HMS Surf (P239)
HMS Surf (P239) là một tàu ngầm lớp S (1931) thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1941 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, con tàu đã thực hiện được tám chuyến tuần tra tại các vùng biển Na Uy, vịnh Biscay, Địa Trung Hải và Viễn Đông, đánh chìm một tàu buôn tải trọng 2.719 GRT cùng một số tàu nhỏ. Surf sống sót qua Thế Chiến II, được đưa về thành phần dự bị, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào tháng 10, 1949.
| Tập tin:HMS Surf.jpg Tàu ngầm HMS Surf, tháng 3 năm 1943
| |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Surf (P239) |
| Đặt hàng | 25 tháng 1, 1941 |
| Xưởng đóng tàu | Cammell Laird, Birkenhead |
| Đặt lườn | 1 tháng 2, 1941 |
| Hạ thủy | 10 tháng 12, 1942 |
| Nhập biên chế | 18 tháng 3, 1943 |
| Số phận | Bán để tháo dỡ, 28 tháng 10, 1949 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp S nhóm III |
| Kiểu tàu | tàu ngầm Diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 217 ft (66,1 m) |
| Sườn ngang | 23 ft 9 in (7,2 m) |
| Mớn nước | 14 ft 8 in (4,47 m) |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa |
|
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m) |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 48 |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | |
| Vũ khí |
|
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Lớp tàu ngầm S Nhóm III được đặt hàng trong Chương trình Chế tạo 1940 như là một kiểu tàu ngầm nhỏ để tuần tra tại vùng biển bị giới hạn như Bắc Hải, Baltic và Địa Trung Hải. Chúng có kích thước lớn hơn và có nhiều cải tiến so với các nhóm trước. Chúng có trọng lượng choán nước 856 tấn (842 tấn Anh) khi nổi và 1.006 tấn (990 tấn Anh) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 217 ft (66 m), mạn tàu rộng 23 ft 9 in (7,24 m) và mớn nước sâu 14 ft 8 in (4,47 m).[1] Con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m), và có một thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 48 sĩ quan và thủy thủ.[2]
Lớp S trang bị hai động cơ diesel công suất 950 mã lực phanh (708 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 650 mã lực (485 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15 hải lý trên giờ (28 km/h; 17 mph) và 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) khi lặn dưới nước.[3] Tầm xa hoạt động của Nhóm III là 6.000 hải lý (11.000 km; 6.900 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph), và có thể lặn xa 120 nmi (220 km; 140 mi) ở tốc độ 3 hải lý trên giờ (5,6 km/h; 3,5 mph).[2]
Surf nằm trong số các tàu có bảy ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống phía mũi và một phía đuôi bên ngoài, và mang theo tổng cộng 13 quả ngư lôi, hoặc 12 quả thủy lôi thay cho các quả ngư lôi bên trong tàu. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo 3 inch (76 mm) cùng một pháo phòng không Oerlikon 20 mm.[4] Ngoài ra Nhóm III còn được trang bị sonar ASDIC Type 129AR hoặc 138 và một bộ radar cảnh báo sớm Type 291 hoặc 291W.[5]
Chế tạo
Surf được đặt hàng vào ngày 25 tháng 1, 1941 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1941, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Cammell Laird ở Birkenhead vào ngày 1 tháng 2, 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 10 tháng 12, 1942, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 18 tháng 3, 1943.[6] Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.
Lịch sử hoạt động
1943
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland, Surf xuất phát từ cảng Lerwick vào ngày 7 tháng 5, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động trong biển Na Uy về phía Tây và phía Bắc Iceland nhằm ngăn chặn các tàu chiến hạng nặng Đức có khả năng tiến ra Bắc Đại Tây Dương. Con tàu kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwich vào ngày 22 tháng 5.[6]
Chuyến tuần tra thứ hai
Surf xuất phát từ Holy Loch vào ngày 28 tháng 6 để đi sang Gibraltar, với chỉ thị sẽ gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 8 đặt căn cứ tại Algiers. Trên đường đi nó được lệnh hoạt động tại khu vực vịnh Biscay và dọc theo bờ biển Bồ Đào Nha, nên đây trở thành chuyến tuần tra thứ hai, và kết thúc khi nó đi đến Gibraltar vào ngày 11 tháng 7. Nó tiếp tục hành trình hai ngày sau đó và đi đến Algiers vào ngày 18 tháng 8.[6]
Surf rời Algiers vào ngày 25 tháng 9 do được điều động sang hoạt động tại Viễn Đông. Tuy nhiên sau khi đi ngang qua Port Said và băng qua kênh đào Suez, chiếc tàu được gọi quay trở lại vùng biển Địa Trung Hải, nên đi đến Beirut vào ngày 6 tháng 10 và gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 1 đặt căn cứ tại đây để hoạt động tại khu vực Đông Địa Trung Hải.[6]
