Hoằng Giao (chữ Hán: 弘晈, 17 tháng 6 năm 1713 - 9 tháng 9 năm 1764), tự Kính Trai (鏡齋), hiệu Đông Vườn (東園), tự hiệu Thu Phim Chủ nhân (秋明主人), Kính Trai Chủ nhân (鏡齋主人), tên phòng thất là Xuân Huy Đường (春暉堂) là một quận vương nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Hoằng Giao
弘晈
Thông tin chung
Sinh17 tháng 6 năm 1713
Mất9 tháng 9 năm 1764
Thân phụDi Hiền Thân vương Dận Tường
Thân mẫuĐích Phúc tấn Triệu Giai thị

Cuộc đời

Ông sinh vào ngày 25 tháng 5 (âm lịch) năm Khang Hy thứ 52 (1713), là con trai thứ tư của Di Hiền Thân vương Dận Tường, người anh em thân thiết nhất của Ung Chính Đế[1]. Sinh mẫu của ông là Đích Phúc tấn Triệu Giai thị (兆佳氏), con gái của Lại bộ Thượng thư kiêm Cung Cần công Mã Nhĩ Hán (馬爾漢). Năm xưa, Ung Chính Đế vì gia ân khen thưởng công lao vĩ đại của Dận Tường, đã đặc cách gia phong thêm tước vị Quận vương cho một người con trai của ông, cho phép ông tự ý chỉ định ban phong trong số các con, Dận Tường từ tạ không dám nhận. Đến tháng 8 năm Ung Chính thứ 8 (1730), sau khi cha mất, Hoằng Giao chính thức được triều đình sắc phong làm Ninh Quận vương (寧郡王).

Sinh tiền, sở thích đặc biệt của ông là nuôi trồng hoa cúc, trong vườn có đến hàng trăm danh chủng quý hiếm, lại thích ngâm thơ xướng họa với giới văn nhân. Theo Khiếu đình tạp lục, ông tự tay chế tác ra một loại quạt xếp tinh xảo gọi là "Quạt Đông Vườn" (東園扇), được giới sĩ đại phu đương thời tranh nhau tìm mua. Ông là tác giả của cuốn sách Cúc Phổ (còn có tên là Đông Vườn Cúc Phổ) gồm 1 quyển kèm phần Cúc Biểu, được thi sĩ Lý Khải hiệu đính, hiện tại vẫn còn được lưu giữ trong Thư viện Quốc gia Trung Quốc. Cuốn sách của ông nhận được nhiều bài đề từ, tựa bạt của các vương công danh tiếng thời bấy giờ như Thận Quận vương Dận Hỷ, Quả Cung Quận vương Hoằng Chiêm, em trai ruột Di Hy Thân vương Hoằng Hiểu, Tiến sĩ Ngạc Dung An và Tông thất thi sĩ Sắc Nhĩ Hách. Danh sĩ Thẩm Đức Tiềm cũng có bài thơ Ninh Quận vương chiêu tập Đông Vườn khán cúc chép trong cuốn Quy Ngu Thi Sao.

Theo Ích trai thi cảo, phủ Ninh Quận vương tọa lạc tại ngõ Bắc Cực Các Tam Điều, Đông Đơn, Bắc Kinh ngày nay, bên trong có gia miếu của vương phủ gồm hai ngôi chùa "Duyên Khánh" và "Hằng Cát Thiền Lâm". Về sau, Huyền tôn của ông là Di Đoan Thân vương Tái Đôn chuyển đến ở, nơi đây đổi gọi là phủ Di Vương. Ông còn thừa kế từ cha mình một khu vườn tư nhân do Hình bộ Thượng thư Sào Khả Thác xây dựng để làm biệt nghiệp của mình.

Ngày 14 tháng 8 năm Càn Long thứ 29 (1764), ông qua đời, hưởng thọ 52 tuổi (tuổi mụ), thụy hiệu là Lương (良). Tước vị giao lại cho thứ tử là Vĩnh Phúc thừa kế đời thứ hai, nhưng theo quy chế phải đệ giáng (giảm một bậc) xuống hàng Bối lặc để thừa kế.[2]

Gia quyến

Thê thiếp

  • Đích Phúc tấn: Tây Lâm Giác La thị (西林覺羅氏), xuất thân Mãn Châu Tương Lam kỳ, con gái Trung thư Ngạc Lâm Tại (鄂林泰), cháu gái của Ngạc Nhĩ Thái. Bà còn có một đường tỷ được gả làm Đích Phúc tấn của Vinh Thuần Thân vương Vĩnh Kỳ.
  • Kế Phúc tấn: Ô Lạp Na Lạp thị (烏拉那拉氏), con gái Văn Hoa điện Đại học sĩ Tra Lang A (查郎阿).
  • Trắc Phúc tấn: hai người, đều nhập phủ cùng năm với Tây Lâm Giác La thị.
  • Thứ Phúc tấn: Đinh thị (定氏), vốn là thứ thiếp.

Hậu duệ

Con trai

  1. Vĩnh Hỷ (永喜), mẹ là Kế Phúc tấn Ô Lạp Na Lạp thị. Được phong Bối lặc, qua đời từ sớm. Không con.
  2. Vĩnh Phúc (永福, 1753 - 1782), mẹ là Thứ Phúc tấn Đinh thị. Được phong Bối lặc, có hậu duệ là Tái Đôn được thừa kế tước vị Di Thân vương. Chính thê là Phú Sát thị (富察氏), con gái Binh bộ Thượng thư kiêm Tương Vọng hầu Minh Lượng (明亮), chất nữ trong tộc của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu.

Con gái

  1. Trưởng nữ, mẹ là Kế Phúc tấn Ô Lạp Na Lạp thị. Được phong Huyện chúa, hạ giá Tương Cần bá Ngạc Nhạc (鄂嶽) thuộc Tây Lâm Giác La thị, cháu nội Ngạc Nhĩ Thái.

Chú thích

  1. ^ 《清史稿·列传七·诸王六》 :康熙三十七年,从上谒陵。自是有巡幸,辄从。
  2. ^ 《愛新覺羅宗譜》