Bước tới nội dung

HMS Battler (D18)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Hatnote”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Hatnote”.

<th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Lịch sử <th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Lịch sử <th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Đặc điểm khái quát
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Tàu sân bay hộ tống USS Altamaha
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS_utilities”.Hoa Kỳ
Tên gọi Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Xưởng đóng tàu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Đặt lườn Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Hạ thủy Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Người đỡ đầu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Trưng dụng Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Đổi tên Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Số phận Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS_utilities”.Anh Quốc
Tên gọi Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Trưng dụng Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Nhập biên chế Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Xuất biên chế Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Xóa đăng bạ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Số phận Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Lớp tàu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Trọng tải choán nước Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Chiều dài Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Sườn ngang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Mớn nước Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Công suất lắp đặt Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Động cơ đẩy Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Tốc độ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Thủy thủ đoàn Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Vũ khí Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Máy bay mang theo Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Hệ thống phóng máy bay Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.

HMS Battler (D18), nguyên là tàu sân bay hộ tống USS Altamaha (CVE-6) (ký hiệu lườn ban đầu AVG-6) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Bogue, được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc và đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Sau chiến tranh nó được hoàn trả cho Mỹ và bị tháo dỡ vào năm 1946.

Thiết kế – Chế tạo – Chuyển giao

Nó được đặt lườn vào ngày 15 tháng 4 năm 1941 như một tàu hàng kiểu C3-S-A1 tên gọi Mormacmail dành cho hãng Moore-McCormack Lines, Inc. theo hợp đồng với Ủy ban Hàng hải Hoa Kỳ; được chế tạo bởi hãng Ingalls Shipbuilding tại Pascagoula, Mississippi với số hiệu lườn 293. Nó được mua lại và cải biến trước khi hoàn tất, vào ngày 7 tháng 1 năm 1942 nó được đổi tên thành Altamaha, nhưng bị hủy bỏ vào ngày 17 tháng 3 năm 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 4 năm 1942; được đỡ đầu bởi Bà Phillip Seymour, phu nhân Đại tá Hải quân Seymour. Nó được xếp lại lớp là ACV vào ngày 20 tháng 8 năm 1942. Được Hải quân Hoa Kỳ sở hữu vào ngày 31 tháng 10 năm 1942, nó đồng thời được chuyển cho Anh Quốc theo chương trình Cho thuê-cho mượn cùng ngày hôm đó. Nó được đổi tên thành HMS Battler và đưa ra hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 15 tháng 11 năm 1942 như một chiếc thuộc lớp tàu sân bay hộ tống Attacker.

Lịch sử hoạt động

Battler đã phục vụ cho Hải quân Hoàng gia Anh từ tháng 11 năm 1942 cho đến hết Chiến tranh Thế giới thứ hai, hoạt động chủ yếu trong vai trò hộ tống cho các đoàn tàu vận tảiBắc Đại Tây DươngẤn Độ Dương, trải qua hầu như khắp thế giới khi từng ghé qua Hoa Kỳ, Anh Quốc, Gibraltar, Malta, Salerno, Palermo, Suez, Aden, Cochin (Ấn Độ), Bombay, Sri Lanka, Mauritius, Madagascar, Seychelles, Maldives, Sydney và kênh đào Panama.

Vào tháng 9 năm 1943, Battler hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh tại Salerno. Vào tháng 3 năm 1944, trong thành phần của Lực lượng CS4, nó giúp ngăn chặn các hoạt động của tàu ngầm U-boat Đức tại Ấn Độ Dương, khi máy bay của nó đã dẫn đường cho các tàu khu trục tấn công tàu tiếp liệu Đức Brake và hai chiếc U-boat. Brake bị tiêu diệt bởi hải pháo của tàu khu trục Roebuck và một trong những chiếc U-boat bị hư hại bởi máu bay của Battler.[1]

Battler được hoàn trả cho Hải quân Mỹ vào ngày 12 tháng 2 năm 1946, và được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 28 tháng 3. Nó bị bán vào ngày 14 tháng 5 cho hãng Patapsco Steel Scrap Co. tại Bethlehem, Pennsylvania và bị tháo dỡ sau đó.

Danh sách các phi đội Không lực Hải quân Hoàng gia phối thuộc

Phi đội Thời gian Kiểu máy bay
Phi đội Không lực Hải quân Hoàng gia 840 tháng 12 năm 1942 Swordfish I/II
Phi đội Không lực Hải quân Hoàng gia 835 tháng 4 - tháng 7 năm 1943 Swordfish II
Phi đội Không lực Hải quân Hoàng gia 808 tháng 4 - tháng 9 năm 1943 Seafire L.IIc
Phi đội Không lực Hải quân Hoàng gia 807 tháng 8 - tháng 10 năm 1943 Seafire L.IIc
Phi đội Không lực Hải quân Hoàng gia 834 tháng 9 năm 1943- tháng 10 năm 1944 Seafire L.IIc/Wildcat V

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Liên kết ngoài

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Military navigation”.

Bản mẫu:Tàu Kiểu C3-S-A1 Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Portal bar”.