HMS Porpoise (N14)
![]() Tàu ngầm HMS Porpoise
| |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Porpoise (N14) |
| Đặt hàng | 11 tháng 6, 1931 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers-Armstrongs, Barrow |
| Đặt lườn | 22 tháng 9, 1931 |
| Hạ thủy | 30 tháng 8, 1932 |
| Nhập biên chế | 11 tháng 3, 1933 |
| Số phận | Bị máy bay Nhật đánh chìm trong eo biển Malacca, 11 tháng 1, 1945 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp Grampus |
| Kiểu tàu | tàu ngầm Diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 289 ft (88,1 m)[1] |
| Sườn ngang | 29 ft 10 in (9,1 m) |
| Mớn nước | 15 ft 10 in (4,83 m)[1] |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Độ sâu thử nghiệm | 300 foot (91 m) |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí |
|
HMS Porpoise (N14) là một tàu ngầm rải mìn, là chiếc nguyên mẫu của lớp Grampus, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo vào giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, con tàu đã hoạt động tại các khu vực Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Viễn Đông, thực hiện tổng cộng 23 chuyến tuần tra cùng bảy chuyến đi tiếp liệu cho Malta đang bị phong tỏa. Nó đã đánh chìm sáu tàu buôn tải trọng 28.485 GRT và bảy tàu chiến tải trọng 2.017 tấn, đồng thời gây tổn thất toàn bộ cho một tàu buôn 6.311 GRT và gây hư hại cho hai tàu chiến tải trọng 760 tấn. Vào giai đoạn cuối Thế Chiến II, Porpoise mất tích tại eo biển Malacca từ ngày 9 tháng 1, 1945, rất có thể đã bị máy bay ném bom Nhật Bản ném bom đánh chìm vào ngày 11 tháng 1, 1945. Porpoise là chiếc tàu ngầm Anh cuối cùng bị mất trong Thế Chiến II do hoạt động thù địch của đối phương.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Lớp Grampus được thiết kế cho nhiệm vụ rải thủy lôi, nhưng trong chiến tranh cũng đã rất hữu ích trong việc vận tải. Hình dạng bên ngoài của chúng gần tương tự với lớp tàu ngầm tuần dương Parthian, nhưng hẹp hơn và nặng hơn.[2] Porpoise khác biệt với những chiếc còn lại trong lớp Grampus khi bố trí các thùng nhiên liệu dạng yên ngựa bên ngoài lườn áp lực.[3] Nó có trọng lượng choán nước 1.768 tấn Anh (1.796 t) khi nổi và 2.035 tấn Anh (2.068 t) khi lặn, lườn tàu dài 293 ft (89 m), mạn tàu rộng 25 ft 6 in (7,77 m) và mớn nước sâu 16 ft 10 in (5,13 m).[1]
Các con tàu được trang bị hai động cơ diesel công suất 3.300 bhp (2.500 kW), cùng hai động cơ điện công suất 1.650 mã lực (1.230 kW), cho phép đạt tốc độ tối đa 15,5 kn (28,7 km/h) khi nổi và 8,75 kn (16,21 km/h) khi đi ngầm dưới nước.[1] Chúng có khả năng lặn sâu đến 300 ft (91 m), và thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ.[1]
Lớp Grampus được trang bị sáu ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) ở phía mũi tàu, và mang theo tổng cộng 12 ngư lôi. Trên boong tàu có một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng hai súng máy.[1] Có tổng cộng 50 quả thủy lôi được mang theo trên hai đường ray đặt bên ngoài lườn áp lực.[2]
Chế tạo
Porpoise được đặt hàng vào ngày 11 tháng 6, 1931, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers-Armstrongs ở Barrow-in-Furness vào ngày 22 tháng 9, 1931. Nó được hạ thủy vào ngày 30 tháng 8, 1932, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 11 tháng 3, 1933.[3][4] Con tàu được cộng đồng cư dân Workington, Cumberland nhận đỡ đầu trong Tuần lễ Tàu chiến vào năm 1942.[3] Nó là chiếc tàu chiến thứ mười của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này, theo tên họ Cá heo chuột.[3]
