Bước tới nội dung

Honey and Clover

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang Bản mẫu:Nhiều vấn đề/styles.css không có nội dung.

Honey and Clover
(Hachimitsu to Clover)
Tập tin:Honey & Clover Box Set 2 cover.jpg
Bìa bộ hộp DVD thứ hai của của Honey & Clover
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
(Hachimitsu to Kurōbā)
Thể loạiHài hước, drama, lãng mạn
Manga
Tác giảUmino Chica
Nhà xuất bảnShueisha
Nhà xuất bản tiếng ViệtNhà xuất bản Kim Đồng
Nhà xuất bản khác
  • Pháp Kana
  • Đức Tokyopop Germany
  • Bồ Đào Nha Planet Manga
  • Đài Loan Sharp Point Press
  • Thái Lan Bongkoch Comics
  • Canada Hoa Kỳ Viz Media
  • Đối tượngJosei
    Tạp chíCUTiEcomic, Young YOU, Chorus
    Đăng tảiNgày 24 tháng 4 năm 2000Ngày 28 tháng 7 năm 2006
    Số tập10
    Anime truyền hình
    Đạo diễnKasai Ken'ichi
    Kịch bảnKuroda Yōsuke
    Hãng phimJ.C.Staff
    Cấp phép
  • Đài Loan Mighty Media
  • Hoa Kỳ VIZ Media
  • Cấp phép và phân phối khác
  • Tây Ban Nha Jonu Media
  • ÚcNew Zealand Madman Entertainment
  • Kênh gốcFuji TV, Animax
    Kênh khác
  • Ấn ĐộBangladeshBruneiMyanmarCampuchiaIndonesiaLàoMalaysiaPhilippinesSingaporeThái LanViệt NamNepalPakistanSri LankaMaldivesBản mẫu:Country data Hong KongĐài LoanAnimax Asia
  • Hoa Kỳ FUNimation Channel
  • Phát sóng Ngày 14 tháng 4 năm 2005 Ngày 26 tháng 9 năm 2005
    Số tập26
    Anime truyền hình
    Honey and Clover II
    Đạo diễnNagai Tatsuyuki
    Kịch bảnKuroda Yōsuke
    Hãng phimJ.C.Staff
    Cấp phép
  • Đài Loan Mighty Media
  • Hoa Kỳ VIZ Media
  • Cấp phép và phân phối khác
  • Tây Ban Nha Jonu Media
  • ÚcNew Zealand Madman Entertainment
  • Kênh gốcFuji TV, Animax
    Kênh khác
  • Ấn ĐộBangladeshBruneiMyanmarCampuchiaIndonesiaLàoMalaysiaPhilippinesSingaporeThái LanViệt NamNepalPakistanSri LankaMaldivesBản mẫu:Country data Hong KongĐài LoanAnimax Asia
  • Phát sóng Ngày 29 tháng 6 năm 2006 Nhày 14 tháng 9 năm 2006
    Số tập12
    Phim live-action
    Đạo diễnTakada Masahiro
    Kịch bản
  • Takada Masahiro
  • Kawahara Masahiko
  • Hãng phimAsmik Ace Entertainment
    Công chiếuNgày 22 tháng 7 năm 2006
    Thời lượng / tập116 phút
    Phim truyền hình
    Đạo diễn
  • Tanamura Masaki
  • Matsuyama Hiroaki
  • Kịch bảnKaneko Shigeki
    Hãng phimFuji TV Drama Seisaku Centre
    Kênh gốcFuji TV
    Phát hành Ngày 8 tháng 1 năm 2008 Ngày 18 tháng 3 năm 2008
    Số tập11
    Phim truyền hình
    蜂蜜幸運草
    Đạo diễnLi Yun Chan
    Kênh gốcĐài Loan CTS
    Phát hành Ngày 25 tháng 5 năm 2008 Ngày 31 tháng 8 năm 2008
    Số tập14
    icon Cổng thông tin Anime và manga

