Bước tới nội dung

HMS Shropshire (73)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
<th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Lịch sử <th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Lịch sử <th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Đặc điểm khái quát
Tập tin:HMS Shropshire (73).jpg
Tàu tuần dương hạng nặng HMS Shropshire
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS_utilities”.Anh Quốc
Tên gọi Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Đặt tên theo Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Xưởng đóng tàu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Đặt lườn Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Hạ thủy Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Nhập biên chế Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Xuất biên chế Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Số phận Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS_utilities”.Úc
Tên gọi Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Nhập biên chế Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Xuất biên chế Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Số phận Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Lớp tàu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Trọng tải choán nước Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Chiều dài Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Sườn ngang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Mớn nước Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Động cơ đẩy Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Tốc độ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Tầm xa Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Tầm hoạt động Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Thủy thủ đoàn tối đa Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Vũ khí Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Bọc giáp Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Máy bay mang theo Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Hệ thống phóng máy bay Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.

HMS Shropshire (73) là một tàu tuần dương hạng nặng thuộc lớp County của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, thuộc lớp phụ London. Hoàn tất vào năm 1929, Shropshire đã phục vụ cùng với Hải quân Hoàng gia cho đến năm 1942, khi nó được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Australia sau tổn thất của con tàu chị em HMAS Canberra. Được đưa vào hoạt động dưới tên gọi HMAS Shropshire, nó phục vụ cùng Australia cho đến năm 1949, và bị bán để tháo dỡ vào năm 1954.

Thiết kế và chế tạo

Shropshire được đặt lườn tại xưởng đóng tàu của hãng William Beardmore and Company Ltd.Dalmuir thuộc Scotland vào ngày 24 tháng 2 năm 1926. Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 7 năm 1928 bởi Nữ nam tước D'Arcy de Knayth và hoàn tất vào ngày 12 tháng 9 năm 1929. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Anh được đặt theo tên của thành phố Shropshire.

Lịch sử hoạt động

Phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Anh

Shropshire phục vụ cùng Hạm đội Địa Trung Hải Anh Quốc cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra vào tháng 9 năm 1939.

Thoạt tiên nó phục vụ tại khu vực Nam Đại Tây Dương bảo vệ các tuyến đường thương mại hàng hải. Ngày 9 tháng 12 năm 1939, nó chặn chiếc tàu buôn Đức Adolf Leonhardt, vốn bị chính thủy thủ đoàn đánh đắm. Sau đó Shropshire quay trở về Anh để được tái trang bị trước khi hướng đến Ấn Độ Dương, nơi nó làm nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Cape Town, Durban, MombassaAden. Nó cũng tham gia chiến dịch chống lại Somaliland thuộc Ý, bắn phá cả Mogadishu lẫn Kismayu trong cuộc tiến quân của Đạo quân Nam Phi từ Kenya đến Abyssinia, và đánh chìm chiếc tàu Ý Pensilvania ngoài khơi Mogadishu vào ngày 13 tháng 2. Nó tiếp tục ở lại Nam Đại Tây Dương, trải qua một đợt đại tu tại Simonstown từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1941, rồi quay trở về nhà vào tháng 10 năm 1941 cho một đợt tái trang bị rộng rãi tại Chatham từ tháng 10 năm 1941 đến tháng 2 năm 1942 trước khi quay trở lại Nam Đại Tây Dương.

Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Australia

Tập tin:HMS Shropshire torpedo.jpg
Thủy thủ đoàn đang quan sát một ngư lôi đang rời khỏi ống phóng giữa tàu trong một cuộc phóng ngư lôi thử nghiệm. Có thể thấy một trong các tháp pháo hạng hai 102 mm (4 inch) nòng đôi.

Sau khi chiếc tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoàng gia Australia HMAS Canberra, một chiếc khác cũng thuộc lớp County, bị mất trong Trận chiến đảo Savo vào ngày 9 tháng 8 năm 1942, Chính phủ Anh Quốc thông báo sẽ chuyển HMS Shropshire cho Australia như một quà tặng để thay thế.[2] Nó được gọi quay trở về từ Nam Đại Tây Dương, và được cho ngừng hoạt động tại Căn cứ Hải quân Hoàng gia Chatham vào tháng 12 năm 1942, để tái trang bị nhằm phục vụ cho Australia.