Lịch sử hoạt động
1938 - 1939
Vào năm 1938, Porpoise phục vụ cùng Hạm đội Nhà trong thành phần Chi hạm đội Tàu ngầm 5.[3] Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai có nguy cơ bùng nổ, nó được điều sang khu vực Địa Trung Hải, nên khởi hành từ Portsmouth vào ngày 28 tháng 8, 1939, và đi ngang qua Gibraltar để đến Malta, nơi nó gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 1.[4]
Porpoise rời Malta vào ngày 11 tháng 10 để quay trở lại vùng biển Nhà, về đến Portsmouth vào ngày 20 tháng 10. Con tàu được đại tu và tái trang bị tại Xưởng tàu Chatham cho đến tháng 2, 1940.[4]
1940
Chuyến tuần tra thứ nhất và thứ hai
Porpoise xuất phát từ Rosyth vào ngày 19 tháng 3 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh để hộ tống cho Đoàn tàu ON-21 đi sang Bergen, Na Uy, và Đoàn tàu HN-21 quay trở về Anh. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại Rosyth vào ngày 25 tháng 3.[4]
Chiếc tàu ngầm lại có chuyến tuần tra tiếp theo tương tự, khi rời Rosyth vào ngày 27 tháng 3 để hộ tống cho Đoàn tàu ON-23 đi sang Bergen, và Đoàn tàu HN-23 quay trở về Anh. Nó quay trở về Rosyth vào ngày 4 tháng 4.[4]
Chuyến tuần tra thứ ba
Porpoise khởi hành từ Rosyth vào ngày 13 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hoạt động tại khu vực Bắc Hải ngoài khơi Egersund, Na Uy thay phiên cho tàu ngầm HMS Clyde. Vào ngày 16 tháng 4, nó đã phóng một loạt sáu quả ngư lôi tấn công tàu ngầm U-3 ở vị trí khoảng 10 nmi (19 km) về phía Tây Nam Egersund nhưng không trúng đích.[3] Porpoise kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Rosyth vào ngày 29 tháng 4.[4]
Chuyến tuần tra thứ tư
Porpoise tiếp tục xuất phát từ Rosyth vào ngày 12 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ tư để hoạt động rải thủy lôi ngoài khơi bờ biển Na Uy. Vào ngày 15 tháng 5, nó đã rải tổng cộng 48 quả mìn ngoài khơi Kalvåg, Na Uy, và đã hai lần bị mắc cạn nhưng thoát ra được.[3] Bãi thủy lôi này đã khiến chiếc tàu buôn Thụy Điển Sonja 1.828 GRT bị đắm do trúng mìn vào ngày 10 tháng 6.Porpoise hoàn thành nhiệm vụ và quay trở về Rosyth vào ngày 17 tháng 5.[4]
Chuyến tuần tra thứ năm
Sau khi được bảo trì tại Xưởng tàu Rosyth từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 6, Porpoise đi đến Immingham để nhận thủy lôi, rồi khởi hành từ đây vào ngày 9 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ năm cho nhiệm vụ rải thủy lôi. Vào ngày 14 tháng 6, nó rải một bãi tổng cộng 50 quả mìn ngoài khơi Ramsoyfjord, Na Uy.[3] Tàu quét mìn Đức M 5 (682 tấn) đã trúng mìn của bãi thủy lôi này và đắm ở vị trí về phía Tây Bắc Kristiansand vào ngày 18 tháng 6. Porpoise đã hai lần bị thủy phi cơ đối phương tấn công vào các ngày 16 và 19 tháng 6, nên bị hư hại nhẹ. Nó quay trở về cảng Blyth vào ngày 25 tháng 6.[4]
Chuyến tuần tra thứ sáu
Porpoise xuất phát từ Blyth vào ngày 4 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ sáu để hoạt động ngoài khơi Utsira, Na Uy. Trên đường quay trở về nó bất ngờ bị một máy bay tấn công nhưng không bị hư hại, và về đến Blyth vào ngày 10 tháng 7.[4]
Chuyến tuần tra thứ bảy
