Kiên Hải
|
Kiên Hải
|
|||
|---|---|---|---|
| Đặc khu | |||
| Tập tin:Biểu trưng huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.svg Biểu trưng | |||
| Tập tin:Hòn Tre.JPG Đảo Hòn Tre (Hòn Rùa) nhìn từ vịnh Rạch Giá | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng | Đồng bằng sông Cửu Long (Vịnh Thái Lan) | ||
| Tỉnh | An Giang | ||
| Trụ sở UBND | Ấp 1 | ||
| Lịch sử hình thành | |||
| Thành lập | 16/6/2025[1] | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 9°58′20″B 104°50′53″Đ / 9,9722686580223°B 104,84802189557°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 24,75 km²[2] | ||
| Dân số (31/12/2024) | |||
| Tổng cộng | 23.179 người[2] | ||
| Mật độ | 936 người/km² | ||
| Khác | |||
| Mã hành chính | 31108[3] | ||
| Website | kienhai | ||
Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/cat
Kiên Hải là một đặc khu thuộc tỉnh An Giang, Việt Nam.
Địa lý
Đặc khu Kiên Hải bao gồm một cụm đảo nằm ngoài khơi vùng biển Tây Nam thuộc vịnh Thái Lan, gồm 3 cụm đảo: Hòn Tre, Hòn Sơn, Nam Du nằm nối tiếp nhau, hướng đất liền về phường Rạch Giá, ra biển ngoài cùng hướng đặc khu Thổ Châu.
Đảo Hòn Tre là trung tâm hành chính của đặc khu, cách phường Rạch Giá 30 km với khoảng 1 giờ ngồi tàu cao tốc và 2 giờ ngồi tàu gỗ. Đảo có diện tích nhỏ, chỉ rộng khoảng 4 km², đỉnh cao nhất là 395 m. Dân cư chủ yếu sinh sống bằng nghề làm vườn, đánh bắt và chế biến thủy hải sản. Hòn Tre có nhiều nơi phong cảnh rất hữu tình như Bãi Chén, Động Dừa, Đuôi Hà Bá,...
Năm 2006, Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang bao gồm cả huyện này được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Hành chính
Đặc khu Kiên Hải được chia thành 13 ấp: I, II, III, An Bình, An Cư, An Phú, Bãi Bấc, Bãi Ngự, Bãi Nhà A, Bãi Nhà B, Củ Tron, Hòn Mấu, Thiên Tuế.[4]
Lịch sử
Năm 1757, thành lập huyện Kiên Giang thuộc trấn Hà Tiên, thì các đảo thuộc huyện Kiên Giang.
Nguyên xưa, các đảo thuộc đặc khu Kiên Hải ngày nay là những hòn đảo hoang. Từ trước thế kỷ XVI, các lưu dân ở vùng Rạch Giá, Hà Tiên (nay thuộc tỉnh An Giang) đến các hòn đảo này để khai thác theo mùa, khi khai thác xong nông sản, hải sản thì trở về lại đất liền. Dần dần về sau mới có cư dân sinh sống, chủ yếu ở trên các hòn đảo lớn và có nguồn nước ngọt. Tại đảo Hòn Lớn từng ghi dấu tích trận ác chiến vào cuối thế kỷ XVI giữa đội tàu viễn dương của người Hà Lan và cướp biển người Hải Nam nhằm tranh đoạt số tài sản khai thác được chuyển từ Phú Quốc về. Nhiều cướp biển Hải Nam tử thương, xác trôi dạt vào bờ biển Hòn Lớn. Từ đó, cư dân địa phương gọi bãi biển này là bãi Chệt.
Tương truyền, cuối thế kỷ XVIII, khi bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chúa Nguyễn Ánh từng lưu dạt đến đây để trốn tránh quân Tây Sơn.[5][6] Do đó, nhiều địa danh được cho là phát xuất từ giai đoạn ông lưu trú ở đây như: hòn Củ Tron, bãi Giếng, bãi Ngự,... Như tại giếng Vua (đảo Nam Du) có một tấm bia ghi bằng chữ Hán, được chôn sâu dưới đất nên không đọc được hết chữ, dân địa phương cho là do chính tay Nguyễn Ánh khắc để kỷ niệm những ngày ở đây. Một giai thoại nổi tiếng kể rằng khi chúa Nguyễn Ánh bại trận đến đây tạm trú, quân lính thiếu lương thực phải đi tìm trái dại, củ rừng về ăn. Họ tìm được một loại củ tròn, nấu ăn ngon, qua được cơn đói.[7] Sau này, khi lên ngôi, vua Gia Long đặt cho đảo lớn nhất trong quần đảo là "hòn Củ Tròn", tuy nhiên về sau bị đọc trại thành “hòn Củ Tron”.