    Hachimitsu to Clover (ハチミツとクローバー Hachimitsu to Kurōbā?, Bản mẫu:Lit), gọi tắt là HachiKuro (ハチクロ) hay H&C là một loạt manga được viết và vẽ bởi Umino Chika. Loạt manga này được phát hành bởi Shueisha, nó được đăng định kỳ từ ngày 24 tháng 4 năm 2000 đến ngày 28 tháng 7 năm 2006 trên các tạp chí CUTiEcomic, Young YOU và Chorus, sau đó nó được tập hợp lại thành 10 tập tankōbon. Cốt truyện tập trung mêu tả cuộc sống và các mối quan hệ đời thường của một nhóm sinh viên cùng học trong một trường nghệ thuật và cùng sống chung với nhau trong một khu nhà tập thể từ khi còn đi học cho đến khi bắt đầu lập nghiệp trong cuộc sống. Loạt manga này đã đoạt giải Kodansha Manga Award lần thứ 27 cho manga dành cho shōjo. Nhà xuất bản Kim Đồng đã đăng ký bản quyền tại Việt Nam nhưng lại xuất bản theo tên của bản tiếng AnhHoney and Clover thay vì tên tiếng Việt.

    Loạt manga sau đó đã chuyển thể thành hai bộ anime bởi J.C.Staff và đã phát sóng trên kênh Fuji TV từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2005 và từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2006. Sau đó nó còn được chuyển thể thành phim người đóng và ra mắt tại các rạp ở Nhật Bản từ ngày 22 tháng 7 năm 2006 và hai loạt phim dài tập phát sóng năm 2008, một loạt phim được thực hiện ở Nhật Bản và chiếu trên kênh Fuji TV từ ngày 8 tháng 1 đến ngày 18 tháng 3 năm 2008, loạt còn lại được thực hiện ở Đài Loan và phát sóng trên kênh CTS từ ngày 25 tháng 5 năm 2008.

    Tổng quan

    Sơ lược cốt truyện

    Takemoto Yūta, Mayama Takumi và Morita Shinobu là ba chàng trai trẻ sống cùng trong một khu chung cư và là sinh viên tại một trường đại học nghệ thuật ở Tokyo. Một ngày nọ, họ được giới thiệu với Hanamoto Hagumi "Hagu". Cô là con gái của một người anh họ của giáo sư mỹ thuật Hanamoto Shūji; cô chuyển đến sống cùng giáo sư và trở thành sinh viên năm nhất tại chính ngôi trường mà mọi người đang theo học. Cả Yuta và Shinobu đều đem lòng yêu Hagu. Tuy nhiên, Yuta chọn cách che giấu cảm xúc và cố gắng làm bạn với cô, trong khi Shinobu lại thể hiện tình cảm bằng những hành động dường như chỉ khiến Hagu hoảng sợ, chẳng hạn như gọi cô là "Chuột nhắt" và liên tục chụp ảnh cô. Về phần Hagu, dù ban đầu rụt rè và ngại tiếp xúc với mọi người, cô đã dần cởi mở và trở nên thân thiết hơn với ba người họ.

    Nhóm bạn sau đó có sự gia nhập của Yamada Ayumi, một cô gái có tài nghệ làm gốm xuất sắc, nổi tiếng với biệt danh "Tetsujin" (Người đàn bà thép), người sau này đã trở thành bạn rất thân của Hagu. Khi không ở trường, cô thường phụ giúp gia đình quản lý cửa hàng kinh doanh rượu. Dù được nhiều chàng trai theo đuổi, Ayumi lại đem lòng yêu Takumi. Dẫu vậy, Takumi không đáp lại tình cảm đó mà chỉ xem cô là một người bạn vô cùng trân quý. Thay vào đó, Takumi lại theo đuổi một người phụ nữ lớn tuổi hơn tên là Harada Rika; cô là một người bạn góa chồng của Giáo sư Hanamoto và hiện đang điều hành xưởng kiến trúc do cô cùng người chồng quá cố thành lập. Câu chuyện theo chân năm nhân vật chính này đi qua những mối tình tay ba, tình yêu đơn phương, cho đến lúc tốt nghiệp đại học, quá trình tìm kiếm việc làm và hành trình thấu hiểu bản thân của mỗi người.

