Jung Yun-ho

(Đổi hướng từ Jung Yunho)

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Bản mẫu:Infobox Chinese/HeaderBản mẫu:Infobox Chinese/KoreanBản mẫu:Infobox Chinese/Footer

Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Chinese/HeaderBản mẫu:Infobox Chinese/KoreanBản mẫu:Infobox Chinese/Footer

Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories

Jung Yun-ho (Hán-Việt: Trịnh Duẫn Hạo; sinh ngày 6 tháng 2 năm 1986) thường được biết đến với nghệ danh U-Know Yunho hay ngắn gọn hơn là U-Know hoặc là Yunho, là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ, diễn viên, người mẫu, rappervũ công người Hàn Quốc. Anh ra mắt với tư cách là trưởng nhóm của nhóm nhạc TVXQ vào năm 2003 do SM Entertainment thành lập và quản lý.

Đầu đời và giáo dục

Jung Yun-ho sinh ra và lớn lên tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc. Mặc dù từng có ước mơ trở thành một công tố viên,[1] nhưng đến khi học trung học, Yunho đã cùng với một vài người bạn trong lớp thành lập ra nhóm nhảy A+ và họ đã bắt đầu đi biểu diễn tại một vài cuộc thi nhảy trên cả nước. Kể từ đó, anh ấy bắt đầu nuôi ước mơ trở thành một ca sĩ, nhạc sĩ và vũ công.

Yunho có một tuổi thơ khá êm đềm cho đến năm anh 11 tuổi thì gia đình gặp khó khăn về tài chính trong cuộc Khủng hoảng tài chính châu Á 1997; và lúc ấy, vì hoàn cảnh nên gia đình Yunho đã phản đối ước mơ trở thành ca sĩ của anh. Yunho sau đó đã cố gắng thuyết phục họ ủng hộ ước mơ của mình. Trong thời gian làm thực tập sinh tại SM Entertainment, Yunho thường phải ngủ qua đêm ở trong những trạm ga xe lửa, dùng những giấy báo cũ để làm chăn giữ ấm và nệm. Anh đã phải đi làm thêm giờ để kiếm tiền phụ giúp gia đình, cũng như phải làm rất nhiều công việc vất vả khác khi lên Seoul để vừa đi học vừa đi làm.

Yunho gặp tình trạng mất cân bằng hormone ở cổ họng và phải phẫu thuật, điều này đã làm ảnh hưởng đến dây thanh quản của anh. Sau khi mất giọng, anh từng cân nhắc việc gác lại giấc mơ ca hát.[2]

Nghệ danh U-Know Yunho của Yunho có thể được hiểu là "You knows Yunho" (bạn đã biết Yunho). Đây là biệt danh được anh sử dụng từ thời trung học, phản ánh vị trí lãnh đạo của Yunho, người luôn nỗ lực thấu hiểu người khác.[3]

Ban đầu, Yunho được tuyển thẳng vào trường Đại học Kyunghee nhờ vào thành tích học tập xuất sắc từ thời học cấp 3 cũng như theo nguyện vọng của gia đình, nhưng anh đã chọn theo học tại trường Đại học Myongji và tốt nghiệp vào năm 2011.[4] Sau đó Yunho tiếp tục nhận được tấm bằng thạc sĩ từ trường Đại học Chungwoon.

Sự nghiệp

Âm nhạc

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Năm 2001, Yunho gia nhập SM Entertainment sau khi đoạt giải nhất trong một cuộc thi nhảy cấp thành phố được tổ chức tại chính quê hương của anh. Trước khi ra mắt cùng với nhóm TVXQ vào năm 2003, Yunho được xếp vào cùng một nhóm hát có tên là Four Seasons cùng với Jaejoong, HeechulKangin.[5] Anh cũng từng xuất hiện trong MV "Diamond" của nữ ca sĩ Dana trong vai trò vũ công và rapper.[3]

 
Yunho biểu diễn vào năm 2012

Ngoài vai trò ca sĩ, Yunho còn có khả năng sáng tác ca khúc và viết rap. Yunho hát đơn tiếng Nhật bài "Crazy Life" trong đĩa đơn "Close to you / Crazy Life", thuộc series TRICK của nhóm; sáng tác và viết lời "Checkmate"; viết lời, soạn nhạc và trình bày "Spokesman" cùng Donghae (Super Junior) trong tour diễn châu Á lần 2 - "O". Anh còn viết lời rap cho "Love After love" (nằm trong album Rising Sun của nhóm) cùng YoochunJunsu; viết lời rap cho "Wrong Number" và "Love Bye love" (nằm trong album Mirotic). Trong album Spellbound, Yunho cũng đã solo bài "November with love", bài hát mà anh đã cùng hợp tác sáng tác với nhóm Real Guys. Mới đây, anh đã cùng với Changmin sáng tác và trình bày ca khúc tiếng Nhật là Lime & Lemon.

