Bước tới nội dung

Húc Liệt Ngột

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Hulagu)

Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Húc Liệt Ngột
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Húc Liệt Ngột trong một bản thảo Jami' al-tawarikh thế kỷ thứ 14 của Rashid al-Din
Y Nhi hãn
Ilkhan
Tại vị1256 – 8 tháng 2 năm 1265
Tiền nhiệmĐầu tiên
Kế nhiệmA Bát Cáp
Thông tin chung
Sinh14 tháng 2 năm 1217
Mất8 tháng 2 năm 1265 (48 tuổi)
Phối ngẫuTrang Bản mẫu:Plainlist/styles.css không có nội dung.
Hậu duệTrang Bản mẫu:Plainlist/styles.css không có nội dung.
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Chữ Mông Cổ: Trang Bản mẫu:MongolUnicode/fonts.css không có nội dung.ᠬᠦᠯᠡᠭᠦ Hülegü
Húc Liệt Ngột (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.)
Hoàng tộcTrang Bản mẫu:Tree list/styles.css không có nội dung.
Thân phụĐà Lôi
Thân mẫuToa Lỗ Hòa Thiếp Ni
Tôn giáoPhật giáo
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
SinhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Separated entries”.
Mất tíchLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Separated entries”.
MấtLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Separated entries”.
Tham chiếnTrang Bản mẫu:Tree list/styles.css không có nội dung.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Húc Liệt Ngột (Bản mẫu:Langx; Bản mẫu:Circa – 8 tháng 2 năm 1265) là một Hãn vương của Mông Cổ. Ông là em ruột của Mông KhaHốt Tất Liệt, con trai của Đà Lôi, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn. Húc Liệt Ngột được Mông Kha giao nhiệm vụ chinh phạt vùng Ba TưTây Á. Năm 1258, Húc Liệt Ngột đánh chiếm thành Bagdad và thảm sát dân xứ này, sau đó hành hình Khalip al-Musta'sim của nhà Abbasid. Năm 1260, tướng của Húc Liệt Ngột phái quân sang chống Ai Cập nhưng bị thất bại trước quân nhà Mamluk của Ai Cập tại Ain Jalut.[1] Về sau Húc Liệt Ngột trở về làm Hãn của Hãn quốc Y Nhi Ba Tư.

Thân thế và gia quyến

Húc Liệt Ngột chào đời khoảng năm 1217, là con trai thứ ba của hoàng tử Mông Cổ Đà Lôi và bà vợ chính thất Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông có hai người anh trai ruột là Mông Kha (Bản mẫu:Sinh năm) và Hốt Tất Liệt (Bản mẫu:Sinh năm), cùng một người em trai út là A Lý Bất Ca. Không tồn tại ghi chép chi tiết nào về thời ấu thơ hoặc niên thiếu của Húc Liệt Ngột, ngoại trừ một giai thoại được kể lại trong cuốn Jami' al-tawarikh của sử gia Ba Tư Rashid al-Din: cậu bé Húc Liệt Ngột khi mới 8 tuổi và anh trai Hốt Tất Liệt 10 tuổi mừng rỡ khoe khoang thành tích săn bắn với ông nội Thành Cát Tư Hãn sau khi vị này trở về từ cuộc thảo phạt Khwazarm.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Một khi đủ tuổi, Húc Liệt Ngột cưới Quý Do của thị Oirat làm chính thất.[a] Ông có với bà một người con trai tên Jumghur và một người con gái tên Buluqan Aqa. Sau cái chết yểu mệnh của Quý Do,[b] Húc Liệt Ngột lấy Qutui của thị Hoằng Cát Lạt và em gái chung nửa dòng máu với vợ cũ là Öljei làm vợ.Bản mẫu:Sfnm

Sự nghiệp

Đại nghị Kurultai năm 1251

Cùng với những người anh em ruột, Húc Liệt Ngột tham dự kurultai năm 1251 bên sông Kherlen và ủng hộ việc anh trai cả Mông Kha nối ngôi khả hãn Quý Do sau khi vị này đột ngột băng hà vài năm trước đó.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Bình định Trung Đông (1253–1260)

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Trong những năm 1252–53, Khả hãn Mông Kha khởi động một loạt các chiến dịch quân sự – chính sách vốn bị đình hoãn dưới thời Quý Do – nhằm củng cố những vùng lãnh thổ chưa hoàn toàn sáp nhập vào Đại Mông Cổ, đồng thời khẳng định uy quyền ngai vị của bản thân sau một loạt lục đục hậu cung với các chi họ Sát Hợp ĐàiOa Khoát Đài.Bản mẫu:Sfnm Húc Liệt Ngột, với tư cách là em trai ruột của Khả hãn, được phong tước ilkhan (Bản mẫu:Lit) và cử đi bình định Trung Đông. Sứ mệnh của ông là triệt hạ các thành trì Nizāriyya của hội Assassin trên dãy núi AlborzQuhistan. Ngoài ra, ông cũng được lệnh thu phục khalip al-Musta'sim của nhà Abbas tại Baghdad, cũng như các dân tộc LurKurdShahrazūr.

