FN CAL
| FN CAL | |
|---|---|
| Tập tin:FN CAL close1-noBG.png FN CAL trưng bày tại Bảo tàng Súng trường Quốc gia, Hoa Kỳ. | |
| Loại | Súng trường tấn công |
| Nơi chế tạo | Bỉ |
| Lược sử hoạt động | |
| Sử dụng bởi | Xem Các quốc gia sử dụng |
| Trận | Chiến tranh Việt Nam Cộng sản nổi loạn tại Thái Lan Xung đột Colombia Cách mạng Nicaragua Xung đột tại Myanmar The Troubles Nội chiến Liban Cuộc nổi dậy của người Tuareg (1990–1995) Chiến tranh Gaza 2014 |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Ernest Vervier |
| Năm thiết kế | 1963–1966 |
| Nhà sản xuất | FN Herstal |
| Giá thành | (Năm tài chính 2022) $820 |
| Giai đoạn sản xuất | 1966–1975 |
| Số lượng chế tạo | Khoảng 30,000 khẩu |
| Thông số | |
| Khối lượng | 3.35 kg (7.385 lbs) |
| Chiều dài | 980 mm (38.58 in) |
| Độ dài nòng | 467 mm (18,4 in)[1] |
| Đạn | 5,56×45mm NATO |
| Cơ cấu lên đạn | Trích khí, khóa nòng xoay với ren gián đoạn |
| Tốc độ bắn | 850 phát/phút |
| Chế độ nạp | Hộp tiếp đạn tháo rời 20, 25 hoặc 30 viên |
| Ngắm bắn | Thước ngắm cơ khí |
FN CAL (Carabine Automatique Légère, nghĩa là "Súng carbine tự động hạng nhẹ") là mẫu súng trường tấn công của Bỉ do hãng Fabrique Nationale chế tạo. Đây là mẫu súng trường cỡ đạn 5,56 mm đầu tiên được sản xuất bởi Fabrique Nationale. Dù mang ngoại hình khá tương đồng với khẩu FN FAL vốn rất thành công của công ty, CAL lại là một thiết kế nguyên bản hoàn toàn mới. Khác với FAL, mẫu súng này là một thất bại trên thị trường, dù vậy quá trình phát triển của nó đã tạo nền tảng để cho ra đời biến thể thành công hơn sau này là FN FNC.
Chi tiết thiết kế
Trước khi tiến hành đề án phát triển dòng súng CAL, hãng FN từng thực hiện chế tạo một nguyên mẫu súng FAL thu nhỏ kích thước nhưng sau đó đã quyết định xếp xó ý tưởng này do nhận định sản phẩm không có tiềm năng thương mại. Nhận thấy sự thành công vượt trội về mặt doanh số của dòng súng trường HK G3 vốn sở hữu chi phí chế tạo rẻ hơn và kết cấu cơ khí đơn giản hơn, ban lãnh đạo FN quyết định rằng để bất kỳ dòng súng trường tương lai nào có thể cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường, nó bắt buộc phải cắt giảm tối đa các chi tiết linh kiện gia công cơ khí chính xác đắt đỏ. Các bộ phận này sẽ được thay thế bằng các chi tiết đúc và dập tấm có chi phí sản xuất rẻ hơn rất nhiều ở những vị trí cơ khí cho phép. Mặc dù quy trình chế tạo dòng súng mới CAL đã phản ánh rõ nét các triết lý thiết kế cắt giảm chi phí này, hệ thống vũ khí nhìn chung vẫn tương đối đắt đỏ và phức tạp, dẫn đến kết quả thất bại thảm hại về mặt thương mại ngoài thị trường. Đề án này cuối cùng đã bị hủy bỏ để nhường chỗ cho dòng súng có chi phí chế tạo thậm chí còn tối ưu hơn nữa là mẫu FN FNC.[2] Một số lượng nhỏ các khẩu FN CAL cũ sau đó đã được phân phối thương mại thanh lý sang thị trường súng dân dụng tại Hoa Kỳ.
Cơ chế vận hành
Mặc dù ngoại hình tổng thể của vũ khí trông giống như một phiên bản thu nhỏ của dòng súng huyền thoại FN FAL, nhưng trên thực tế súng lại vận hành theo nguyên lý khóa nòng xoay, hoàn toàn khác biệt với cơ chế khóa nòng lật ứng dụng trên dòng FAL. Các lô sản xuất đời đầu của dòng súng CAL được trang bị một cụm cơ cấu lựa chọn chế độ bắn loạt 3 viên, cho phép vũ khí thực hiện loạt bắn điểm xạ 3 viên sau mỗi lần xạ thủ bóp giữ cò kích. Ngoài ra, khẩu CAL cũng hỗ trợ đầy đủ hai chế độ bắn tự động hoàn toàn và bán tự động thông thường.
