Hiếu Ý Vương hậu
Hiếu Ý Vương hậu (chữ Hán: 孝懿王后, Hangul: 효의왕후, 5 tháng 1 năm 1754 - 10 tháng 4 năm 1821), là Vương hậu duy nhất của Triều Tiên Chính Tổ trong lịch sử Triều Tiên.
| Hiếu Ý Vương hậu 효의왕후 | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Triều Tiên Chính Tổ Vương hậu | |||||
| Thế tử tần Triều Tiên (Vương thế tôn tần) | |||||
| Tại vị | 1762 - 1776 | ||||
| Tiền nhiệm | Huệ tần Hồng thị | ||||
| Kế nhiệm | Tần cung Triệu thị | ||||
| Vương hậu nhà Triều Tiên | |||||
| Tại vị | 1776 – 1800 | ||||
| Tiền nhiệm | Trinh Thuần Vương hậu | ||||
| Kế nhiệm | Thuần Nguyên Vương hậu | ||||
| Vương đại phi nhà Triều Tiên | |||||
| Tại vị | 1800 - 1821 | ||||
| Tiền nhiệm | Duệ Thuận Vương đại phi | ||||
| Kế nhiệm | Minh Kính Vương đại phi | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 13 tháng 12 năm 1753 Gia Hội phường tư đệ, Thanh Phong | ||||
| Mất | 9 tháng 3, 1821 (67 tuổi) Chương Đức cung | ||||
| An táng | Kiện lăng (健陵), Thủy Nguyên | ||||
| Phối ngẫu | Triều Tiên Chính Tổ | ||||
| Hậu duệ | Không có Con nuôi: Triều Tiên Thuần Tổ Văn Hiếu Thế tử | ||||
| |||||
| Hoàng tộc | Thanh Phong Kim thị (khi sinh) Triều Tiên Lý thị (kết hôn) | ||||
| Thân phụ | Kim Thì Mặc | ||||
| Thân mẫu | Nam Dương Hồng thị | ||||
Bà không sinh cho Chính Tổ người con nào, nhưng đã nhận nuôi dưỡng con của các hậu cung tần ngự như con đẻ. Con trai của Tuy tần Phác thị là Lý Công được bà nuôi dưỡng hết mực, về sau trở thành vị quốc vương kế nhiệm, chính là Triều Tiên Thuần Tổ.
Tiểu sử
Hiếu Ý Vương hậu được sinh ra vào ngày 5 tháng 1 tại phường Gia Hội (嘉會坊), năm 1754. Bà xuất thân từ Thanh Phong Kim thị (清風金氏), bà và cao tổ mẫu của Chính Tổ Đại vương, Minh Thánh Vương hậu đều xuất thân từ gia tộc này. Cha bà là Thanh Nguyên Phủ viện quân Kim Thời Mặc (清原府院君金時默金时默), mẹ là Đường Thành Phủ phu nhân họ Hồng ở Nam Dương (唐城府夫人南陽洪氏).
Năm 1762, năm thứ 36 triều đại của Triều Tiên Anh Tổ, Kim thị thành hôn với Vương tôn Lý Toán, tức Triều Tiên Chính Tổ. Sau khi chồng được làm Vương Thế tôn, bà được gọi Vương Thế tôn tần. Khi Nhâm Ngọ Họa biến xảy ra, cha chồng bà là Thế tử Lý Tuyên bị vua Anh Tổ phế truất, vua Chính Tổ chồng bà và mẹ là Huệ tần Hồng thị đều bị giáng làm thứ nhân. Sau khi Thế tử chết thảm trong thùng gạo, vua Anh Tổ lại khôi phục thân phận Thế tử cho con trai, ban thụy Tư Điệu, do đó mẹ con Chính Tổ được vua khôi phục thân phận vương thất. Khi khôi phục thân phận, Thế tôn được xác định danh hiệu Đông cung (東宮), chính thức trở thành trữ quân của vua Anh Tổ.
Bà Huệ tần lúc này vì để bảo vệ con trai không trở thành một Yên Sơn quân thứ hai mà cố gắng không làm con mình nhung nhớ về cha ruột và cái chết của ông. Đầu tiên, Huệ tần gửi Thế tôn cho bà nội ruột là Ánh tần Lý thị, sau khi Ánh tần mất, lại gửi cho cô ruột là Hòa Hoãn Ông chúa, còn đặt biệt dặn dò con trai phải “Phụng sự cô như đối với mẹ ruột”, một phần bà mong rằng sự sủng ái của vua Anh Tổ đối với bà chúa sẽ giúp bảo vệ Thế tôn. Tuy nhiên, Huệ tần không dự liệu được rằng, Hòa Hoãn Ông chúa cũng là người có tham vọng, từ khi nhận thức được quyền lực thì luôn để tâm đến triều chính, đối với sự ỷ lại của người cháu làm vua trong tương lai, bà chúa liền có tâm tư thay thế vai trò người mẹ của Huệ tần, liền tiến hành ly gián khiến Thế tôn lạnh nhạt với gia đình họ Hồng, đồng thời cũng bức Thế tôn chán ghét Thế tôn tần. Bản thân Huệ Khánh cung cũng nhận định việc Chính Tổ lạnh nhạt vợ mình, ngoài bản tính trời sinh lạnh lùng, thì cũng do bà chúa Hòa Hoãn tác động đến. Gả cho vua Chính Tổ khi còn chưa dậy thì, Hiếu Ý Vương hậu cứ như vậy cô đơn lẻ bóng đến tận khi qua đời cũng bởi vì bà đã sớm bị chính người chồng trẻ ghẻ lạnh.
Năm 1776, Thế tôn, tức Chính Tổ Đại vương kế vị, Thế tôn tần Kim thị trở thành Vương phi, danh xưng khi còn sống của các Vương hậu Nhà Triều Tiên.
Trung điện Kim thị nhiều năm không con, tuy sau đó có em gái Hồng Quốc Vinh nhập cung làm Nguyên tần, nhưng vừa vào cung được 1 năm thì lại qua đời, Chính Tổ khi ấy đã 30 tuổi mà gặp tình trạng không con có con trai thừa tự, là mối nguy của xã tắc. Hồng Quốc Vinh là người tham vọng, vừa ỷ bản thân là cánh tay đắc lực, trọng thần phò tá vua từ trước, lại tưởng chừng nắm chắc vai trò quốc cữu khi em gái vào cung, nhưng khi Nguyên tần qua đời, Quốc Vinh tức giận và cho rằng Trung điện hãm hại em gái mình nên vận động phe cánh sỉ nhục, thậm chí lên kế hoạch hạ bệ Trung điện. Không dừng lại ở đó, Quốc Vinh còn tính toán đem tông thất tử là Thường Khê quân Lý Trạm làm con thừa tự cho Nguyên tần, vừa bảo toàn địa vị ngoại thích cho mình mà còn muốn cản Chính Tổ nạp hậu cung. Có sự trợ giúp của ngài Vương đại phi Kim thị (tức Trinh Thuần Vương hậu), vua Chính Tổ hạ bệ Hồng Quốc Vinh và Quốc Vinh liền bị biếm truất với tội danh mưu hại Trung điện.
Bà là người vô cùng nhân hậu và rộng lượng, rất được mọi người trong vương cung nể trọng, được gọi là "Hiền phi" (賢妃). Vương phi không sinh được người con nào cho Chính Tổ, nhưng bà nhận nuôi con trai của hai hậu cung của chồng, Nghi tần Thành thị và Tuy tần Phác thị làm con mình, án theo việc Trinh Thánh Vương hậu Từ thị nhận nuôi Hiếu Chương Thế tử (con của Anh Tổ và Tĩnh tần Lý thị, cha trên tông pháp của Chính Tổ) và Tư Điệu Thế tử làm con khi trước. Con trai của Nghi tần là Văn Hiếu Thế tử chết trẻ, còn con trai của Tuy tần là Lý Công (李玜) còn sống. Do thương mến Vương phi không con, Chính Tổ đưa Lý Công thành con chính thức của Vương phi, và gọi là "Nguyên tử" (元子).
