HBsAg
| Protein màng bọc lớn | |
|---|---|
| Danh pháp | |
| Sinh vật | |
| Ký hiệu | S |
| UniProt | Q9QAB7 |
| Dữ liệu khác | |
HBsAg (còn được gọi là kháng nguyên Australia) là kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HBV). Sự hiện diện của nó trong máu cho thấy tình trạng nhiễm viêm gan B.
Cấu trúc và chức năng
Màng bọc ngoài của virus có vỏ bọc chứa các protein bề mặt khác biệt so với phần còn lại của virus – vốn đóng vai trò là kháng nguyên. Các kháng nguyên này được nhận diện bởi các protein kháng thể gắn kết đặc hiệu với một trong những protein bề mặt này.[1]
Dạng HBsAg có chiều dài đầy đủ được gọi là dạng L ("lớn"). Nó bao gồm một vòng preS loop, một chuỗi xoắn xuyên màng thứ nhất (TM1), một vòng trong bào tương (CYL), một chuỗi xoắn xuyên màng khác (TM2), một vòng kháng nguyên (AGL), tiếp theo là hai chuỗi xoắn xuyên màng (TM3 và TM4). Vòng preS có thể nằm ở bên ngoài (lòng mạng lưới nội chất) hoặc nằm trong bào tương với chuỗi xoắn TM1 thực tế không xuyên qua màng. Dạng M ("trung bình") có vùng preS bị cắt ngắn, phần preS1 chỉ có ở dạng L được gọi là preS1, trong khi phần dùng chung giữa dạng L và dạng M được gọi là preS2. preS2 luôn nằm ở lòng mạng lưới nội chất. Dạng S ("nhỏ") không có preS2.[2]
HBsAg tạo nên lớp vỏ của virus. Hơn nữa, nó chứa các phần được thụ thể tế bào của virus là NTCP nhận diện trong vùng preS1, khiến virus gắn kết chặt chẽ với tế bào. Cơ chế virus thuyết phục tế bào đưa virus vào sau khi gắn kết thông qua quá trình nhập bào bằng ẩm bào vẫn chưa được biết rõ.[3] Nó cũng đóng vai trò giải phóng các thành phần của hạt virus vào trong tế bào thông qua dung hợp màng. Phần chịu trách nhiệm cho sự dung hợp này cũng nằm ở vùng preS1.[4]
HBsAg có khả năng tự lắp ráp thành các vỏ virus ngay cả khi không có thành phần bên trong. Một vỏ rỗng như vậy được gọi là hạt giống virus (virus-like particle) hoặc hạt dưới virus hình cầu nhỏ (small spherical subviral particle).[2]
Xét nghiệm miễn dịch
Ngày nay, các protein kháng nguyên này có thể được sản xuất bằng công nghệ di truyền (ví dụ: E. coli chuyển gen) để tạo nguyên liệu cho xét nghiệm kháng nguyên đơn giản, nhằm phát hiện sự hiện diện của HBV.[5]
Kháng nguyên này hiện diện trong huyết thanh của bệnh nhân viêm gan B (có hoặc không có triệu chứng lâm sàng). Bệnh nhân đã phát triển kháng thể kháng HBsAg (chuyển đổi huyết thanh kháng HBsAg) thường được coi là không còn khả năng lây nhiễm. Phát hiện HBsAg bằng xét nghiệm miễn dịch (immunoassay) được sử dụng trong sàng lọc máu để thiết lập chẩn đoán nhiễm viêm gan B trong bối cảnh lâm sàng (kết hợp với các marker bệnh khác) và theo dõi điều trị kháng virus.[6]
Trong mô bệnh học, sự hiện diện của HBsAg thường được chứng minh bằng kỹ thuật nhuộm Shikata orcein, sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên để gắn kết với kháng nguyên trong tế bào gan bị nhiễm.[7] Kết quả xét nghiệm HBsAg dương tính có thể do tiêm phòng vắc-xin viêm gan B gần đây, nhưng tình trạng dương tính này khó có thể kéo dài quá 14 ngày sau khi tiêm.[8]
Ứng dụng
HBsAg được sản xuất thông qua DNA tái tổ hợp được sử dụng để điều chế vắc-xin viêm gan B. Vắc-xin này có hiệu lực rất tốt, khoảng 95% với khả năng bảo vệ kéo dài hơn 30 năm, ngay cả khi hiệu giá kháng thể kháng HBsAg đã giảm.[9][10] Vắc-xin RTS,S cũng sử dụng HBsAg. Đây là hỗn hợp của một phiên bản kháng nguyên bề mặt sốt rét được gắn vào HBsAg (RTS) và HBsAg thông thường (S), cả hai đều được sản xuất thông qua DNA tái tổ hợp. Giống như HBsAg thông thường, hai thành phần này có khả năng tự lắp ráp thành các hạt giống virus hòa tan trong nước.[11]
Lịch sử
HBsAg thường được gọi là Kháng nguyên Australia. Điều này là do nó lần đầu tiên được phân lập bởi bác sĩ nghiên cứu người Mỹ và người đoạt giải Nobel Baruch S. Blumberg trong huyết thanh của một người thổ dân Úc.[12] Năm 1968, nó được nhà virus học Alfred Prince phát hiện là một phần của virus gây viêm gan huyết thanh.[13] Heptavax (một loại vắc-xin viêm gan B "thế hệ đầu tiên" vào những năm 1980) được sản xuất từ HBsAg chiết xuất từ huyết tương của bệnh nhân viêm gan. Các loại vắc-xin hiện đại hơn được sản xuất từ HBsAg tái tổ hợp nuôi cấy trong nấm men.[14]
Xem thêm
Chú thích
- ^ Ding, Ling; Huang, Jiaquan; Huang, Shuaiwen (tháng 12 năm 2025). "The significance of antibody to hepatitis B surface antigen in infection and clearance of hepatitis B virus". Human Vaccines & Immunotherapeutics. Quyển 21 số 1. tr. 2445283. doi:10.1080/21645515.2024.2445283. ISSN 2164-554X. PMC 12934186. PMID 39754388.