    Nhân vật

    Nhân vật chính

    Hanamoto Hagumi (花本はぐみ, はなもと はぐみ),biệt danh Hagu(はぐ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Bản live-action:Aoi Yu/Narumi Rika(phim truyền hình)
    Cô 18 tuổi và đang học khoa hội họa,cô quê ở Azamino,tỉnh Nagano,cô sở hữu tài năng bẩm sinh thu hút sự chú ý.
    Takemoto Yūta (竹本祐太, たけもと ゆうた)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime,Nojima Kenji(thay thế cho tập cuối mùa hai),Honda Takako(thời bé)
    Bản live action:Sakurai Shou(nhóm Arashi)/Ikuta Toma.(phim truyền hình)
    Cậu ấy 19 tuổi và học khoa kiến trúc,cậu xuất thân từ Annaka,tỉnh Gunma,mất cha từ bé,cậu sống cùng mẹ,nhưng mất phương hướng khi mẹ cậu tái hôn,cậu ta rất giỏi trong việc làm việc nhà.
    Yamada Ayumi (山田あゆみ, やまだ あゆみ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Bản live-action:Seki Megumi/Harada Natsuki(phim truyền hình)
    Là 1 sinh viên khoa gốm sứ,cô ta 21 tuổi,biệt danh của cô là Ayu(あゆ), là bạn cùng lớp của Takumi,và Ayumi đem lòng yêu đến Takumi,gia đình cô ấy kinh doanh 1 izakaya ở phố mua sắm Hamadayama,cô có bố,mẹ cùng anh trai.
    Mayama Takumi (真山巧, まやま たくみ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Bản live-action:Kase Ryo/Mukai Osamu(phim truyền hình)
    Là sinh viên khoa kiến trúc,cậu ta 22 tuổi,đến từ Kanazawa,tỉnh Ishikawa,cậu ta hay cư xử hơi giống 1 kẻ bám đuôi Rika và đôi khi bị nhiều người tưởng là 1 kẻ biến thái.
    Morita Shinobu (森田忍, もりた しのぶ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime,Kugimiya Rie(thời bé)
    Bản live-action:Iseya Yuusuke/Narimiya Hiroki(phim truyền hình)
    Cậu ấy tốt nghiệp khoa điêu khắc,cậu ấy 24 tuổi,về sau chuyển sang khoa hội họa Nhật Bản năm thứ 3.
    Hanamoto Shūji (花本修司, はなもと しゅうじ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Bản live-action:Sakai Masato/Murakami Jun(phim truyền hình)
    Cậu ta chỉ hơn 30,là 1 giáo viên lịch sử nghệ thuật,cậu rất quan tâm đến các học trò của cậu.
    Harada Rika (原田理花, はらだ りか)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Bản live action:Nishida Naomi/Seto Asaka(phim truyền hình)
    Chủ sở hữu của 1 công ty thiết kế,cô ta cao 164cm,tên thời con gái của cô là Egami(tức Egami Rika),quê ở Otaru,Hokkaido,cô rất thích chó và từng nuôi 1 con khi còn bé, 4 năm trước,cô bị tai nạn xe hơi dẫn đến chồng cô qua đời.

    Người thân của nhân vật chính

    Morita Kaoru (森田馨, もりた かおる)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime,Minagawa Junko(còn bé)
    Là anh trai của Shinobu,cậu ta dường như có 1 mục đích bí ẩn là kiếm được 1 khoản tiền khủng 1 cách phi lý,cậu là fan của nữ ca sĩ Yūki Nae[1],những người cấp dưới hay gọi cậu là "Kaoru-sama"
    Takemoto Yūichi (竹本祐一, たけもと ゆういち)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Người cha quá cố của Yuta,ông cao và có thân hình mảnh khảnh,sở thích của ông là tàu hỏa.
    Aida Mitsuko (合田美津子, あいだ みつこ)
    Lồng tiếng:Shinohara Emi
    Mẹ của Takemoto,bà là 1 y tá tại 1 bệnh viện đa khoa tại tỉnh Gunma.
    Aida Kazuo (合田稼頭男, あいだ かずお)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Ông là cha dượng của Takemoto,ông là 1 người dễ mến và nói nhiều,nhưng Takemoto khó làm quen với ông vì Kazuo quá khác so với cha cậu.
    Harada (原田, はらだ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Người chồng quá cố của Rika.
    Morita Tsukasa (森田司, もりた つかさ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Bố của hai anh em nhà Morita,chủ tịch của 1 công ty có tiếng,là 1 kỹ sư xuất sắc,và rất nhiều người ngưỡng mộ ông đến mức xin cho làm việc tại công ty của ông,món ông thích là cà ri.Ông chưa có tung tích nhưng có khi là ông qua đời vì 1 lý do gì đó.

