Bước tới nội dung

Trần Lãm (phường)

(Đổi hướng từ Kỳ Bá)

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Format link' not found. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Navbar/configuration' not found.Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/cat

Trần Lãm là một phường thuộc tỉnh Hưng Yên, Việt Nam.[1] Phường được đặt theo tên Trần Lãm, một thủ lĩnh chiếm đóng ở vùng Bố Hải Khẩu, nay thuộc tỉnh Hưng Yên (trước kia là Thái Bình), Việt Nam, thời loạn 12 sứ quân. Đây là một trong năm phường trung tâm thuộc khu vực phía nam của tỉnh Hưng Yên.

Địa lý

Phường Trần Lãm nằm ở phía tây nam của tỉnh Hưng Yên, có vị trí địa lý:

Lịch sử

Địa bàn phường Trần Lãm trước đây thuộc thành phố Thái Bình và một phần huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cũ, gồm 7 xã phường trước đây: Kỳ Bá, Trần Lãm, Vũ Chính, Vũ Lạc, Vũ Đông, Vũ Tây, Vũ Sơn.

Trước năm 1945

Vào thời Bắc thuộc khu vực này nằm trong vùng Bố Hải Khẩu, thuộc hương Đa Cương của quận Giao Chỉ. Vào thế kỷ thứ X, nơi đây là cửa biển, do sứ quân Trần Lãm chiếm giữ làm căn cứ giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp nạn 12 sứ quân, thống nhất non sông. Sau Bố Hải Khẩu được bồi lấp dần thành xã Kỳ Bố; tới thời Hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông thuộc trấn Sơn Nam.

Thời Nguyễn (niên hiệu Minh Mạng) có tên gọi là xã Lạc Đạo, thuộc tổng Lạc Đạo, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam Hạ. Thời kỳ này xã Lạc Đạo có 4 thôn nên nhân dân ngày xưa gọi là "Lạc Đạo tứ thôn" gồm: Cự Lộng, Bắc Nhất, Đông Nhất, Đông Nhị.

Xã Kỳ Bá tương ứng với các làng Kỳ Bố (Bo), Đồng Lôi (Bằng Lôi), An Tập thuộc tổng Lạc Đạo, huyện Vũ Tiên trước kia. Hai làng Tống Văn, Tống Vũ của xã Vũ Chính, vào thế kỷ 19 là hai xã (thời xưa) thuộc tổng Hội Khê, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, của trấn Sơn Nam Hạ (sau là tỉnh Nam Định nhà Nguyễn, rồi tỉnh Thái Bình).

Xã Vũ Đông có tên từ xa xưa là làng Đông Trì thuộc tổng Xuân Vũ, phủ Kiến Xương, sở dĩ có tên này là vì mảnh đất nằm ở phía Đông tỉnh lỵ Thái Bình, dọc theo hữu ngạn sông Trà Lý về phía hạ lưu. Địa hình có từng vùng cao trũng khác nhau, ao hồ lớn nhỏ. Từ những đặc điểm ấy, cha ông đã đặt tên là làng Đông Trì vào khoảng thế kỷ thứ XV (khởi tổ lập làng), theo nghĩa Hán, "Đông" là phía Đông tỉnh lỵ, "Trì" nghĩa là ao.

Trước đây đã có câu ca về đất Đông Trì như sau: “Thứ nhất Tây Trì, thứ nhì làng Đông” nhằm ý nghĩa ca ngợi Đông Trì là một làng rộng và đông dân cư trong phủ Kiến Xương (chỉ sau Tây Trì, tức xã Vũ Tây). Trên cơ sở bia đá tại Đình làng, ông cha xưa ghi lưu lại: Đình Đông Trì được xây dựng năm 1697 (cách đây gần 300 năm).

Sau năm 1945

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ngày 10 tháng 4 năm 1946, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình quyết định xóa bỏ đơn vị hành chính Tổng, đổi Phủ thành Huyện, xã Lạc Đạo và xã Tống Vũ được sáp nhập thành xã Vũ Lãm do huyện Vũ Tiên quản lý.[2]

Ngày 19 tháng 4 năm 1963, sáp nhập 3 thôn: Kỳ Bá, An Tập, Đồng Lôi thuộc xã Vũ Lãm của huyện Vũ Tiên để thành lập phường Kỳ Bá trực thuộc thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Ngày 17 tháng 6 năm 1969, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 93/CP hợp nhất huyện Vũ Tiên và huyện Thư Trì để thành lập huyện Vũ Thư (khi này 2 xã: Vũ Lãm, Vũ Chính trực thuộc huyện Vũ Thư, đồng thời chuyển 4 xã: Vũ Lạc, Vũ Đông, Vũ Tây, Vũ Sơn từ huyện Vũ Tiên sang huyện Kiến Xương quản lý).

Ngày 18 tháng 12 năm 1976, xã Vũ Lãm và xã Vũ Chính sáp nhập thành xã Chính Lãm.

Năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập xã Trần Lãm, thị xã Thái Bình trên cơ sở một phần 2 xã: Chính Lãm, Vũ Phúc, huyện Vũ Thư và phường Kỳ Bá, thị xã Thái Bình. Đồng thời, đổi trên xã Chính Lãm thành xã Vũ Chính.

Ngày 20 tháng 3 năm 1986, chuyển xã Vũ Chính của huyện Vũ Thư về thị xã Thái Bình quản lý.