Hệ thống súng ứng dụng một cụm piston trích khí hành trình dài để truyền động đẩy bệ khóa nòng lùi về sau, kết hợp với khối khóa nòng được xẻ các vấu khóa dạng ren gián đoạn (khóa nòng xoay) để xoay gài chặt vào buồng đạn của nòng súng khi đóng khóa nòng.[3] Các vấu khóa chịu lực này được các kỹ sư vát cắt theo một góc nghiêng rất dốc. Do đó, ngay trong chu kỳ khối khóa nòng đang xoay để mở khóa buồng đạn, mặt trước của khóa nòng đã đồng thời thực hiện một hành trình tịnh tiến lùi nhẹ về sau một cách chậm rãi, tạo lực rút ban đầu hữu hiệu giúp kéo bóc tách vỏ đạn rỗng ra khỏi thành buồng đạn một cách dễ dàng. Đặc tính cơ khí độc đáo tương tự có thể được tìm thấy trên các dòng súng máy như MG 30, MG 15, MG 17 và dòng MG 34.
Các quốc gia sử dụng
Bỉ
Colombia[4]
Gabon[5]
Liban: Lực lượng dân quân[5]
Mexico- Tập tin:Flag of Morocco.svg Maroc: Lực lượng Hiến binh Hoàng gia Maroc[6]
Myanmar: Quân đội giải phóng dân tộc Karen;[4] thu giữ bởi chính quyền quân sự Myanmar[7]
Nicaragua: Lực lượng Vệ binh Quốc gia và Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandinista
Palestine[8][4]
Thái Lan
Thử nghiệm
Iran: Từng thử nghiệm mẫu CAL cho Quân đội Hoàng gia Iran nhưng không biên chế.[9]
Pháp: Từng thử nghiệm mẫu CAL vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 để xem xét biên chế, phiên bản này trang bị hệ thống phóng lựu đạn đầu nòng kiểu MAS-49 nhưng không được thông qua.[10]
Lực lượng vũ trang phi chính phủ
- Abu Sayyaf: Súng FN CAL đã được thu hồi sau khi một thủ lĩnh của Abu Sayyaf bị tiêu diệt trong một cuộc đụng độ tại Bohol.[11]
Quân đội Lâm thời Cộng hòa Ireland (Provisional IRA)[12]- Phong trào Nhân dân Giải phóng Azawad[13]
Xem thêm
- FN FAL, phiên bản tiền thân sử dụng cỡ đạn 7.62mm NATO
- FN FNC, phiên bản kế nhiệm
- Danh sách súng trường tấn công
Tham khảo
- ^ "FN CAL". Weaponsystems.net. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021.
- ^ Kokalis, Peter G. (tháng 12 năm 1985). "FNC; Belgium's Compact Carbine". Soldier of Fortune Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2023.
- ^ Hogg, Ivan V.; Weeks, John S. (2000), Military Small Arms of the Twentieth Century (ấn bản thứ 7), Krause Publications
- ^ a b c "FN CAL around the world - The FAL Files". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2017.
- ^ a b Jones, Richard D. (ngày 27 tháng 1 năm 2009). Jane's Infantry Weapons 2009/2010 (ấn bản thứ 35). Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2869-5.
- ^ "wiw_af_morocco (worldinventory)". ngày 12 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2022.
- ^ "အကြမ်းဖက်လုပ်ရပ်တွေကိုမကြိုက်လို့ ကိုယ်တိုင်ပါဝင် စစ်မှုထမ်းလာတဲ့ ပြည်သူ့စစ်မှုထမ်းများ အပိုင်း-၇". PyoMay Vlogs. ngày 12 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
- ^ "Belgian FN Herstal CAL rifle in Gaza", Armament Research Services (ARES), ngày 12 tháng 12 năm 2015, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2023
- ^ "Iranian 5.56mm Rifles: From S5.56 to Masaaf – Silah Report". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2023.
- ^ Huon, Jean (2010). Le FAMAS et son histoire [The FAMAS and its story] (bằng tiếng French). Crépin-Leblond Éditions. tr. 43. ISBN 978-2-70-300336-6.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ "Abu Sayyaf leader killed in Bohol clash". ABS-CBN. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
- ^ Clarke, Lism, M. Kathryn, Johnston (2001). Martin McGuinness: From Guns to Government (bằng tiếng Anh). Mainstream. ISBN 9781840184730.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Small Arms Survey (2005). "Sourcing the Tools of War: Small Arms Supplies to Conflict Zones". Small Arms Survey 2005: Weapons at War. Oxford University Press. tr. 166. ISBN 978-0-19-928085-8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2010.
- Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ
- Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Trang có lỗi kịch bản
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Súng trường tấn công dùng đạn 5,56×45mm NATO
- Súng trường tấn công Bỉ
- Súng FN Herstal
- Súng có cơ chế piston hành trình dài
- Súng trường thời Chiến tranh Lạnh
- Vũ khí giới thiệu vào năm 1966