu số lượng quốc gia tẩy chay lớn nhất trong lịch sử cuộc thi kể từ năm 1970, trong khi Bulgaria, Moldova và România trở lại sau khi vắng mặt trong các kỳ gần đây.
Đại diện Bulgaria đã giành chiến thắng với bài hát "Bangaranga" của ca sĩ Dara, được chính bản thân Dara sáng tác cùng với Anne Judith Wik, Cristian Tarcea và Dimitris Kontopoulos. Bài hát đã giành được cả phiếu bầu của ban giám khảo lẫn bình chọn của khán giả và cũng là bài hát đầu tiên làm được điều này kể từ Bồ Đào Nha năm 2017. Bên cạnh đó, Bulgaria lần đầu tiên giành chiến thắng trong lịch sử Ca khúc truyền hình châu Âu. Israel, România, Úc và Ý lần lượt xếp hạng trong top 5, với România đạt được thành tích tốt nhất từ năm 2005 và 2010 đồng thời đạt tổng điểm cao nhất từ trước đến nay. Luxembourg lần đầu tiên không giành được vé vào chung kết, khiến Ukraina trở thành quốc gia duy nhất luôn vượt qua vòng bán kết kể từ khi thể thức này được giới thiệu vào năm 2004.
Địa điểm
Eurovision Song Contest 2026 diễn ra tại Viên, Áo, sau chiến thắng của quốc gia này tại cuộc thi năm 2025 với bài hát "Wasted Love" của JJ.[1] Đây là lần thứ ba Áo đăng cai cuộc thi kể từ hai lần trước vào năm 1967 và 2015, cả hai lần đều ở Viên. Địa điểm được chọn cho cuộc thi là Wiener Stadthalle với sức chứa 16.152 chỗ ngồi, nơi từng đăng cai cuộc thi vào năm 2015.[2]
Ngoài địa điểm chính, Rathausplatz là nơi đặt Làng Eurovision, nơi tổ chức các buổi biểu diễn của các thí sinh tham gia cuộc thi và các nghệ sĩ địa phương cũng như chiếu các chương trình trực tiếp cho công chúng. Câu lạc bộ đêm Prater Dome là nơi tổ chức EuroClub, nơi tổ chức các bữa tiệc sau cuộc thi chính thức và các buổi biểu diễn riêng của các thí sinh tham gia cuộc thi. Sự kiện "Thảm Ngọc Lam" (tiếng Anh: The Turquoise Carpet) được tổ chức vào ngày 10 tháng 5 năm 2026 tại Burgtheater, với các thí sinh và đoàn đại biểu của họ đi bộ qua Làng Eurovision tại Rathausplatz để giới thiệu trước báo chí và người hâm mộ, trước khi kết thúc tại Tòa thị chính Viên, nơi diễn ra lễ khai mạc.[3]
Giai đoạn đấu thầu
Sau chiến thắng của Áo trong cuộc thi năm 2025, đài truyền hình chủ nhà, Đài Phát thanh Truyền hình Áo, đã tổ chức một cuộc họp báo, trong đó giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình Áo Roland Weißmann đã xác định sự phù hợp của các địa điểm và khoảng cách đến sân bay là những tiêu chí chính trong việc lựa chọn thành phố đăng cai. Giám đốc chương trình của Đài Phát thanh Truyền hình Áo Stefanie Groiss-Horowitz nhận thấy rằng không có đấu trường lớn nào được xây dựng mới ở Áo trong những năm gần đây, nhưng khuyến khích các thành phố có đề xuất khả thi nộp hồ sơ dự thầu.