    Trường nghệ thuật Hamadayama

    Hasegawa Kazuhiko (長谷川一彦, はせがわ かずひこ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Bạn cùng lớp của Mayama,từng sống trong 1 khu chung cư nát bét,cậu đến từ Yaizu,tỉnh Shizuoka,cậu ấy có thể bằng hoặc hơn 1 tuổi của Morita.
    Lohmeyer-senpai (ローマイヤ先輩, ローマイヤせんぱい)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Live-action:Kimura Yuichi
    1 sinh viên năm cuối sống cùng chung cư với 3 nhân vật chính,Lohmeyer thực tế là 1 cửa hàng giăm bông,đặc điểm là cậu cao 195cm.
    Tange-sensei (丹下(たんげ)教授)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Tokudaiji-sensei (徳大寺(とくだいじ)先生)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Kōda-sensei (幸田(こうだ)先生)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime

    Phòng thiết kế Fujiwara

    Nomiya Takumi (野宮匠, のみや たくみ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Yamazaki Kazushi (山崎一志, やまざき かずし)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Teshigawara Miwako (勅使河原美和子, てしがわら みわこ)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Leader (リーダー)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    1 chú chó lai được nuôi tại văn phòng thiết kế.
    Fujiwara Mario & Ruiji (藤原毬男&類二, ふじわら まりお&るいじ)
    Lồng tiếng:Horibe Keisuke và Miyazaki Tomu
    Cả 2 là 2 anh em sinh đôi,quê Tottori và là 1 cặp LGBT(cụ thể là đồng tính nam)
    Takaido (高井戸, たかいど)

    Khác

    Saionji Midori (西園寺ミドリ, さいおんじ ミドリ)
    Asai-san (浅井さん, あさいさん)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Peter Lucas (ピーター・ルーカス)
    Shin-san (しんさん)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Rokutarou (六太郎, ろくたろう)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Negishi Tatsuo (根岸達夫, ねぎし たつお)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Matsumoto Ippei(松本一平)
    Lồng tiếng:Kawashima Tokuyoshi

    Truyền thông

    Manga

    Hachimitsu to Clover là loạt manga loạt manga được viết và vẽ bởi Umino Chika, Shueisha đã xuất bản nó. 14 chương đầu tiên đã được đăng trên tạp chí truyện tranh dành cho joseiCUTiEcomic từ tháng 4 năm 2000 đến tháng 7 năm 2001, sau đó đã chuyển sang đăng trên Young YOU. Sau khi Young YOU ngưng phát hành năm 2005, loạt manga đã chuyển sang đăng trên Chorus nơi mà nó hoàn tất loạt manga vào năm 2006. Tổng cộng 64 chương sau đó đã được in thành 10 tập tankōbon đóng trong một bộ phát hành vào tháng 5 năm 2007.

    Nhà xuất bản Kim Đồng đã đăng ký bản quyền xuất bản tác phẩm tại Việt Nam với tên bản quyền hiện tại là Honey and Clover. Viz Media đã đăng ký bản quyền của loạt manga này tại thị trường Bắc Mỹ và đã bắt đầu đăng trên tạp chí Shojo Beat từ tháng 8 năm 2007. Nó cũng đã được Kana đang ký bản quyền tại Pháp, Tokyopop Germany đăng ký bản quyền tại Đức, Planet Manga tại Bồ Đào Nha, Bongkoch Comics đăng ký bản quyền tại Thái Lan và Sharp Point Press tại Đài Loan.

    Anime

    Hai bộ anime với tổng cộng 38 tập đã được thực hiện bởi J.C.Staff và phát sóng trên kênh Fuji TV trong loạt chương trình Noitamina. Bộ anime đầu tiên được đạo diễn bởi Kasai Ken'ichi với 24 tập đã phát sóng từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 29 tháng 9 năm 2005, hai tập thêm sau đó đã được phát hành chung với việc phát hành DVD chứ chưa bao giờ được phát sóng trước đó. Bộ anime thứ hai được đạo diễn bởi Nagai Tatsuyuki gồm 12 tập đã phát sóng từ ngày 29 tháng 6 đến ngày 14 tháng 9 năm 2006.

    Cả hai bộ anime đều được tái phát sóng tại Nhật Bản trên kênh truyền hình vệ tinh Animax. Sau đó nó đã được chiếu tại các nước như Hồng Kông, Thái Lan, Hàn Quốc cùng nhiều nước khác. Phiên bản tiếng Anh của các bộ anime này đã được chiếu lần đầu tiên trên kênh Animax ở khu vực Đông Nam Á từ ngày 01 tháng 8 năm 2006.