Porpoise khởi hành từ Immingham vào ngày 25 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ bảy để tiếp tục hoạt động rải thủy lôi tại Bắc Hải. Vào ngày 29 tháng 7, nó rải một bãi tổng cộng 50 quả mìn ngoài khơi bờ biển Đan Mạch,[3] rồi tiếp tục tuần tra ngoài khơi phía cực Nam Na Uy. Nó quay trở về Rosyth vào ngày 5 tháng 8.[4]
Chuyến tuần tra thứ tám
Porpoise xuất phát từ Rothesay vào ngày 2 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ tám, và chuyển sang hoạt động tại khu vực vịnh Biscay. Vào ngày 13 tháng 9, nó rải một bãi tổng cộng 48 quả mìn ở vị trí về phía Tây Bắc La Rochelle. Chỉ ba ngày sau đó, nó phóng một loạt sáu quả ngư lôi tấn công một mục tiêu được cho là tàu ngầm đối phương; tTuy nhiên không có tàu ngầm phe Trục nào có mặttại khu vực vào lúc đó. Porpoise kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về cảng Falmouth vào ngày 20 tháng 9.[4]
Chuyến tuần tra thứ chín
Porpoise khởi hành từ Holy Loch vào ngày 6 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ chín. Nó đã tuần tra trong vịnh Biscay trước khi kết thúc chuyến tuần tra tại Holy Loch vào ngày 20 tháng 9.[4]
Chiếc tàu ngầm sau đó được bảo trì tại Ardrossan từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 11, rồi rời cảng Holy Loch vào ngày 30 tháng 11 để vượt Đại Tây Dương hướng sang Bắc Mỹ, đi đến Halifax, Nova Scotia, Canada vào ngày 17 tháng 12.[4]
1941
Chuyến tuần tra thứ mười và mười một
Porpoise xuất phát từ Halifax vào ngày 26 tháng 12 cho chuyến tuần tra thứ mười với nhiệm vụ hộ tống cho Đoàn tàu HX-99 hướng sang Anh. Sau khi đi đến một điểm giữa Bắc Đại Tây Dương, nó quay trở lại Canada, đi đến Halifax vào ngày 13 tháng 1, 1941.[4]
Chiếc tàu ngầm lại khởi hành từ Halifax vào ngày 26 tháng 1 cho chuyến tuần tra thứ mười một. Nó hộ tống cho Đoàn tàu HX-105 trong suốt chặng đường đi sang Anh, và đi đến cảng Holy Loch vào ngày 10 tháng 2.[4]
Porpoise sau đó lên đường vào ngày 3 tháng 3 để đi sang Canada. Trên đường đi vào ngày 7 tháng 3, ở phía Nam Iceland, nó bắt gặp và phóng hai quả ngư lôi tấn công một tàu U-boat nhưng không trúng đích; mục tiêu bị tấn công có thể là chiếc UA. Porpoise đi đến Halifax vào ngày 15 tháng 3.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười hai và mười ba
Porpoise xuất phát từ Halifax vào ngày 10 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ mười hai, và đã hộ tống cho Đoàn tàu SC-26 hướng sang Anh. Sau khi đi đến một điểm giữa Bắc Đại Tây Dương, nó quay trở lại Canada, đi đến Halifax vào ngày 3 tháng 4.[4]
Chiếc tàu ngầm lại khởi hành từ Halifax vào ngày 19 tháng 4 cho chuyến tuần tra tiếp theo, với nhiệm vụ hộ tống cho Đoàn tàu SC-26 trong suốt chặng đường đi sang Anh, và đi đến cảng Holy Loch vào ngày 8 tháng 5.[4]
Porpoise sau đó được đại tu và tái trang bị tại Troon, Scotland từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 9, rồi rời cảng Holy Loch vào ngày 2 tháng 10 cho một chuyến đi tiếp liệu sang khu vực Địa Trung Hải.[3] Sau một chặng dừng tại Gibraltar từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 10, nó đi đến Malta vào ngày 17 tháng 10 cùng 14 hành khách và hàng tiếp liệu. Chiếc tàu ngầm tiếp tục hành trình đi sang Alexandria, Ai Cập từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 10.[4]