Khoảng năm 1819, Hòn Sơn Rái có số dân ở khá đông nên đã hình thành một thôn có tên gọi là San Du (Sơn Du).
Năm 1822, đại sứ nước Anh John Crawfurd trên hành trình đi sứ Xiêm và Cochin China [Việt Nam] có lẽ đã ghé thăm và khám phá quần đảo Nam Du.[8] Ngày 12, lúc 6 giờ sáng, ông gặp một quần đảo, trong đó có một đảo lớn, dài khoảng 4 dặm, có khoảng 20 đảo nhỏ bao xung quanh, tên là Hon-co-thron [hòn Củ Tron] hoặc Hon-co-tre [Hòn Cò Tre]. Tên gọi này theo ông là do tiếng An Nam hoặc Cochin China. Ông cũng lên khám phá một số đảo.[8]
Tuy nhiên, cho đến tận cuối thế kỷ XIX, sau khi chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp đã nhiều lần cho tàu tuần dương thị sát các hòn đảo, có khảo sát qua quần đảo này, nhưng trên các đảo toàn là rừng, giá trị kinh tế không lớn, không có dân cư, nên chính quyền thực dân không phân định địa giới hành chánh cho quần đảo này. Thỉnh thoảng có vài thương thuyền người Trung Hoa, Mã Lai,... ghé qua để tránh bão, sau đó dong thuyền đi tiếp, chứ không ở lâu. Trong tài liệu "Hà Tiên địa phương chí" của Portron Klian soạn năm 1929, đã có đề cập nhóm đảo này thuộc địa phận của quận Phú Quốc: "Cuối cùng phía ngoài khơi và về hướng đảo Phú Quốc, người ta gặp cụm hòn Củ Tron (Poulo Dama), nơi đây có một cái bãi lớn gọi là bãi Ngự, trước kia có thể là nơi trú ẩn của vua Gia Long, khi bị Tây Sơn đánh đuổi".
Năm 1836, Lại Sơn thôn thuộc tổng Kiên Định, huyện Kiên Giang, tỉnh Hà Tiên.
Năm 1945 – 1975, xã Lại Sơn thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Năm 1957, xã Lại Sơn thuộc quận Kiên An (huyện An Biên).
Năm 1961, chính quyền Cách mạng gọi là ấp Hòn Tre giao về thị xã Rạch Giá.
Sau khi giành được độc lập, trong suốt thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, phần lớn khu vực Kiên Hải ngày nay thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, do dân cư quá thưa thớt, nhưng chưa thành lập đơn vị hành chính, mà được đặt dưới quyền quản lý hành chính của xã Lại Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá. Dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, từ năm 1962, khu vực Kiên Hải về mặt hành chính thuộc ấp Củ Tron, xã Lại Sơn, quận Kiên An.[9]
Năm 1962, chính quyền Sài Gòn lập ấp chiến lược Hòn Tre mang tên ấp Phú Xuân thuộc xã Vĩnh Thanh Vân, thị xã Rạch Giá.
Năm 1966 – 1975, ấp Hòn Tre thuộc xã Lại Sơn thuộc quận Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang. Xã Lại Sơn bao gồm quần đảo Nam Du (bao gồm cả Hòn Tre (năm 1966). Trong đó, Hòn Sơn Rái được xem là trung tâm của xã).
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW[10] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau và 2 huyện An Biên, Vĩnh Thuận (ngoại trừ 2 xã Đông Yên và Tây Yên) của tỉnh Rạch Giá thành một tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (ngoại trừ huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Hà, tỉnh Rạch Giá và huyện Thốt Nốt của tỉnh Cần Thơ thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Tiền, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Kiến Tường thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19/NQ[11] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (bao gồm cả huyện Thốt Nốt của tỉnh Long Xuyên), tỉnh Sóc Trăng thành một tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Hậu (tỉnh An Giang cũ bao gồm tỉnh Long Xuyên (trừ huyện Thốt Nốt và tỉnh Châu Đốc) và phía Tây tỉnh Long Châu Tiền.
- Tỉnh Rạch Giá (bao gồm 3 huyện: Hà Tiên, Phú Quốc, huyện Châu Thành A của tỉnh Long Châu Hà) vẫn để thành tỉnh riêng.
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976[12] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (bao gồm cả huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Hậu Giang.