Năm 1800, Chính Tổ Đại vương thăng hà, Nguyên tử trở thành người kế vị, tức Triều Tiên Thuần Tổ. Theo thể chế, nhà vua tôn tằng tổ mẫu Duệ Thuận Vương đại phi làm Đại vương đại phi (大王大妃), đích mẫu Vương phi làm Vương đại phi (王大妃), còn sinh mẫu là Tuy tần Phác thị được tôn cung hiệu là Gia Thuận Cung (嘉順宮), gia thêm tôn xưng Để hạ chỉ dành cho Trữ quân; để tỏ rõ đích thứ khác biệt trong quy chế xưa.
Năm 1821, ngày 10 tháng 4, 21 năm sau khi chồng bà qua đời, Vương đại phi Kim thị quy tiên Từ Khánh điện (慈慶殿), Xương Khánh cung, hưởng thọ 69 tuổi. Thụy hiệu của bà đầy đủ là Duệ Kính Từ Túy Hiếu Ý Vương hậu (睿敬慈粹孝懿王后; 예경자수효의왕후). An táng ở Kiện lăng (健陵) ở Thủy Nguyên, cùng với Chính Tổ Đại vương.
Thời Đại Hàn Đế quốc, bà được Triều Tiên Cao Tông tôn tặng thụy hiệu là Trang Huy Duệ Kính Từ Túy Hiếu Ý Tuyên Hoàng hậu (莊徽睿敬慈粹孝懿宣皇后).
Trong văn hoá đại chúng
Được diễn bởi Park Eun-hye trong phim truyền hình Lee San, Triều đại Chosun (MBC 2007).
Gia tộc
- Tằng tổ phụ: Kim Thánh Tập (金聖集), tặng Lãnh nghị chính, thụy Hiếu Tĩnh công (孝靖公).
- Tằng tổ mẫu: Hoàn Sơn Lý thị (完山李氏), con gái Lâm Nguyên quân Lý Tiêu (李杓).
- Tổ phụ: Kim Thánh Ứng (金聖應; 1699 - 1764), Binh tộ Phán thư, tặng Tả tán thành, thụy Hiếu Tĩnh công.
- Tổ mẫu: Nam Dương Hồng thị (南陽洪氏), con gái của Hồng Vũ Ninh (洪禹寧; 1660 - 1717).
- Thân phụ: Kim Thì Mặc (金時默; 1722 - 1772), Tả Tham tán, tặng Lãnh nghị chính, tước Thanh Nguyên phủ viện quân (淸原府院君), thụy Tĩnh Dực công (靖翼公).
- Tiền ngoại tổ: Nam Trực Khoan (南直寬; 1692 - 1761), Thông Đức lang.
- Tiền ngoại mẫu: Hàm Dương Lữ thị (咸陽呂氏), con gái của Hộ tào Tham phán, Đôn Ninh phủ tri sự Lữ Tất Dung (呂必容).
- Tiền đích mẫu: Nghi Ninh Nam thị (宜寧南氏; 1721 - 1746), tặng Nghi Xuân Phủ phu nhân (宜春府夫人).
- Anh cả: Công tào Tham nghị Kim Cơ Đại (金基大; 1738 - 1777).
- Tiền đích mẫu: Nghi Ninh Nam thị (宜寧南氏; 1721 - 1746), tặng Nghi Xuân Phủ phu nhân (宜春府夫人).
- Thân ngoại tổ: Hồng Thượng Ngạn (洪尙彦; 1701 - 1763), Thành Xuyên trấn Quản binh mã Tiết chế đô úy.
- Thân ngoại mẫu: Nghĩa Thành Kim thị (義城金氏), con gái Kim Tái Trọng (金載重).
- Thân mẫu: Nam Dương Hồng thị (南陽洪氏; ? - 1791), tước Đường Thành Phủ phu nhân (唐城府夫人).
- Anh trai: Kim Cơ Trủng (金基種).
- Thân mẫu: Nam Dương Hồng thị (南陽洪氏; ? - 1791), tước Đường Thành Phủ phu nhân (唐城府夫人).
Tham khảo
- ^ Cao Tông truy phong