Porpoise xuất phát từ Alexandria vào ngày 3 tháng 11 cho chuyến đi tiếp liệu đầu tiên sang Malta, đến nơi vào ngày 9 tháng 11. Sau khi chất dỡ hàng hóa, nó thực hiện chặng quay trở lại Alexandria từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 11.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười bốn
Porpoise khởi hành từ Alexandria vào ngày 28 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ mười bốn, và đã hoạt động trong biển Ionia về phía Tây Nam của eo biển Kythera và khu vực Navarino cho đến khi quay trở về Alexandria vào ngày 19 tháng 12. Tại đây vào ngày 9 tháng 12, nó phóng bốn quả ngư lôi tấn công, và đã đánh trúng chiếc Sebastiano Veniero 6.311 GRT ở vị trí 5 nmi (9,3 km) về phía Nam Navarino. Chiếc tàu biển chở hành khách Ý đang vận chuyển khoảng 2.000 tù binh chiến tranh Đồng Minh, và ít nhất 300 người trong số đó đã thiệt mạng. Sebastiano Veniero được cho mắc cạn ngoài khơi mũi Methoni, Hy Lạp để tránh bị đắm, và trở thành một tổn thất toàn bộ.[5][3][4]
1942
Chuyến tuần tra thứ mười lăm
Porpoise di chuyển từ Alexandria đến Haifa vào đầu tháng 1, 1942, rồi xuất phát từ đây vào ngày 6 tháng 1 cho chuyến tuần tra thứ mười lăm để hoạt động ở phía Bắc đảo Crete. Vào ngày 11 tháng 1, nó đã rải một bãi 46 quả thủy lôi tại vùng biển gần vịnh Suda, Crete; tàu tuần tra Đức 11 V1 đã trúng mìn tại đây và đắm ba ngày sau đó. Đến ngày 18 tháng 1, Porpoise phóng ngư lôi đánh chìm tàu buôn Ý Citta di Livorno 2.471 GRT ở vị trí 15 nmi (28 km) về phía Đông Bắc nũi Maleka, Crete. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về cảng Alexandria vào ngày 22 tháng 1.[3][4]
Các chuyến đi tiếp liệu sang Malta
Sau đó Porpoise được huy động vào nhiệm vụ tiếp liệu cho Malta đang bị phe Trục phong tỏa.[3] Nó xuất phát từ Alexandria vào ngày 7 tháng 2 cho chuyến thứ hai và đi đến Malta vào ngày 13 tháng 2; sau khi chất dỡ hàng hóa, nó thực hiện chặng quay trở về Alexandria từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 2. Chuyến đi tiếp liệu thứ ba được thực hiện từ ngày 3 đến ngày 19 tháng 3, với chặng dừng tại Malta từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 3. Chiếc tàu ngầm được sửa chữa tại Alexandria trước khi bắt đầu chuyến đi tiếp liệu thứ tư từ ngày 18 tháng 4 đến ngày 5 tháng 5, với chặng dừng tại Malta từ ngày 25 đến ngày 29 tháng 4. Porpoise xuất phát từ Alexandria vào ngày 23 tháng 5 cho chuyến đi tiếp liệu thứ năm, và đi đến Malta vào ngày 1 tháng 6.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười sáu
Porpoise xuất phát từ Malta vào ngày 7 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ mười sáu, với nhiệm vụ bảo vệ các đoàn tàu vận tải tiến vận đi sang Malta trong khuôn khổ Chiến dịch Vigorous.[3] Con tàu đã hai lần bị máy bay đối phương ném bom tấn công vào ngày 15 tháng 6 ở vị trí khoảng 140 nmi (260 km) về phía Tây Crete, nhưng không bị hư hại, và kết thúc chuyến tuần tra tại Alexandria vào ngày 25 tháng 6.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười bảy