- Hợp nhất tỉnh Kiến Phong và tỉnh Sa Đéc (trừ huyện Chợ Mới) thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Đồng Tháp
- Hợp nhất 5 huyện: Châu Phú, Châu Thành X, Huệ Đức Tịnh Biên, Tri Tôn và 3 thị xã: Châu Đốc, Long Xuyên, Tân Châu của tỉnh Long Châu Hà; 2 huyện: An Phú, Phú Tân của tỉnh Long Châu Tiền; huyện Chợ Mới của tỉnh Sa Đéc và tỉnh An Giang (trừ huyện Thốt Nốt) thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh An Giang.
- Hợp tỉnh Rạch Giá cũ và 3 huyện: Châu Thành A, Hà Tiên, Phú Quốc thuộc tỉnh Long Châu Hà thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Kiên Giang.
Sau năm 1975, xã Lại Sơn thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Cuối năm 1982, trước yêu cầu an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế biển đảo, Tỉnh ủy-HĐND-UBND tỉnh Kiên Giang nhận thấy vùng biển tỉnh Kiên Giang rất rộng lớn, nhiều đảo cách đất liền rất xa, có đảo hơn 100 km, rất khó cho công tác quản lý, cũng như chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên vùng biển đảo, nên tỉnh quyết định đề nghị Chính phủ cho thành lập huyện mới và lấy tên là huyện Kiên Hải (Kiên là chữ đầu Kiên Giang và Hải là Biển).
Ngày 14 tháng 1 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 04-HĐBT[13] về việc thành lập huyện Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở 6 xã: Hòn Nghệ (huyện lỵ), Hòn Tre, Lại Sơn, Nam Du, Bà Lụa, Hòa Đốc.
Ngày 29 tháng 3 năm 1983, UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 107/QĐ-UBND về việc thành lập huyện Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở toàn bộ xã đảo Lại Sơn (gồm cả quần đảo Nam Du và Hòn Tre) của huyện An Biên và 3 ấp: Hòn Nghệ, Hòn Heo, Hòn Tre Cửa (quần đảo Hải Tặc, Bà Lụa, Hòn Nghệ) của huyện Hà Tiên.[14]
Huyện Kiên Hải có 6 xã (đảo và quần đảo): Hòn Tre (đảo Hòn Tre – huyện lỵ), An Sơn (quần đảo Nam Du), Hòn Nghệ (Hòn Nghệ), Lại Sơn (Hòn Sơn Rái), Sơn Hải (quần đảo Bà Lụa), Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc).
Ngày 27 tháng 9 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 107-HĐBT[15] về việc:
- Đổi tên xã Nam Du thành xã An Sơn.
- Đổi tên xã Bà Lụa thành xã Sơn Hải.
- Đổi tên xã Hòa Đốc thành xã Tiên Hải.
Ngày 24 tháng 5 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 92-HĐBT[16] về việc chuyển xã Tiên Hải về huyện Hà Tiên quản lý.
Ngày 17 tháng 8 năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 33/2000/NĐ-CP[17] về việc chuyển 2 xã Hòn Nghệ và Sơn Hải về huyện Kiên Lương quản lý.
Huyện Kiên Hải còn lại 3 xã: An Sơn, Hòn Tre (huyện lỵ), Lại Sơn.

Ngày 26 tháng 7 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2005/NĐ-CP[18] về việc thành lập xã Nam Du thuộc huyện Kiên Hải trên cơ sở 440 ha diện tích tự nhiên và 5.484 nhân khẩu của 10 đảo phía đông thuộc xã An Sơn.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã An Sơn còn lại 675 ha diện tích tự nhiên và 8.033 nhân khẩu.
Huyện Kiên Hải có 4 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 4 xã: Hòn Tre (huyện lỵ), An Sơn, Lại Sơn, Nam Du.
Tính đến ngày 31/12/2024:
- Xã An Sơn có 3 ấp: An Cư, Bãi Ngự, Củ Tron
- Xã Hòn Tre có 3 ấp: 1, 2, 3.
- Xã Lại Sơn có 4 ấp: Bãi Bắc, Bãi Nhà A, Bãi Nhà B, Thiên Tuế.
- Xã Nam Du có 3 ấp: An Bình, An Phú, Hòn Mấu.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[19] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Kiên Giang vào tỉnh An Giang.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025:
- Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15[20] về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15[1] về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2025). Theo đó, thành lập đặc khu Kiên Hải thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ 24,75 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 23.179 người của huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang (bao gồm toàn bộ 7,09 km² diện tích tự nhiên, quy mô dân số là 4.886 người của xã An Sơn; toàn bộ 4,82 km² diện tích tự nhiên, quy mô dân số là 5.055 người của xã Hòn Tre; toàn bộ 10,87 km² diện tích tự nhiên, quy mô dân số là 8.958 người của xã Lại Sơn và toàn bộ 1,97 km² diện tích tự nhiên, quy mô dân số là 4.280 người của xã Nam Du).