Cùng trong khoảng thời gian đó, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt mong muốn tưởng nhớ sự mất mát của HMAS Canberra bằng cách đặt tên này cho một tàu chiến Mỹ nhằm tôn vinh nó, nên một tàu tuần dương hạng nặng đang được chế tạo thuộc lớp Baltimore, chiếc Pittsburgh, đã được đổi tên thành USS Canberra (CA-70).[3]

Shropshire được đưa vào hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia Australia vào ngày 20 tháng 4 năm 1943 tại Xưởng hải quân Chatham dưới tên gọi HMAS Shropshire. Cho dù Vua George VI đã thông báo rằng Shropshire sẽ được đổi tên thành Canberra, việc trùng lặp tên với một tàu chiến của Hải quân Mỹ mâu thuẫn với chính sách của Hải quân Australia.[2] Cho dù người ta cho rằng phía Australia có thẩm quyền lớn hơn đối với cái tên này, Chính phủ Australia vẫn quyết định giữ lại cái tên cũ Shropshire, sau khi biết rằng đề nghị của Mỹ được đưa ra bởi chính Tổng thống Roosevelt.[4] Nhiều thủy thủ Australia được phân công trên chiếc HMAS Shropshire vào đầu năm 1943 là những người còn sống sót của chiếc Canberra.[5]

Phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Australia

Sau đó nó đã tham gia hoạt động trong trận chiến eo biển Surigao trong khuôn khổ Trận chiến vịnh Leyte và trong Trận chiến vịnh Lingayen. HMAS Shropshire đã hiện diện trong vịnh Tokyo vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, lúc diễn ra buổi lễ ký kết văn kiện Nhật Bản đầu hàng bên trên thiết giáp hạm USS Missouri.[6]

Sau chiến tranh

Shropshire tiếp tục phục vụ cho đến khi được đưa về lực lượng dự bị vào ngày 10 tháng 11 năm 1949. Nó được bán cho hãng Thomas W. Ward Limited tại Sheffield ở Anh thay mặt cho hãng BISCO vào ngày 16 tháng 7 năm 1954 để tháo dỡ. Shropshire được kéo khỏi Sydney bởi chiếc tàu kéo Hà Lan Oostzee trong tháng 10 năm 1954, và bắt đầu được tháo dỡ tại xưởng tàu Dalmuir của hãng Arnott Young từ ngày 20 tháng 1 năm 1955.

Xem thêm

Tư liệu liên quan tới HMS Shropshire (73) tại Wikimedia Commons

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ a ă Festberg, Alfred N. (1981). Heraldry in the Royal Australian Navy. Melbourne, VIC: Silverleaf Publishing. tr. 61. ISBN 9780949746009.
  2. ^ a ă Cassells, The Capital Ships, trang 128
  3. ^ Cassells, The Capital Ships, trang 45, 129
  4. ^ Cassells, The Capital Ships, trang 129
  5. ^ Bridges, Stuart. "HMAS Shropshire: 1928 – 1954". Naval Historical Society of Australia. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010.
  6. ^ "Allied Ships Present in Tokyo Bay During the Surrender Ceremony, 2 tháng 9 năm 1945". Naval Historical Center - U.S. Navy. ngày 27 tháng 5 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2007. Taken from Commander in Chief, U.S. Pacific Fleet and Pacific Ocean Areas (CINCPAC/CINCPOA) A16-3/FF12 Serial 0395, 11 tháng 10 năm 1946: Report of Surrender and Occupation of Japan

Thư mục

  • Cassells, Vic (2000). The Capital Ships: their battles and their badges. East Roseville, NSW: Simon & Schuster.
  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
  • British and Empire Warships of the Second World War, H T Lenton, Greenhill Books, ISBN 1-85367-277-7
  • Conway's All the World's Fighting Ships, 1922-1946, Ed. Robert Gardiner, Naval Institute Press, ISBN 0-87021-913-8
  • Cassells, Vic (2000). The Destroyers: their battles and their badges. East Roseville, NSW: Simon & Schuster. ISBN 0731808932. OCLC 46829686.

Liên kết ngoài

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Military navigation”. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Portal/images/q' not found.