Sau khi được bảo trì tại Port Said trong suốt tháng 7, Porpoise xuất phát từ Haifa vào ngày 5 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ mười bảy, và hoạt động tại vùng biển ngoài khơi Cyrenaica, Libya. Vào ngày 12 tháng 8, nó đã rải một bãi 46 quả thủy lôi ngoài khơi Ras el Tin, Libya; bãi mìn này đã đánh chìm chiếc tàu phóng lôi Ý Generale Antonio Cantore (697 tấn) vào ngày 22 tháng 8.[3] Cùng trong ngày 12 tháng 8, nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu vận tải Ý Ogaden 4.553 GRT ở vị trí cách Ras el Tin 9 nmi (17 km). Chỉ ba ngày sau đó, nó lại phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu buôn Ý Lerici 6.070 GRT ở vị trí 120 nmi (220 km) về phía Bắc Ras Amir. Đến ngày 19 tháng 8, chiếc tàu ngầm bị hư hại đáng kể do trúng mìn sâu thả từ tàu phóng lôi Ý Lince ở vị trí gần Tobruk. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Port Said vào ngày 21 tháng 8.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười tám
Sau khi được sửa chữa tại Port Said, Porpoise lên đường vào ngày 23 tháng 9 để đi sang Haifa, rồi xuất phát từ đây vào ngày 28 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ mười tám, đồng thời cũng là chuyến đi tiếp liệu thứ sáu sang Malta. Vào ngày 3 tháng 10, nó đã rải một bãi 46 quả thủy lôi ở vùng biển về phía Tây Tobruk, rồi ghé đến Malta từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 10 để chất dỡ hành tiếp liệu trước khi tiếp tục hoạt động trong biển Ionia cho đến ngày 20 tháng 10, khi nó quay trở về cảng Beirut.[4]
Con tàu khởi hành từ Beirut vào ngày 29 tháng 10 cho chuyến đi tiếp liệu thứ bảy sang Malta. Sau khi đến nơi vào ngày 6 tháng 11 và chất dỡ hàng tiếp liệu, nó được giữ lại căn cứ này dự phòng để hoạt động dọc bờ biển Tunisia khi cần thiết.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười chín
Porpoise xuất phát từ Malta vào ngày 5 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ mười chín, và hoạt động ở lối tiếp cận phía Tây của Tripoli, Libya. Vào ngày 19 tháng 11, nó phóng ngư lôi kết liễu chiếc tàu chở dầu Ý Giulio Giordani 10.534 GRT, vốn đã hư hại do trúng ngư lôi từ máy bay Anh, ở vị trí khoảng 45 nmi (83 km) về phía Đông Bắc Misrata, Libya.[3] Đến ngày 23 tháng 11, nó lại đánh chìm tàu tuần tra Ý F 39 / Fertilia 223 tấn bằng hải pháo ngoài khơi quần đảo Kerkennah, Tunisia. Porpoise quay trở về Malta vào ngày 24 tháng 11.[4]
Đến ngày 4 tháng 12, chiếc tàu ngầm rời Malta để đi Gibraltar, chặng đầu tiên của hành trình quay trở về Anh để được đại tu. Nó về đến Portsmouth vào ngày 23 tháng 12.[4]
1943 - 1944

Công việc sửa chữa, đại tu và tái trang bị cho Porpoise kéo dài trong suốt năm 1943.[3] Sau khi hoàn tất, nó thực hành huấn luyện tại các vùng biển Anh và Scotland trong tháng 2 và tháng 3, 1944,[4] rồi khởi hành từ Holy Loch vào ngày 17 tháng 4 để đi sang Gibraltar, do được điều sang phục vụ tại Viễn Đông. Sau hành trình lần lượt đi ngang qua Malta, kênh đào Suez và Aden, nó đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 12 tháng 6,[4] và gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 4 đặt căn cứ tại đây.[3]
Chuyến tuần tra thứ hai mươi
Porpoise xuất phát từ Trincomalee vào ngày 1 tháng 7, 1944 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi, và đã hoạt động rải thủy lôi tại khu vực eo biển Malacca. Vào ngày 6 tháng 7, nó đã đánh chìm một thuyền buồm Nhật Bản bằng hải pháo, rồi rải 30 quả mìn ở vùng cửa sông Deli, Sumatra. Hai ngày sau đó, nó tiếp tục rải thêm 26 quả mìn tại vùng cửa sông Deli, rồi quay trở về Trincomalee vào ngày 13 tháng 7.[3][4] Các bãi thủy lôi này đã đánh chìm các tàu săn ngầm Cha 8 và Cha 9 (100 tấn mỗi chiếc) vào ngày 9 tháng 9; tàu chở dầu Lục quân Takekun Maru 3.029 GRT vào ngày 9 tháng 9; và tàu rải mìn phụ trợ Ma 1 (215 tấn) vào ngày 27 tháng 3, 1945.[4]
Chuyến tuần tra thứ hai mươi mốt
Porpoise rời Trincomalee vào ngày 27 tháng 7 để di chuyển sang Australia, đi đến Fremantle vào ngày 10 tháng 8, và gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 4 đặt căn cứ tại đây.[3][4] Nó xuất phát từ Fremantle vào ngày 11 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi mốt, và đã hoạt động ngoài khơi Singapore cho một nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ Chiến dịch Rimau. Đến ngày 29 tháng 9, nó cho đổ bộ 23 biệt kích commando người Australia lên đảo Merapas ngoài khơi Singapore. Tuy nhiên chiến dịch này đã thất bại khi họ bị đối phương bắt giữ và xử tử sau đó.[3][4][6] Porpoise quay trở về Fremantle vào ngày 11 tháng 10.[4]
Chuyến tuần tra thứ hai mươi hai
Porpoise rời Fremantle vào ngày 30 tháng 10 để quay trở lại Trincomalee, đến nơi vào ngày 12 tháng 11, và gia nhập trở lại Chi hạm đội Tàu ngầm 4.[3][4] Nó xuất phát từ Trincomalee vào ngày 2 tháng 12 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi hai, với nhiệm vụ rải thủy lôi ngoài khơi Penang và tuần tra tại khu vực quần đảo Nicobar. Vào ngày 9 tháng 12, nó đã rải 46 quả mìn ngoài khơi Penang, và sang ngày hôm sau đã đánh chìm một thuyền buồm bằng chất nổ trong eo biển Malacca. Nó quay trở về căn cứ Trincomalee vào ngày 18 tháng 12.[4]
1945
Chuyến tuần tra thứ hai mươi ba – Bị mất tích
Porpoise xuất phát từ cảng Trincomalee vào ngày 3 tháng 1, 1945 cho chuyến tuần tra thứ hai mươi ba, với nhiệm vụ rải mìn trong eo biển Malacca. Con tàu báo cáo về căn cứ đã hoàn tất nhiệm vụ rải mìn ngoài khơi Penang vào ngày 9 tháng 1, nhưng cuộc liên lạc này đã bị thiết bị định vị vô tuyến Nhật Bản lắp đặt tại Penang phát hiện, nên xác định được tọa độ của tàu ngầm đối phương.[4][7] Bãi mìn này đã gây hư hại cho chiếc tàu quét mìn phụ trợ Kyo Maru số 1 340 GRT vào ngày 15 tháng 1, và tiếp tục gây hư hại cho tàu săn ngầm Ch 57 (420 tấn) vào ngày 18 tháng 5.[4]
Porpoise mất liên lạc kể từ ngày 9 tháng 1, và được cho là đã mất mà không rõ nguyên nhân.[8][3][4] Ghi chép từ phía Nhật Bản thu được sau chiến tranh cho biết tàu săn ngầm CH-8 trong một đợt tuần tra chống tàu ngầm về phía Đông Nam Penang, đã phát hiện được một mục tiêu qua sonar vào sáng sớm ngày 11 tháng 1, và thả 15 quả mìn sâu tấn công mà không rõ kết quả. Sau đó, một máy bay ném bom-ngư lôi Nakajima B6N2 phát hiện một tàu ngầm đang di chuyển trên mặt nước tại tọa độ 05°30′B 98°39′Đ / 5,5°B 98,65°Đ, nên đã thả hai quả bom 60 kg tấn công, với ít nhất một quả đã đánh trúng trực tiếp và đánh chìm được mục tiêu, để lại một vệt dầu loang lớn. Rất có khả năng mục tiêu bị đánh chìm chính là Porpoise.[4][7][9]
Tóm tắt chiến công
Porpoise đã đánh chìm sáu tàu buôn có tổng tải trọng 28.485 GRT và bảy tàu chiến có tổng tải trọng 2.017 tấn, đồng thời gây tổn thất toàn bộ cho một tàu buôn 6.311 GRT và gây hư hại cho hai tàu chiến tải trọng 760 tấn.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 10 tháng 6, 1941 | Sonja | 1828 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 18 tháng 6, 1941 | M 5 | 682 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 9 tháng 12, 1941 | Sebastiano Veniero | 6311 | Tổn thất toàn bộ | |