Một số thành phố Áo đã bày tỏ quan tâm đăng cai cuộc thi năm 2026 chỉ vài ngày sau chiến thắng của quốc gia này vào năm 2025. Ngày 18 tháng 5 năm 2025, thị trưởng Viên Michael Ludwig đã xác nhận ý định đấu thầu của thành phố.[4] Cùng ngày, Graz tuyên bố đang xem xét một hồ sơ dự thầu tiềm năng, với thị trưởng Elke Kahr chỉ ra Stadthalle Graz là một địa điểm phù hợp. Trung tâm giải trí Schwarzl Freizeit Zentrum, cũng ở Graz, được người quản lý và điều hành buổi hòa nhạc của nó, Klaus Leutgeb, đề xuất như một địa điểm tiềm năng. Cũng vào ngày 18 tháng 5, Innsbruck và Wels xác nhận đấu thầu, với Olympiahalle và một hội trường triển lãm mới được đề xuất lần lượt làm địa điểm. Oberwart cũng tuyên bố quan tâm đến việc đăng cai. Ngày 19 tháng 5, thị trưởng Sankt Pölten Matthias Stadler đề xuất VAZ St. Pölten làm địa điểm.[5] Ngày 26 tháng 5 năm 2025, Ebreichsdorf đã đệ trình đề xuất tổ chức cuộc thi tại một địa điểm tạm thời.[6]
ORF đã khởi động quá trình đấu thầu vào ngày 2 tháng 6 năm 2025 bằng cách mở cửa cho các thành phố và đô thị tuyên bố quan tâm. Các ứng cử viên đã nhận được các tài liệu đấu thầu chi tiết và được yêu cầu nộp hồ sơ dự thầu trước ngày 4 tháng 7 năm 2025. Ebreichsdorf rút khỏi quy trình vào ngày 15 tháng 6 năm 2025, tiếp theo là Oberwart vào ngày 21 tháng 6, Graz vào ngày 27 tháng 6 năm 2025, và Wels vào ngày 1 tháng 7. Viên và Innsbruck là hai thành phố duy nhất nộp hồ sơ dự thầu trước thời hạn. Ngày 20 tháng 8 năm 2025, Liên hiệp Phát sóng châu Âu và Đài Phát thanh Truyền hình Áo đã công bố Viên là thành phố đăng cai.[2]
Chú thích:
† Thành phố đăng cai
^ Thành phố đấu thầu
| Thành phố | Địa điểm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Ebreichsdorf | Sân tạm thời | Địa điểm được đề xuất là một nhà thi đấu tạm thời với sức chứa 20.000 người. Một địa điểm khác dành cho khán giả xem trận chung kết với sức chứa 30.000 người cũng được thiết lập. Đã rút khỏi cuộc đấu thầu vào ngày 15 tháng 6. |
| Graz | Stadthalle Graz | Rút khỏi quá trình đấu thầu vào ngày 27 tháng 6 năm 2025. |
| Schwarzl Freizeit Zentrum | ||
| Innsbruck ^ | Olympiahalle | Tổ chức các sự kiện trượt băng nghệ thuật và khúc cầu côn trên băng tại các kỳ Thế vận hội Mùa đông 1964 và 1976. |
| Oberwart | Messe Oberwart | Rút khỏi quá trình đấu thầu vào ngày 21 tháng 6 năm 2025. |
| Viên † | Wiener Stadthalle | Tổ chức 2015. |
| Wels và Linz | Messe Wels | Liên danh đăng cai, với Wels là thành phố tổ chức chính thức cuộc thi. Địa điểm tổ chức đang trong quá trình xây dựng vào thời điểm đấu thầu và hoàn thành vào tháng 3 năm 2026. Rút khỏi quá trình đấu thầu vào ngày 1 tháng 7 năm 2025. |
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Phương Thảo (ngày 18 tháng 5 năm 2025). "Chàng trai Áo thắng Eurovision 2025". VnExpress. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2026.
- ^ a b "Vienna announced as host city for Eurovision song contest 2026". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2026.
- ^ "What to do in Vienna during Eurovision week". Eurovision Song Contest (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Vienna submits bid to host Eurovision 2026". That Eurovision Site (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2026.
- ^ Mazoyer, Vincent (ngày 26 tháng 5 năm 2025). "Sankt Pölten considering Eurovision 2026 bid". ESCxtra (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Auch Ebreichsdorf will Song Contest austragen". Đài Truyền hình và Phát thanh Áo (bằng tiếng Đức). ngày 26 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2026.
Liên kết ngoài
- Website chính thức (bằng tiếng Anh)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Đức (de)
- Trang có lỗi kịch bản
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Website chính thức thiếu URL
- Bài viết có văn bản tiếng Anh
- Website chính thức không có trên Wikidata
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Anh (en)
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Sự kiện
- Cuộc thi bài hát
- Lễ hội âm nhạc
- Eurovision Song Contest
- Eurovision Song Contest theo năm