{{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị|pmc=(trợ giúp) - ^ a b Liu, Haitao; Hong, Xupeng; Xi, Ji; Menne, Stephan; Hu, Jianming; Wang, Joseph Che-Yen (ngày 5 tháng 8 năm 2022). "Cryo-EM structures of human hepatitis B and woodchuck hepatitis virus small spherical subviral particles". Science Advances. 8 (31). Bibcode:2022SciA....8O4184L. doi:10.1126/sciadv.abo4184. PMC 9355357.
- ^ Herrscher, C; Roingeard, P; Blanchard, E (ngày 18 tháng 6 năm 2020). "Hepatitis B Virus Entry into Cells". Cells. 9 (6): 1486. doi:10.3390/cells9061486. PMC 7349259. PMID 32570893.
- ^ Pérez-Vargas, Jimena; Teppa, Elin; Amirache, Fouzia; Boson, Bertrand; Pereira de Oliveira, Rémi; Combet, Christophe; Böckmann, Anja; Fusil, Floriane; Freitas, Natalia; Carbone, Alessandra; Cosset, François-Loïc (ngày 30 tháng 6 năm 2021). "A fusion peptide in preS1 and the human protein disulfide isomerase ERp57 are involved in hepatitis B virus membrane fusion process". eLife. 10. doi:10.7554/eLife.64507. PMC 8282342. PMID 34190687.
- ^ Datta, Sibnarayan; Chatterjee, Soumya; Veer, Vijay (ngày 28 tháng 10 năm 2014). "Recent advances in molecular diagnostics of hepatitis B virus". World Journal of Gastroenterology. Quyển 20 số 40. tr. 14615–14625. doi:10.3748/wjg.v20.i40.14615. ISSN 2219-2840. PMC 4209528. PMID 25356025.
- ^ Wu, Yaling; Ling, Xia; Yu, Guangshu; Zhu, Hong; Hu, Wei; Pu, Cunying; Zhu, Faming (ngày 31 tháng 12 năm 2019). "The efficacy of HBsAg detection using electro-chemiluminescence immunoassay for blood donor screening in China". Annals of Blood (bằng tiếng Anh). Quyển 4 số 0. doi:10.21037/aob.2019.12.02. ISSN 2521-361X.
- ^ Guarascio P, Yentis F, Cevikbas U, Portmann B, Williams R (tháng 1 năm 1983). "Value of copper-associated protein in diagnostic assessment of liver biopsy". Journal of Clinical Pathology. 36 (1): 18–23. doi:10.1136/jcp.36.1.18. PMC 498098. PMID 6185545.
- ^ Rysgaard CD, Morris CS, Drees D, Bebber T, Davis SR, Kulhavy J, Krasowski MD (tháng 9 năm 2012). "Positive hepatitis B surface antigen tests due to recent vaccination: a persistent problem". BMC Clinical Pathology. 12 (1): 15. doi:10.1186/1472-6890-12-15. PMC 3515481. PMID 23006828.
- ^ "Hepatitis B vaccines: WHO position paper – July 2017" (PDF). Wkly. Epidemiol. Rec. 92 (27): 369–92. tháng 7 năm 2017. PMID 28685564.
- ^ "Ask the Experts: Hepatitis B". Immunize.org. Immunization Action Coalition. ngày 26 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2022.
- ^ Rutgers T, Gordon D, Gathoye AM, Hollingdale M, Hockmeyer W, Rosenberg M, De Wilde M (tháng 9 năm 1988). "Hepatitis B Surface Antigen as Carrier Matrix for the Repetitive Epitope of the Circumsporozoite Protein of Plasmodium Falciparum". Nature Biotechnology. 6 (9): 1065–1070. doi:10.1038/nbt0988-1065. S2CID 39880644.
- ^ Blumberg BS, Alter HJ, Visnich S (tháng 2 năm 1965). "A "New" Antigen in Leukemia Sera". JAMA. 191 (7): 541–546. doi:10.1001/jama.1965.03080070025007. PMID 14239025.
- ^ Bell, Jack Thomas; Zhang, Xiaonan (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "The hepatitis B virus surface antigen: An evolved perfection and its unresolved mysteries". Virology. Quyển 608. tr. 110527. doi:10.1016/j.virol.2025.110527. ISSN 0042-6822.
- ^ Kumar, Ravinder (ngày 18 tháng 9 năm 2025). "Recombinant Yeast-Based Vaccines: Importance and Applications". Infectious Disease Reports. Quyển 17 số 5. tr. 118. doi:10.3390/idr17050118. ISSN 2036-7430. PMC 12452364. PMID 40981338.
{{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị|pmc=(trợ giúp); Kiểm tra giá trị|pmid=(trợ giúp)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).