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2019, Yunho phát hành EP solo đầu tay tại Hàn Quốc có nhan đề True Colors với đĩa đơn chủ đạo "Follow".[6]

Ngày 18 tháng 1 năm 2021, anh trở lại với album Noir cùng đĩa đơn chủ đạo "Thank U".[7] Vào ngày 9 tháng 2 năm 2022, Yunho phát hành EP tiếng Nhật thứ hai có tựa đề You Go Ahead.[8] Ngày 7 tháng 8 năm 2023, anh phát hành EP tiếng Hàn thứ ba mang tên Reality Show, với ca khúc chủ đề "Vuja De".[9]

Vào ngày 16 tháng 9 năm 2023, Yunho tham gia sự kiện âm nhạc 2023 Incheon Airport Sky Festival K-pop.

Diễn xuất

Năm 2005-2006, anh cùng các thành viên của TVXQ tham gia diễn xuất trong một số tập của Banjun TheaterVacation. Năm 2009, anh đóng vai chính trong bộ phim Heading to the Ground.[10]

Năm 2013, anh hoá thân thành Baek Do-hoon, người thừa kế của tập đoàn kinh tế hàng đầu Hàn Quốc trong bộ phim Dã vương.[11] Vai diễn này mang về cho anh giải do khán giả bình chọn tại Giải thưởng Truyền hình Quốc tế Seoul.[12]

Năm 2014, Yunho đảm nhận vai Kang Moo-seok trong phim Vương triều bí ẩn.[13][14] Anh nhận được lời khen ngợi về diễn xuất khi thể hiện tốt các cảnh hành động và khắc họa trọn vẹn cảm xúc tinh tế của nhân vật.[15]

 
Yunho vào năm 2018

Năm 2015, Yunho tham gia diễn xuất trong I Order You, đây là bộ phim cuối cùng mà anh tham gia trước khi anh lên đường nhập ngũ.[16]

Năm 2017, sau khi xuất ngũ, Yunho quay trở lại sự nghiệp diễn xuất với vai chính Yoo Eun-ho trong bộ phim hài lãng mạn Meloholic.[17] Tiếp đó, anh vào vai khách mời trong phim truyền hình Cặp đôi vượt thời gian.

Năm 2023, Jung Yun-ho xác nhận tái xuất màn ảnh nhỏ với vai diễn CEO Seo Dong-hoon trong phim truyền hình Race.[18] Đến năm 2025, anh vào vai phụ Jang Beol-gu trong phim truyền hình Low Life. Cả hai phim đều được phát sóng trên kênh truyền hình Disney+ của Mỹ.

Phong cách nghệ thuật

Yunho được giới phê bình gọi là "ông hoàng vũ đạo của K-pop".[19] Năm 2010, anh là nghệ sĩ châu Á duy nhất được mời tham gia buổi hòa nhạc tưởng niệm Michael Jackson mang tên This Is It, và đã biểu diễn trong chặng lưu diễn tại Hàn Quốc, sau khi được đào tạo tại Los Angeles và Las Vegas.[20][21]

Đời tư

Bị một anti-fan đầu độc

Ngày 14 tháng 10 năm 2006, Yunho bị một anti-fan đầu độc bằng cách trộn keo siêu dính vào một chai nước cam và giả vờ là một người hâm mộ để đưa chai nước đó cho anh uống. Sau khi uống xong, Yunho bất ngờ bị nôn ói và rơi vào trạng thái hôn mê sâu, bất tỉnh. Anh đã được đưa đến bệnh viện gần nhất để được điều trị liên tục. Sau khi xuất viện, mặc dù hung thủ đã ra đầu thú, nhưng Yunho đã từ chối kiện cô ta với lý do rằng cô ta bằng tuổi em gái mình.[22] Được biết, sau khi bị đầu độc, Yunho được cho là đã mắc phải chứng rối loạn lo âu khi mà anh ấy "không thể uống được một chai nước cam cho dù có là 1 lít hay bao nhiêu lít đi chăng nữa".