    Funimation Entertainment đã nhận được bản quyền phát sóng phiên bản lồng tiếng của Viz Media và đã bắt đầu chiếu trên kênh Funimation Channel từ ngày 19 tháng 9 năm 2009.

    Phim người đóng

    Tác phẩm cũng đã được chuyển thể thành phim do người đóng bởi Asmik Ace Entertainment. Nó đã được đạo diễn bởi Takada Masahiro từ kịch bản được soạn bởi Kawahara Masahiko và Takada Masahiro. Phim đã được công chiếu trong các rạp chiếu phim của Nhật Bản từ ngày 22 tháng 7 năm 2006 và đĩa DVD bắt đầu được phát hành từ ngày 12 tháng 1 năm 2007.

    Phim dài tập

    Phim truyền hình Nhật Bản

    Một bộ phim dài tập Nhật Bản đã được thực hiện và bắt đầu được chiếu vào ngày 08 tháng 1 năm 2008 đến ngày 18 tháng 3 năm 2008 với 11 tập. Nhạc của bộ phim này được thực hiện bởi Kaida Shōgo, Miyako Keiichi (SOPHIA) và Kōno Shin. Trong khi đó bài hát chủ đề của bộ phim là Canvas đã được thực hiện bởi ca sĩ R&B Nhật Bản là Hirai Ken. Bộ hộp DVD đã được phát hành vào ngày 11 tháng 7 năm 2008.

    Phim truyền hình Đài Loan

    Chuyển thể phim dài tập có tên Phong Mật Hạnh Vận Thảo? (蜂蜜幸運草) đã được thực hiện tại Đài Loan bởi hãng Huang Zhi Ming và đạo diễn bởi Li Yun Chan. Nó được phát sóng từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 31 tháng 8 năm 2008.

    Âm nhạc

    Bộ anime thứ nhất có 5 bài hát chủ đề, 2 mở đầu và ba kết thúc. Bài hát mở đầu thứ nhất có tên Dramatic (ドラマチック) do YUKI trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 29 tháng 6 năm 2005. Bài hát mở đầu thứ hai có tên Fugainaiya (ふがいないや) cũng do YUKI trình bày. Bài hát kết thúc thứ nhất có tên Waltz (ワルツ) do SuneoHair trình bày dùng trong tập 1 đến 12 và 24, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 25 tháng 5 năm 2005. Bài hát kết thúc thứ hai là bài Mistake do THE BAND HAS NO NAME trình bày dùng từ tập 13 đến 23, bài hát đã phát hành chung với album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime vào ngày 07 tháng 9 năm 2005. Bài hát kết thúc thứ ba là bài Split (スプリット) do Suneohair trình bày dùng trong tập 25 và 26. Một album khác chứa các bản nhạc của bộ anime đã phát hành vào ngày 12 tháng 7 năm 2006. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

    Bộ anime thứ hai có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. hai bài hát này cũng là bài hát chủ đề của bộ anime thứ nhất đó là bài hát mở đầu Fugainaiya (ふがいないや) và bài hát kết thúc Split (スプリット), hai đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 09 tháng 8 và ngày 23 tháng 8 năm 2006. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime này đã phát hành vào ngày 17 tháng 1 năm 2007 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, bản giới hạn có đính kèm DVD chứa các đoạn phim trình bày nhạc phẩm của các bản nhạc chủ đề của loạt anime. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

    Đón nhận

    Năm 2003 loạt manga Hachimitsu to Clover đã dành giải Kodansha Manga Award dành cho shōjo lần thứ 27. Trong danh sách Deb Aoki của About.com, cũng như là manga josei mới hay nhất năm 2008.

    Các bộ anime nhận được rất nhiều sự hưởng ứng với hàng loạt các nhà tài trợ lớn đã tham gia đóng góp thực hiện các bộ anime như hãng quần áo WE, hãng Adidas, Head Porter, Visvim và Sally Scott cũng như Weider in Jelly đã tham gia đóng góp thực hiện bộ anime thứ hai.

    Liên kết ngoài

    1. đổi Bản mẫu:Anime News Network

    Bản mẫu:Redirect category shell

    1. đổi Bản mẫu:Anime News Network

    Bản mẫu:Redirect category shell

    1. đổi Bản mẫu:Anime News Network

    Bản mẫu:Redirect category shell

    1. ^ sinh ngày 12/5/1970,tên thật là là Tazawa Nae(田澤奈恵)