Bản mẫu:Infobox islands

Hòn Tre là một hòn đảo thuộc đặc khu Kiên Hải, tỉnh An Giang, Việt Nam.

Địa lý

Đảo Hòn Tre có tọa độ địa lý 104°25' đến 104°40' kinh độ đông và 9°37' đến 9°58' độ vĩ bắc, cách tỉnh lỵ Rạch Giá của tỉnh An Giang về phía tây 30 km.

Đảo có diện tích 4,82 km², dân số năm 2020 là 3.877 người,[1] mật độ dân số đạt 804 người/km².

Địa hình

Tập tin:Hòn Tre.JPG
Toàn bộ đảo nhìn từ phía đông, trông giống một con rùa

Hòn Tre có tổng diện tích tự nhiên 428,59 ha, địa hình dốc, chủ yếu là đồi núi, độ cao trung bình trên 30 m. Trên đảo có hai ngọn núi: ngọn cao phía nam và ngọn thấp phía bắc. Hai ngọn núi này tạo cho đảo có hình dáng giống như một con rùa nổi giữa biển nên người dân còn gọi khu vực này là Đảo Rùa.

Bờ biển quanh đảo có hình dáng uốn lượn, cao thấp khá phức tạp, tuy vậy cũng có những khu vực tương đối bằng phẳng với bãi đá tự nhiên trải dài, phù hợp cho tổ chức du lịch, dã ngoại như Bãi Chén, Động Dừa, Bãi Dứa.

Khí hậu

Khí hậu vùng đảo mang tính chất nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt:

  • Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hằng năm
  • Mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 hằng năm.

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Hòn Tre có tổng diện tích đất tự nhiên là 428,59 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 396,69 ha, tương đối màu mỡ; diện tích rừng cũng chiếm tỉ lệ khá lớn.

Tài nguyên biển

Biển là nguồn sống của người dân tại đây. Vị trí của hòn Tre có một khu hệ tôm cá phong phú và đa dạng, với các loại tôm cá nổi tiếng như: tôm tích, ghẹ cu li, cá mú sao, cá ngát, hàu, cá bống biển, cá đối, cá mang ếch.

Trên đảo có những bãi đá trải dài tạo thành cảnh quan thiên nhiên khá hoang sơ như Bãi Chén, Động Dừa, Bãi Dứa (Đuôi Hà Bá), Hòn Đá Bà Già,...

Bãi Chén nằm ở phía tây bắc của đảo, có chiều dài 2 km, có rất nhiều tảng đá to nhìn như những chiếc chén (bát) úp nên có tên là Bãi Chén. Đây được coi là bãi đẹp nhất của hòn Tre, cảnh vật còn giữ được những nét hoang sơ, có nhiều cây xanh tạo bóng mát. Tại đây du khách có thể thưởng thức các đặc sản biển và ngắm cảnh thiên nhiên.

Động Dừa là một vịnh nhỏ với rất nhiều dừa mọc ven biển, có làng chài nên ghe thường ghé về để lấy lương thực, nước ngọt và nghỉ ngơi sau những chuyến đi biển xa. Tại đây có một bãi biển đẹp với nhiều ghềnh đá nhấp nhô.

Đuôi Hà Bá (Bãi Dứa – nơi có nhiều cây dứa gai) có nhiều cây cổ thụ lớn, du khách ngắm cảnh thiên nhiên, và có thể lặn xuống biển cạy hào bám ở ghềnh đá để thưởng thức.

Kinh tế - xã hội

Tập tin:Hòn Tre (Kiên Giang), 01.JPG
Một góc Bãi Chén

Ngư nghiệp là thế mạnh của đảo, tuy nhiên trong những năm tiếp theo sẽ thay đổi dần sang hướng nuôi trồng thủy hải sản do lượng cá tôm đang dần cạn kiệt và mất kiểm soát ngư trường. Ngoài ra du lịch sinh thái biển, leo núi cắm trại sẽ là thế mạnh hàng đầu.

Diện tích đất cho nông nghiệp chủ yếu để trồng tiêu và các loại cây ăn quả như: xoài, nhãn, mít, thanh long; sản lượng chủ yếu để phục vụ nhau cầu ngư dân trên đảo.

Điện lưới: Điện lưới quốc gia.

Nước sinh hoạt: Hiện có một trạm cấp nước công suất 10.800 m³/năm, tuy nhiên vào mùa khô vẫn còn thiếu nước sính hoạt. Ngoài ra người dân còn lấy nước từ suối về để phục vụ nhu cầu sinh hoạt.

Giáo dục

Trên đảo có 1 trường mẫu giáo, 1 trường tiểu học và 1 trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.

Y tế

Đảo hiện có một bệnh viện với 15 y, bác sĩ với tổng số 15 giường bệnh.

Giao thông

Đảo hiện có một đường chính chạy quanh đảo với chiều dài 11 km. Các tuyến đường nội bộ chủ yếu là đường bê tông xi măng và đường cấp phối. Giao thông từ đảo vào đất liền và các đảo khác là dùng tàu, thuyền; từ đây vào Rạch Giá mất khoảng 50 phút đi tàu cao tốc.

Sự tích

Xưa kia, vào mùa khô, nhân dân vùng Rạch Giá sinh hoạt rất khó khăn vì thiếu nước ngọt. Vào mùa khô, trong nhà, chum, lu chứa nước ngọt đều cạn ráo. Ngoài đồng, ao, hồ cũng đều cạn khô. Nắng lâu, các sông ở Kiên Giang bị nước biển tràn vào, mặn chát. Có hai vợ chồng nọ, thương cảnh bà con khốn đốn, quyết tâm đi tìm nguồn nước ngọt. Ở đất liền, tìm đâu cũng không thấy, họ bèn dong buồm ra khơi, tìm đến các đảo xa với suy nghĩ: nơi có núi cao thì có rừng, mà có rừng ắt có suối nước ngọt. Họ đi khắp các đảo, đến những nơi chưa hề có người đặt chân đến mà vẫn không gặp nơi nào có suối cả. Lênh đênh như vậy mấy tháng liền, hai vợ chồng mới đến một hòn đảo có núi cao, có rừng tre um tùm, tươi tốt. Bước lên bờ cát, đi một quãng, họ vui mừng xiết bao khi nghe có tiếng suối róc rách dưới rừng cây. Họ vội vàng tìm đến. Quả nhiên có một dòng suối nho nhỏ từ trên cao chảy xuống, len lỏi qua những kẽ đá, nước trong veo, trong suốt tận đáy. Họ vốc lấy một miếng nếm thử, nước ngọt lịm và mát rượi. Hai vợ chồng vui sướng quá, uống cho đã khát, rồi múc nước đổ đầy thuyền, sau đó vội vã quay về đất liền, quên cả mệt nhọc. Đến nơi, hai vợ chồng đem nước chia cho bà con và chỉ cho mọi người biết chỗ lấy nước.

Từ đó, nhân dân vùng Rạch Giá thoát được nạn thiếu nước ngọt mùa khô, còn hòn đảo ngoài khơi Rạch Giá kia vì có rừng tre nên được đặt tên là đảo Hòn Tre.[2]

Tham khảo

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. "Dân số đến 31 tháng 12 năm 2020 - tỉnh Kiên Giang" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.
  2. ^ Tài liệu hướng dẫn học tập thơ văn Kiên Giang trong nhà trường phổ thông cơ sở cấp II, Sở Giáo dục Kiên Giang, 1990, Lê Trí Viễn chủ biên.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Sơ khai An Giang