Nghĩa vụ quân sự

Yunho lên đường nhập ngũ vào ngày 21 tháng 7 năm 2015.[23][24] Anh đã trải qua 5 tuần huấn luyện cơ bản tại Yangju, tỉnh Gyeonggi và giữa vai trò tiểu đội trưởng. Trong lễ bế giảng dành cho tân binh diễn ra vào ngày 27 tháng 8, Yunho được trao danh hiệu Tân binh xuất sắc nhất.[25] Ngày 31 tháng 8, Yunho chính thức gia nhập ban quân nhạc của Sư đoàn Bộ binh Cơ giới số 26.[26] Ngày 9 tháng 5 năm 2016, anh được vinh danh với danh hiệu Chiến sĩ đặc cấp.[27] Yunho chính thức xuất ngũ vào ngày 20 tháng 4 năm 2017.[28]

Vi phạm quy tắc phòng chống đại dịch COVID-19

Ngày 12 tháng 3 năm 2021, Yunho đã vi phạm các quy định phòng chống COVID-19 khi đến một quán bar với bạn bè ở Gangnam sau 10 giờ tối. Nam nghệ sĩ đã đăng tải thư xin lỗi trên trang Instagram.[29] Đến tháng 9 năm 2021, Yunho được tuyên bố trắng án về các cáo buộc hình sự và phải nộp một khoản tiền phạt nhỏ vì vi phạm lệnh giới nghiêm.[30]

Bị dương tính với COVID-19

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, SM Entertainment thông báo Yunho có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID-19, do đó lịch trình concert solo đã được định trước của anh tại Tokyo, Nhật Bản sẽ phải bị hủy bỏ. Bản thân Yunho cũng đã chủ động tự cách ly tại nhà riêng ngay sau khi nhận được tin trên.

Vinh dự

Năm 2020, Yunho được trao Bằng khen của Tổng thống trong Ngày Tiết kiệm của Hàn Quốc (금융의 날, Bản mẫu:Lit) nhờ lối sống tiết kiệm gương mẫu, các khoản đóng góp cho công tác phòng chống dịch COVID-19, quyên góp học bổng cho trường cũ nhằm hỗ trợ các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cũng như việc xây dựng một thư viện và trung tâm giáo dục mới.[31]

Anh còn nhiều lần được cấp bằng sáng chế cho các sản phẩm tự chế tạo khác nhau, một trong số đó là một chiếc khẩu trang có nắp để người dùng có thể ăn uống mà không cần phải tháo nó ra.[32]

MV Nexus của Yunho được trình chiếu tại Liên hoan phim ngắn châu Á (SSF&ASIA) tại Nhật Bản trong hai ngày 20 và 21 tháng 10 năm 2023.

Tại lễ trao giải MAMA 2023 được tổ chức tại Tokyo Dome, Nhật Bản, Yunho cùng với Changmin vinh dự nhận được giải thưởng Thành tựu truyền cảm hứng.

Khác

Vào cuối tháng 4 năm 2024, cựu thành viên nhóm nhạc Teen Top, C.A.P, tố cáo Yunho "nhiệt huyết theo kiểu cực đoan" trên sóng livestream, cho biết đã từng bị Yunho la mắng, chửi rủa vì mình "tập luyện không nghiêm túc", "lười tập luyện đến nỗi phải bị tiền bối xử lý nghiêm khắc". C.A.P còn cho biết từng bắt gặp trưởng nhóm TVXQ hút thuốc trong WC, và "cảm thấy rất khó chịu với mùi thuốc lá khi đứng cạnh Yunho".[33]

Danh sách đĩa hát

Album phòng thu

Tựa đề Chi tiết Thứ hạng cao nhất Doanh số
Hàn
[34]
Nhật
[35]
I-Know

Bản mẫu:Hidden

8 37

EP

Tựa đề Chi tiết Thứ hạng cao nhất Doanh số
Hàn
[34]
Nhật
[35]
Tiếng Hàn
True Colors
  • Ngày phát hành: 12 tháng 6 năm 2019
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc, phát trực tuyến