| 14 tháng 1, 1942 | 11 V1 | Bị đánh chìm (mìn) | ||
| 18 tháng 1, 1942 | Citta di Livorno | 2471 | Bị đánh chìm | |
| 12 tháng 8, 1942 | Ogaden | 4553 | Bị đánh chìm | |
| 15 tháng 8, 1942 | Lerici | 6070 | Bị đánh chìm | |
| 22 tháng 8, 1942 | Generale Antonio Cantore | 697 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 19 tháng 11, 1942 | Giulio Giordani | 10534 | Bị đánh chìm | |
| 23 tháng 11, 1942 | F 39 / Fertilia | 223 | Bị đánh chìm | |
| 9 tháng 9, 1944 | Cha 8 | 100 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 9 tháng 9, 1944 | Cha 9 | 100 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 10 tháng 9, 1944 | Takekun Maru | 3029 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 15 tháng 1, 1945 | Kyo Maru số 1 | 340 | Bị hư hại (mìn) | |
| 27 tháng 3, 1945 | Ma 1 | 215 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 18 tháng 5, 1945 | Ch 57 | 420 | Bị hư hại (mìn) |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ^ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q Helgason, Guðmundur. "Porpoise class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b Hillbeck, W. "1930-1946: Grampus Class". RN Subs – In Association with the Barrow Submariners Association (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 25 tháng 11 năm 2010). "HMS Porpoise – Grampus-class Minelaying Submarine". Naval History. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae af ag ah ai aj ak al am an ao ap aq Helgason, Guðmundur. "HMS Porpoise (N 14) – Submarine of the Porpoise Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- ^ Lettens, Jan; de Neumann, Bernard (ngày 2 tháng 6 năm 2013). "MV Sebastiano Veniero [+1941]". WreckSite. wrecksite.eu. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014.
- ^ Outhit, Jeff (ngày 14 tháng 8 năm 2015). "Vanished: Waterloo Woman's Brother Died in 1945 Pacific Battle". Waterloo Region Record. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2026.
- ^ a b Hackett, Bob; Kingsepp, Sander; Cundall, Peter (2005). "IJN Subchaser CH-8: Tabular Record of Movement". combinedfleet.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- ^ Sturma (2015), tr. 2.
- ^ "Page 18". Submarine losses 1904 to present day. Royal Navy Submarine Museum. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2015.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Caruana, Joseph (2012). "Emergency Victualling of Malta During WWII". Warship International. Quyển LXIX số 4. tr. 357–364. ISSN 0043-0374.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
- Sturma, Michael (2015). Fremantle's Submarines: How Allied Submariners and Western Australians Helped Win the War in the Pacific. Naval Institute Press. ISBN 9781612518619.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "Porpoise class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- Mason, Lt Cdr Geoffrey B. (ngày 25 tháng 11 năm 2010). "HMS Porpoise – Grampus-class Minelaying Submarine". Naval History. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Porpoise (N 14) – Submarine of the Porpoise Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- Roll of Honour