Đặc khu Kiên Hải có 24,75 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 23.179 người.[2]
Sau khi sắp xếp, đặc khu Kiên Hải được chia thành 13 ấp: I, II, III, An Bình, An Cư, An Phú, Bãi Bấc, Bãi Ngự, Bãi Nhà A, Bãi Nhà B, Củ Tron, Hòn Mấu, Thiên Tuế.[4]
Chú thích
- ^ a ă "Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ^ a ă â "Công văn số 812/SNV-XDCQCTINBĐG về việc tài liệu lấy ý kiến cử tri đối với 2 đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã của tỉnh Kiên Giang năm 2025" (PDF). Cổng Thông tin điện tử tỉnh Kiên Giang. ngày 22 tháng 4 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ^ a ă Ủy ban bầu cử đặc khu Kiên Hải (ngày 16 tháng 2 năm 2026). "Nghị quyết số 1/NQ-UBBC về việc Công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đặc khu Kiên Hải khoá II, nhiệm kỳ 2026 - 2031 theo từng đơn vị bầu cử". Trang Thông tin điện tử đặc khu Kiên Hải - tỉnh An Giang. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2026.
- ^ Đoàn Nô. Lịch sử Kiên Hải (1836–2005). tr. 3, 4.
- ^ Nguyễn Dược, Trung Hải (2008). Sổ tay địa danh Việt Nam: Có sự khác biệt: “Quần đảo thuộc tỉnh Kiên Giang, cách bờ biển Rạch Giá 100 km, gồm 21 hòn đảo đá lớn, nhỏ, trong đó có 7 hòn có người ở. Diện tích tổng cộng: 11 km². Đảo lớn nhất là đảo Nam Du, trên đảo có núi cao 310m. Năm 1783, trong khi lưu vong, Nguyễn Ánh đã từng trốn tránh ở đây”. NXB. Giáo dục. tr. 173.
- ^ Theo người dân địa phương thì đây chính là củ nầng (Dioscorea cirrhosa), một loại khoai rừng, củ to khoảng 10kg. Trước khi nấu ăn phải gọt vỏ, chẻ từng khoanh ngâm nước, luộc nhiều lần, xả kỹ để khi nấu khoai không bị đắng. Khoai nấu chín ăn khá ngon.
- ^ a ă John Crawfurd (1828): Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library's John M. Echols Collection. Chapter 3.
- ^ Đoàn Nô. Lịch sử Kiên Hải (1836–2005). tr. 30.
- ^ "Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh". ngày 20 tháng 9 năm 1975. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Nghị quyết số 19/NQ về việc điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 20 tháng 12 năm 1975. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Nghị định số 3/NQ/1976 về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 24 tháng 2 năm 1976. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Quyết định 04-HĐBT năm 1983 về việc thành lập huyện Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang". Thư viện pháp luật. ngày 14 tháng 1 năm 1983.
- ^ Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang (ngày 3 tháng 3 năm 2022). Công văn số 199-CV/BTGHU về việc Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 40 năm thành lập huyện Kiên Hải (12/4/1983-12/4/2023). Tuyên giáo Huyện uỷ Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. tr. 1, 2.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: năm (liên kết) - ^ "Quyết định số 107-HĐBT năm 1983 về việc phân vạch địa giới một số xã, phường và thị trấn Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang". Thư viện pháp luật. ngày 27 tháng 9 năm 1983.
- ^ Quyết định 92-HĐBT năm 1988 về việc điều chỉnh địa giới huyện Châu Thành để mở rộng địa giới thị xã Rạch Giá; thành lập phường, xã, thị trấn thuộc thị xã Rạch Giá và các huyện Châu Thành, An Minh, Gò Quao, Hòn Đất; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hà Tiên và huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
- ^ "Nghị định số 33/2000/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Kiên Hải và huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang". Thư viện pháp luật. ngày 17 tháng 8 năm 2000.
- ^ "Nghị định số 97/2005/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang, điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập xã thuộc các huyện Gò Quao, An Minh, Châu Thành, Kiên Hải và Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang". Thư viện pháp luật. ngày 26 tháng 7 năm 2005.
- ^ "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Nghị quyết số 203/2025/QH15 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
Xem thêm
- = 6716 Chuyên đề "Kiên Giang – biển đảo" – Quần đảo Nam Du = 6716 Lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2013 tại archive.today, Báo ảnh Đất mũi, 24 tháng 4 năm 2008
- Một số hình ảnh về quần đảo Nam Du Lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2012 tại Wayback Machine