Chuyến tuần tra thứ ba
Surf xuất phát từ Beirut vào ngày 11 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ ba để hoạt động tại khu vực biển Aegea. Vào ngày 14 tháng 10, nó tấn công các tàu tuần tra Đức K 2 và K 5 trong eo biển Kassos không thành công. Đến ngày 25 tháng 10, nó đụng độ với tàu tuần tra phụ trợ Đức GA 54 / Chiaros ở vị trí về phía Đông Bắc Amorgos, và đến ngày 29 tháng 10 đã hai lượt phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Đức Gertrud tại Kalimnos nhưng đều không trúng đích. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Beirut vào ngày 3 tháng 11.[6]
Chuyến tuần tra thứ tư
Surf lại khởi hành từ Beirut vào ngày 5 tháng 12 cho chuyến tuần tra thứ tư, và tiếp tục hoạt động tại vùng biển Aegea. Vào ngày 8 tháng 12, nó phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Đức Leda nhưng không trúng đích. Sang ngày hôm sau 9 tháng 12, nó thành công khi đánh chìm chiếc tàu buôn Đức Sonia 2.719 GRT bằng ngư lôi ở vị trí về phía Nam đảo Lemnos. Surf quay trở về Beirut vào ngày 23 tháng 12.[6]
1944
Surf rời Beirut vào ngày 7 tháng 1, 1944 do được điều động sang Viễn Đông, và được bảo trì tại Port Said từ ngày 8 đến ngày 16 tháng 1 trước khi bắt đầu hành trình ngang qua kênh đào Suez và Aden, đi đến Trincomalee, Ceylon (nay là Sri Lanka) vào ngày 10 tháng 2.[6]
Chuyến tuần tra thứ năm
Surf xuất phát từ Trincomalee vào ngày 23 tháng 2 cho chuyến tuần tra thứ năm, và đã hoạt động tại khu vực eo biển Malacca. Vào ngày 5 tháng 3, nó đã đánh chìm một tàu kéo và một sà lan Nhật Bản bằng hải pháo ngoài khơi bờ biển phía Đông đảo Sumatra. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Trincomalee vào ngày 12 tháng 3.[6]
Chuyến tuần tra thứ sáu
Surf khởi hành từ Trincomalee vào ngày 4 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ sáu, và đã hoạt động ở lối ra vào phía Bắc của eo biển Malacca. Nó không tìm thấy mục tiêu nào giá trị, và quay trở về Trincomalee vào ngày 20 tháng 4.[6]
Chuyến tuần tra thứ bảy
Surf rời Trincomalee vào ngày 6 tháng 5 cho chuyến tuần tra tiếp theo, và đã hoạt động tại khu vực biển Andaman về phía Tây Nam Thái Lan. Con tàu đã rải hai bãi thủy lôi ngoài khơi Ko Tarutao vào ngày 13 tháng 5, và kết thúc chuyến tuần tra tại Trincomalee vào ngày 19 tháng 5.[6]
Chuyến tuần tra thứ tám
Surf tiếp tục xuất phát từ Trincomalee vào ngày 9 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ tám, và vẫn hoạt động trong biển Anmadan về phía Tây Nam Thái Lan, đồng thời làm một nhiệm vụ đặc biệt. Vào ngày 11 tháng 6, nó trồi lên mặt nước để gửi một bức điện về căn cứ tại Ceylon nhằm đánh lừa đối phương trong khuôn khổ Chiến dịch Councillor. Ba ngày sau đó, chiếc tàu ngầm rải thủy lôi trong eo biển Malacca ở vị trí khoảng 30 nmi (56 km) phía Tây đảo Butang, rồi quay trở về Trincomalee vào ngày 18 tháng 6.[6]
Sau đó Surf đi đến Colombo, và trải qua một đợt nâng cấp để trang bị máy điều hòa từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 6.[6]
Surf rời Trincomalee vào ngày 12 tháng 9 cho hành trình quay trở về Anh để sửa chữa và đại tu. Sau chuyến đi dài đi ngang qua Colombo, Aden, kênh đào Suez, Port Said, Malta, Gibraltar và Portsmouth, nó về đến Falmouth vào ngày 3 tháng 7. Con tàu được sửa chữa, đại tu và tái trang bị tại Xưởng tàu Chatham từ ngày 8 tháng 12, 1944 đến ngày 24 tháng 4, 1945.[6]
1945
Sau khi hoàn tất việc đại tu, Surf hoạt động huấn luyện và thực hành tại các vùng biển Anh và Scotland cho đến khi xung đột kết thúc. Sau chiến tranh nó được đưa về thành phần dự bị, và cuối cùng bị bán để tháo dỡ tại Faslane vào 28 tháng 10, 1949.[6]
Tóm tắt chiến công
Surf đã đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 2.719 GRT.[6]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 9 tháng 12, 1943 | Sonia | Đức Quốc Xã | 2.719 | Bị đánh chìm |
Tham khảo
Ghi chú
- ^ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- ^ Akermann (2002), tr. 341.
- ^ a b McCartney (2006), tr. 7.
- ^ Bagnasco (1977), tr. 110.
- ^ Chesneau (1980), tr. 51-52.
- ^ Akermann (2002), tr. 341, 345.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o Helgason, Guðmundur. "HMS Surf (P 239) – Submarine of the S Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "HMS Surf (P 239) – Submarine of the S Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.