Bản mẫu:Hidden

1 5
Noir
  • Ngày phát hành: 18 tháng 1 năm 2021
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc, phát trực tuyến

Bản mẫu:Hidden

1
Reality Show
  • Ngày phát hành: 7 tháng 8 năm 2023
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc, phát trực tuyến

Bản mẫu:Hidden

6 5
Tiếng Nhật
U Know Y
  • Ngày phát hành: 8 tháng 7 năm 2015 (giới hạn)
  • Hãng đĩa: Avex Trax
  • Định dạng: CD+DVD

Bản mẫu:Hidden

Kimi wa Saki e Iku
(Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.)
  • Ngày phát hành: 9 tháng 2 năm 2022
  • Hãng đĩa: Avex Trax
  • Định dạng: CD+DVD

Bản mẫu:Hidden

1
"—" biểu thị tác phẩm không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực đó.

Đĩa đơn

Tựa đề Năm Thứ hạng
cao nhất
Album/EP
Hàn
[43]
Nhật
[44]
Tiếng Hàn
"Drop" 2017 Bản mẫu:Non-album singles
"Follow" 2019 142 True Colors
"Thank U" 2021 131 Noir
"Eeny Meeny" Bản mẫu:Non-album singles
"Vuja De" 2023 Reality Show
"Body Language" 2025 I-Know
"Stretch"
"Time's Tickin'" 2026 Bản mẫu:Non-album singles
Tiếng Nhật
"Kimi wa Saki e Iku (君は先へ行く)" 2022 Kimi wa Saki e Iku
"Thank U"
(Japanese ver)
2023 Bản mẫu:Non-album singles

Danh sách phim

Phim điện ảnh
Tên phim Năm Vai Ghi chú
Dating on Earth 2009 Yunho Direct-to-video
Haru: An Unforgettable Day in Korea 2010 Diễn viên đóng thế Bộ phim quảng bá cho du lịch Hàn Quốc[45]
Chorus City Yunho Phim ngắn cho Shanghai Expo[46]
I AM. 2012 Bản thân Phim tài liệu
Make Your Move 2013 U-Know Khách mời
Ode to My Father 2014 Nam-jin Khách mời[47]
SMTOWN The Stage 2015 Bản thân Phim tài liệu
Tokyo Burst: Crime City 2026 Phim Hàn-Nhật
Phim truyền hình
Tên phim Năm Vai Nhà đài Ghi chú
Banjun Theater 2005 U-Know Yunho SBS
Nonstop 4 2006 Yunho MBC Khách mời (Tập 62, 64)
Vacation Yunho Tập: "Cassiopeia"
Heading to the Ground 2009 Cha Bong-Goon MBC
Poseidon 2011 Kang Eun-chul KBS2 Khách mời[48]
I Live in Cheongdam-dong Himself JTBC Khách mời (Tập 1)[49]
Welcome to the Show Himself SBS Khách mời (Tập 1)
King of Ambition 2013 Baek Do-hoon SBS
Saki Khách mua cà phê TBS Khách mời (Tập 11)
Diary of a Night Watchman 2014 Kang Moo-seok MBC
I Order You 2015 Yeo Gook-dae Naver TV Cast Web series
Meloholic 2017 Yoo Eun-ho OCN
Confession Couple Salesman KBS2 Khách mời[50]
Tensai Bakabon 3 2018 Yunho NTV Khách mời
Race 2023 Seo Dong-hoon Disney+ Vai chính
Low Life 2025 Jang Beol-gu Disney+ Vai phụ

Giải thưởng và đề cử

Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm đề cử Kết quả
2010 Baeksang Arts Awards Most Popular Actor Heading to the Ground Đề cử
2013 Baeksang Arts Awards Most Popular Actor King of Ambition Đề cử
2013 Seoul International Drama Awards Most Popular Actor – South Korea King of Ambition Đoạt giải
2014 MBC Drama Awards Excellence Award, Actor in a Special Project Drama Diary of a Night Watchman Đề cử

Xem thêm

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ a ă Thứ hạng cao nhất trên Circle Album Chart (trước đây là Gaon Chart):
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Noir: Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Reality Show: Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • I-Know: Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ a ă Thứ hạng cao nhất trên Oricon Albums Chart:
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Tổng doanh số của I-Know:
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ Tổng doanh số của Reality Show:
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  41. ^
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  45. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  48. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  49. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  50. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Side box

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”.