Bởi Mông Kha đã biên chế phần lớn thân binh của chi họ mình tại quê nhà cho cuộc xâm lược Nam Tống quy mô hơn, Húc Liệt Ngột chỉ được phép dùng không quá 1/5 lính bản bộ và phải tận dụng quân sĩ nằm ngoài quyền cai quản của chi họ – tức từ gia hộ của anh em bên chi họ Oa Khoát Đài, Sát Hợp Đài và Truật Xích. Một số sử gia như Thomas T. Allsen không để ý đến điều này mà cho rằng: ngoài những nhiệm vụ đã nêu bên trên, mục đích của Húc Liệt Ngột còn là kiến tạo cơ sở cát cứ của chi họ Đà Lôi tại Iran, nhằm lấn lướt lợi ích của các chi họ Thành Cát Tư khác trong tương lai gần. Song, như sử gia Micheal Hope đã chỉ ra, quá nửa lực lượng của Húc Liệt Ngột có lòng trung thành mập mờ với ông nói riêng và chi họ Đà Lôi nói chung, và bản thân ông cũng đã được lệnh trở về Mông Cổ một khi chiến dịch kết thúc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Ngoài binh lính Mông Cổ, Húc Liệt Ngột tuyển mộ đinh tráng người Khiết Đan, Mãn Châu, Đột Quyết vào đoàn viễn chinh. Bên cạnh đó, một "vạn hộ" công binh người Hán có tài nghệ chế tạo máy lăng đá, máy bắn tên, hỏa khí, cũng được trọng dụng để chuẩn bị đánh công kiên ở Trung Đông.Bản mẫu:Sfnm Nhằm đảm bảo có đủ đồng cỏ cho gia súc gặm, các tamma (Bản mẫu:Lit) Mông Cổ ở biên giới phía tây được lệnh di dời: noyan Baiǰu đóng tại Azerbaijan, tuy bất mãn, vẫn phải chấp hành dời quân sang Tiểu Á để nhường chỗ cho quân kỵ của Húc Liệt Ngột. Tướng Ket-Buqa được lệnh cầm 12.000 tiền quân tiến vào Iran trước.Bản mẫu:Sfnm

Chiến dịch Alamut – Baghdad

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Tháng 2 năm 1253, Húc Liệt Ngột trở về ordu của mình để sửa soạn cho cuộc viễn chinh Iran. Mùa thu năm 1254,[c] ông xuất chinh từ Karakorum.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Không rõ lộ trình chi tiết của đạo quân này song một số chặng dừng tiêu biểu vẫn được sử sách ghi lại. Hè năm 1255, Húc Liệt Ngột cho quân kị nghỉ ở Almalyk thuộc ulus Sát Hợp Đài; nhiếp chính Mông Cổ sở tại là Khả Đôn Orqina tiếp đón và khao quân Mông Cổ rất hậu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đoàn người rời đi vào một thời điểm không rõ, đặt chân đến Samarkand vào tháng 10, nghỉ lấy sức 40 ngày rồi tới Kish (nay là Shahrisabz).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ngày 1 tháng 1 năm 1256, quân Mông Cổ vượt sông Amu Darya, tránh trú bão tuyết tại Shiburghan.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Theo Rashid al-Din, khi hay tin đại quân Mông Cổ kéo đến ngạn Ba Tư của Amu Darya để trừng phạt hội Assassin, các lãnh chúa của Rūm, Fars, Iraq, Azerbaijan, Arran, ShirvanGruzia đã lập tức cử sứ giả đến minh xác lòng trung thành với Đại Mông Cổ và tiếp tế binh lực.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Tháng 5 năm 1256, Húc Liệt Ngột đoạt thành Tun tại Quhistan sau một trận vây hãm chớp nhoáng.[d] Quân Mông Cổ đi tiếp tới Tus, thu thập lương thảo và đánh chén yến tiệc, đến Bistam vào ngày 2 tháng 9, rồi Maymun Diz – trị sở đầu não của hội Assassin – vào ngày 7 tháng 11. Ba tümen Mông Cổ của ulus Truật Xích được cử sang tăng viện cho Húc Liệt Ngột.

Chiến dịch Syria – Levant

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Tranh chấp với chi họ Truật Xích (1261–1263)

Phụ chú

Bản mẫu:Notelist

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lịch sử thế giới, tài liệu nước ngoài do Bùi Đức Tịnh biên dịch, trang 152.

Thư mục

Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.

  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật


Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng