Bước tới nội dung

Kim Jae-joong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Bản mẫu:Infobox Chinese/HeaderBản mẫu:Infobox Chinese/KoreanBản mẫu:Infobox Chinese/Footer

Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Chinese/HeaderBản mẫu:Infobox Chinese/KoreanBản mẫu:Infobox Chinese/Footer

Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories

Kim Jae-joong (Hangul: 김재중; Hán tự: 金在中; Hán-Việt: Kim Tại Trung; sinh ngày 26 tháng 1 năm 1986), còn được biết đến với nghệ danh Jaejoong tại Hàn Quốc và Jejung hoặc J-Jun tại Nhật Bản, là một nam ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên người Hàn Quốc. Là cựu thành viên của JYJ và trước đó là TVXQ với nghệ danh Hero Jaejoong, anh bắt đầu hoạt động với tư cách nghệ sĩ solo từ năm 2013.

Tiểu sử

Kim Jae-joong có tên khai sinh là Han Jae-joon, sinh ra tại Gongju, Chungcheongnam-do, Hàn Quốc. Ngày sinh thật của anh được mẹ ruột của anh tiết lộ sau này là ngày 4 tháng 2. Tuy nhiên, anh đã khẳng định rằng ngày sinh thật của mình là ngày 26 tháng 1. Anh được một gia đình họ Kim nhận nuôi từ khi còn nhỏ, vì vậy mà anh đã đổi tên mình là Kim Jae-joong.[1]

Năm 16 tuổi, Jaejoong rời quê hương lên Seoul thực hiện ước mơ làm ca sĩ của mình. Cuộc sống của anh lúc đó rất khó khăn, thường xuyên bị chủ nhà đe doạ đuổi ra khỏi nhà nếu anh không thanh toán đủ tiền phòng trọ. Để có thể kiếm được 150.000 won để trả tiền thuê nhà, anh từng phải làm nhiều công việc khác nhau, trong đó có đóng vai một anh lính trong phim Taegeukgi Hwinallimyeo (태극기 휘날리며) và bán kẹo cao su ở ga tàu điện ngầm.[2]

Lúc bán kẹo, vì gương mặt của Jaejoong trông không giống như những đứa trẻ phải lao động từ sớm, khiến một số người lầm tưởng anh là kẻ trộm cắp và họ đã đối xử với anh rất tệ. Có lần vì tuyệt vọng, anh quyết định vào làm nhân viên trong một siêu thị. Một người phụ nữ làm việc tại đây vì thương cảm cho anh nên đã mua hết số kẹo và khuyên anh không nên đi bán kẹo nữa và đã đưa cho anh 150.000 won. Sau này, Jaejoong chia sẻ rằng: "Kể từ ngày hôm đó, tôi đã hạ quyết tâm cố gắng nhiều hơn nữa để có thể biến giấc mơ của tôi thành hiện thực".

Anh tham gia thử giọng tại SM Entertainment vào năm 2001 và trở thành thực tập sinh vào cùng năm.

Sự nghiệp

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Ngày 26 tháng 12 năm 2003, với nghệ danh Hero Jaejoong, anh ra mắt cùng TVXQ trong một buổi diễn của BoABritney Spears.[3]

Jaejoong thể hiện ca khúc "Insa" (인사 Greeting), cho nhạc nền phim A Millionaire's First Love (2006).[4] Anh cũng hợp ca với CSJH The Grace cho ca khúc "Just for One Day", xuất hiện trong đĩa đơn tiếng Nhật thứ năm và album ra mắt của họ, Graceful 4.[5][6]

Jaejoong thể hiện ca khúc "Maze" trong đĩa đơn thứ năm và cuối cùng của dự án Trick, "Keyword/Maze".[7] Anh cũng viết nhạc và lời bài "Wasurenaide" (忘れないで lit. Đừng quên?) trong đĩa đơn thứ 25 của TVXQ, "Bolero/Kiss the Baby Sky/Wasurenaide".[8][9] Sau đó bài hát được phát hành trong album tiếng Nhật thứ tư của TVXQ, The Secret Code, cùng với một bài hát khác do anh viết, "9095".[10] Cho album tiếng Hàn thứ tư của TVXQ, Mirotic, Kim Jae-joong viết nhạc và lời ca khúc "Don't Cry My Lover" (사랑아 울지마).[11]

Tháng 9 năm 2009, anh cùng Micky Yoochun sáng tác và thể hiện ca khúc "Colors (Melody and Harmony)". Đây là bài hát chủ đề của lễ kỉ niệm 35 năm chú mèo Hello Kitty và nằm trong đĩa đơn "Colors (Melody and Harmony) / Shelter" được phát hành ngày 23 tháng 9 năm 2009. Đĩa đơn còn bao gồm ca khúc "Shelter", một sáng tác chung của Kim Jae-joong, Yoochun và Junsu.[12]

Năm 2011, JYJ phát hành EP Their Rooms "Our Story" với các sáng tác của anh, bao gồm "Pierrot", "Nine", và "I.D.S.".

Danh sách phim

Phim truyền hình

Năm Tên phim Vai diễn Kênh
2005 Banjun Drama SBS
2006 Vacation Bản thân / Chang Shik
2010 Hard To Say I Love You Park Seon-su/Doctor Fuji TV
2011 Protect the Boss Cha Mu-won SBS
2012 Dr. Jin Kim Kyung-tak MBC
2014 Triangle Jang Dong-chul/Heo Young-dal
2015 SPY Kim Seon-woo KBS2
2017 Manhole: Feel so good Bong Pil
2024 Bad Memory Eraser Lee Goon MBN

Phim điện ảnh

Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
2004 Taegeukgi Vai phụ
2009 Heaven's Postman Shin Jae-joon
2012 Jackal is coming Choi Hyun
2021 Jaejoong: On the Road Phim tài liệu[13]

Lồng tiếng

Năm Tên phim Vai trò Nhà đài
2013 The Zoo Is Alive 2 Người dẫn truyện[14] MBC

Danh sách đĩa nhạc

Album phòng thu

Tên Chi tiết Thứ hạng cao nhất Tiêu thụ
KOR JPN US World
Tiếng Hàn
WWW 1 4
No.X
  • Ngày phát hành: 12 tháng 2 năm 2016
  • Hãng đĩa: C-JeS Entertainment, LOEN Entertainment
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
1 8 3
Born Gene
  • Ngày phát hành: 13 tháng 9 năm 2022
  • Hãng đĩa: C-JeS Entertainment
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
5 13
Flower Garden
  • Ngày phát hành: 26 tháng 6 năm 2024
  • Hãng đĩa: Inkode Entertainment
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
7 13
Tiếng Nhật
Flawless Love
  • Ngày phát hành: 10 tháng 4 năm 2019
  • Hãng đĩa: First JB Music
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
1
Love Covers
  • Ngày phát hành: 25 tháng 9 năm 2019
  • Hãng đĩa: First JB Music
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
1
Love Covers II
  • Ngày phát hành: 29 tháng 7 năm 2020
  • Hãng đĩa: First JB Music
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
1
Fallinbow
  • Ngày phát hành: 9 tháng 11 năm 2022
  • Hãng đĩa: First JB Music
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
2
Love Covers III
  • Ngày phát hành: 1 tháng 11 năm 2023
  • Hãng đĩa: First JB Music
  • Định dạng: CD, tải trực tuyến
4
"—" cho biết album không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực này.

Đĩa mở rộng

Tên Chi tiết Thứ hạng cao nhất Tiêu thụ
KOR JPN US World
Tiếng Hàn
I
  • Ngày phát hành: 13 tháng 1 năm 2013
  • Album tái phát hành: Y, phát hành 26 tháng 2 năm 2013
  • Hãng đĩa: C-JeS Entertainment, A&G Modes
  • Định dạng: CD, trực truyến
1 8 2
Love Song
  • Ngày phát hành: 17 tháng 1 năm 2020
  • Hãng đĩa: C-JeS Entertainment
  • Định dạng: CD, trực truyến
1 9
Beauty in Chaos
  • Ngày phát hành: 24 tháng 5 năm 2025
  • Hãng đĩa: Inkode
  • Định dạng: CD, trực truyến
13 23
  • Hàn: 90,989[32]
  • Nhật: 999 vật lý[33]
Tiếng Nhật
Rhapsody
  • Ngày phát hành: 17 tháng 10 năm 2025
  • Hãng đĩa: Inkode
  • Định dạng: CD, trực truyến
1

Nhật: 17,237 vật lý[34]

Giải thưởng và đề cử

Giải thưởng Năm Hạng mục Đề cử Kết quả TK
Asia Artist Awards 2023 Top of K-pop Record Award Kim Jae-joong Đoạt giải [35]
Best Choice Award Đoạt giải
Asian Film Awards 2019 Next Generation Star Award Đoạt giải [36]
BIFF — Asia Contents Awards 2019 Excellence Award Đoạt giải [37]
Golden Disc Awards 2017 Asia Popularity Award Đoạt giải [38]
Japan Gold Disc Award 2020 Best 3 Albums (Asia) Love Covers Đoạt giải [39]
Japan Record Awards 2019 Planning Award Đoạt giải [40]
KBS Entertainment Awards 2025 Excellence Award (Reality) Stars' Top Recipe at Fun-Staurant Đoạt giải [41]
Korea Drama Awards 2012 Excellence Award, Actor Dr. Jin Đề cử
2014 Top Excellence Award, Actor Triangle Đoạt giải [42]
MBC Drama Awards 2012 Best New Actor Dr. Jin Đoạt giải [43]
2014 Best Actor in a Special Project Drama Triangle Đề cử
Nikkan Sports Drama Grand Prix 2010 Best Supporting Actor for Spring Season Sunao ni Narenakute Đoạt giải [44]
Philippine K-pop Awards 2010 Hottest Male Idol Kim Jae-joong Đoạt giải [45]
2011 Hottest Male Artist Đoạt giải [46]
2012 Đoạt giải [47]
SBS Drama Awards 2011 New Star Award Protect the Boss Đoạt giải [48]
Seoul International Drama Awards 2013 Best Hallyu Drama OST Award "Living Like A Dream" Đoạt giải [49]
Shorty Awards 2011 Best Celebrity on Twitter Kim Jae-joong Đoạt giải [50]
V Chart Awards 2017 Best Male Artist Đoạt giải [51]

Đời tư

Thân thế

Vào ngày 21 tháng 11 năm 2006, một người đàn ông mang họ Han đã nộp đơn khởi kiện những người giám hộ hợp pháp của Jaejoong. Ông cho rằng mình là cha ruột của anh, do đó yêu cầu pháp luật trao cho mình quyền làm cha,[52] đồng thời cho biết lý do khởi kiện người giám hộ hợp pháp của Jaejoong là vì họ "không thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định trước khi đăng ký quyền giám hộ".[53] Phiên điều trần đầu tiên dự kiến diễn ra tại Gongju vào ngày 29 tháng 11 năm 2006, nhưng đến ngày 22 tháng 11, ông Han đã rút đơn khởi kiện.[54]

Để làm rõ mọi chuyện, Jaejoong đã đăng tải một bài viết chia sẻ rằng anh đã được người mẹ hiện tại cho biết về sự tồn tại của cha mẹ ruột cách đây khoảng hai, ba năm, và thông tin này đã khiến anh rất sốc. Với sự giúp đỡ của mẹ nuôi, mẹ ruột của Jaejoong vẫn có thể giữ liên lạc và thỉnh thoảng gặp mặt anh, còn cha ruột thì không rõ tung tích. Jaejoong cũng bày tỏ mong muốn chỉ sử dụng cái tên "Kim Jae-joong" do cha nuôi đặt cho, thay vì tên khai sinh "Han Jae-joon".[55]

Bị thương

Tháng 9 năm 2005, trong khi điều chỉnh vũ đạo cho "Rising Sun", Kim Jae-joong bị vỡ sụn đầu gối và được đưa tới một bệnh viện ở Seoul.[56] Anh được phẫu thuật trong ngày hôm đó để điều trị vết thương.[57]

Bị treo bằng lái xe

Ngày 7 tháng 4 năm 2006, lúc 01:20 sáng, Kim Jae-joong bị cảnh sát giữ lại trên chiếc BMW của một người quen khi đang về nhà từ Khách sạn Renaissance. Qua kiểm tra, nồng độ cồn trong hơi thở của anh được tiết lộ là 0.071%. Sau khi bị giữ tại đồn cảnh sát 20 phút, anh được thả. Do vi phạm luật giao thông, say rượu trong khi điều khiển ô tô, Kim Jae-joong bị đình chỉ tạm thời mọi hoạt động với TVXQ và bị treo bằng lái xe 100 ngày.[58]

Vụ kiện SM Entertainment

Cuối tháng 7 năm 2009, Kim Jae-joong cùng hai thành viên của TVXQ: Micky Yoochun, và Xiah Junsu— cùng ký vào đơn kiện gửi lên toà án Seoul để phá vỡ hiệu lực của bản hợp đồng giữa họ với SM Entertainment.[59] Qua luật sư, các thành viên chỉ ra rằng, hợp đồng 13 năm thực sự quá dài và tiền thù lao nhóm được hưởng quá ít so với công sức họ bỏ ra.[60] Nếu thua kiện, theo hợp đồng, đơn phương phá bỏ hợp đồng trước thời hạn, nhóm sẽ phải đền bù gấp 3 lần số lợi nhuận dự kiến thu được từ nhóm cho phần còn lại của hợp đồng, ước tính khoảng hơn 100 tỉ won (100 triệu đô la).[61] Vụ kiện khiến cổ phiếu của SM Entertainment giảm xuống 30% trên sàn KOSPI.[62]

Toà án Trung tâm quận Seoul đưa ra phán quyết cuối cùng nghiêng về phía Kim Jae-joong, Junsu và Yoochun. Toà cũng chỉ ra rằng bản hợp đồng thiếu công bằng và các thành viên không được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức bỏ ra.[63][64] Trong quá trình vụ việc còn diễn biến phức tạp, 3 thành viên đã được chấp nhận tạm hoãn hợp đồng với SM và tách ra hoạt động riêng lẻ.

Nghĩa vụ quân sự

Jaejoong chính thức nhập ngũ vào ngày 31 tháng 3 năm 2015 và đã xuất ngũ vào ngày 31 tháng 12 năm 2016.[65]

Trò đùa ngày cá tháng 4 gây tranh cãi

Vào ngày 1 tháng 4 năm 2020, trong thời gian Đại dịch COVID-19, Jaejoong chia sẻ trên Instagram rằng mình đã dương tính với COVID-19.[66] Một giờ sau, anh đăng bài xin lỗi, thừa nhận rằng thông tin được đăng tải trước đó là sai sự thật,[67] sau đó giải thích rằng mục đích của bài đăng ban đầu là nhằm nâng cao nhận thức về mức độ nguy hiểm của virus.[68]

Theo lời ông Yoon Tae-ho – người đứng đầu Trụ sở an toàn và phòng chống thiên tai: "Trường hợp cung cấp sai thông tin cho chính phủ hoặc cơ quan dịch tễ sẽ bị xử phạt theo luật về phòng chống và quản lý bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, trường hợp này không vi phạm cả hai điều trên". Do đó, sẽ là rất khó để luận tội lời nói (bị cho là) trêu đùa này của anh bởi chúng mang đầy đủ những khuyến cáo, thông tin đúng về Corona.[69][70]

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ No.X sales:
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Tổng doanh số của Flower Garden:
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
    • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  41. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  45. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  48. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  49. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  50. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  51. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  52. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  53. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  54. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  55. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  56. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  57. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  58. ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
  59. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  60. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  61. ^ Yahoo.co.kr Bản mẫu:Webarchive. Truy cập 26 tháng 8 năm 2009
  62. ^ Thomson Reuters. Korea Hot Stocks - Hankook Tire, S.M. Ent, Ssangyong Motor. Forbes.com. 3 tháng 8 năm 2009. Truy cập 3 tháng 8 năm 2009.
  63. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  64. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
  65. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  66. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  67. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  68. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  69. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  70. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Side box

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”. Bản mẫu:Giải thưởng phim truyền hình Hàn Quốc nam diễn viên xuất sắc nhất