Ngày 12 tháng 4 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 45/2002/NĐ-CP thành lập phường Trần Lãm, trực thuộc thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Ngày 29 tháng 4 năm 2004, thành lập thành phố Thái Bình, thành phố tỉnh lỵ tỉnh Thái Bình trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Thái Bình.

Ngày 13 tháng 12 năm 2007, mở rộng thành phố Thái Bình trên cơ sở sáp nhập 2 xã: Vũ Lạc và Vũ Đông thuộc huyện Kiến Xương.

Năm 2020, thành lập xã Tây Sơn, huyện Kiến Xương trên cơ sở toàn bộ xã Vũ Tây và xã Vũ Sơn.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Thái Bình vào tỉnh Hưng Yên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Hưng Yên năm 2025.[1] Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các phường Trần Lãm, Kỳ Bá và các xã Vũ Chính, Vũ Lạc, Vũ Đông (thành phố Thái Bình), xã Tây Sơn (huyện Kiến Xương) thành phường mới có tên gọi là phường Trần Lãm.

Hành chính

Từ tháng 7 năm 2026, phường Trần Lãm được chia thành 36 tổ dân phố (TDP).[3]

I. Khu vực Trần Lãm

  1. Thành lập TDP số 1 trên cơ sở toàn bộ TDP số 1 và một phần TDP số 3 (khu vực Trần Lãm cũ).
  2. Thành lập TDP số 2 trên cơ sở toàn bộ TDP số 2, một phần TDP số 4 và TDP số 5 (khu vực Trần Lãm cũ).
  3. Thành lập TDP số 3 trên cơ sở toàn bộ TDP số 23, một phần TDP số 3 và TDP số 4 (khu vực Trần Lãm cũ).
  4. Thành lập TDP số 4 trên cơ sở toàn bộ TDP số 6, TDP số 7 và TDP số 8 (khu vực Trần Lãm cũ).
  5. Thành lập TDP số 5 trên cơ sở toàn bộ TDP số 9 và TDP số 10 (khu vực Trần Lãm cũ).
  6. Thành lập TDP số 6 trên cơ sở toàn bộ TDP số 11 và TDP số 12 (khu vực Trần Lãm cũ).
  7. Thành lập TDP số 7 trên cơ sở toàn bộ TDP số 13 và TDP số 14 (khu vực Trần Lãm cũ).
  8. Thành lập TDP số 8 trên cơ sở toàn bộ TDP số 15 và TDP số 16 (khu vực Trần Lãm cũ).
  9. Thành lập TDP số 9 trên cơ sở toàn bộ TDP số 17 và TDP số 18 (khu vực Trần Lãm cũ).
  10. Thành lập TDP số 10 trên cơ sở toàn bộ TDP số 19, TDP số 20 và TDP số 21 (khu vực Trần Lãm cũ).
  11. Thành lập TDP số 11 trên cơ sở toàn bộ TDP số 22 và một phần TDP số 5 (khu vực Trần Lãm cũ).

II. Khu vực Kỳ Bá

  1. Thành lập TDP số 1 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 1, TDP số 2 và TDP số 3 (khu vực Kỳ Bá cũ).
  2. Thành lập TDP số 2 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 4, TDP số 5 và TDP số 6 (khu vực Kỳ Bá cũ).
  3. Thành lập TDP số 3 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 7 và TDP số 8 (khu vực Kỳ Bá cũ).
  4. Thành lập TDP số 4 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 9 và TDP số 10 (khu vực Kỳ Bá cũ).
  5. Thành lập TDP số 5 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 11, TDP số 12 và TDP số 13 (khu vực Kỳ Bá cũ).
  6. Thành lập TDP số 6 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 14, TDP số 15 và TDP số 16 (khu vực Kỳ Bá cũ).
  7. Thành lập TDP số 7 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 17, TDP số 18 và TDP số 19 (khu vực Kỳ Bá cũ).
  8. Thành lập TDP số 8 Kỳ Bá trên cơ sở toàn bộ TDP số 20, TDP số 21 và TDP số 22 (khu vực Kỳ Bá cũ).

III. Khu vực Vũ Chính

  1. Thành lập TDP Vũ Chính trên cơ sở toàn bộ TDP số 1, TDP Tiên Sơn và TDP Lạc Chính (khu vực Vũ Chính cũ).
  2. Thành lập TDP Trường Hải trên cơ sở toàn bộ TDP số 2, TDP Vũ Trường và TDP Đông Hải (khu vực Vũ Chính cũ).
  3. Thành lập TDP Tống Vũ trên cơ sở toàn bộ TDP Hòa Hải, TDP Tây Sơn và TDP Tống Vũ (khu vực Vũ Chính cũ).
  4. Thành lập TDP Tống Văn trên cơ sở toàn bộ TDP Tống Văn, một phần TDP Trấn Tây và TDP Nam Hùng (khu vực Vũ Chính cũ).
  5. Thành lập TDP Hùng Thắng trên cơ sở toàn bộ TDP Quyến, TDP Trung Hòa, một phần TDP Nam Hùng và TDP Trấn Tây (khu vực Vũ Chính cũ).

IV. Khu vực Vũ Lạc

  1. Thành lập TDP Tam Lạc trên cơ sở toàn bộ TDP Tam Lạc và TDP Tam Lạc 2 (khu vực Vũ Lạc cũ).
  2. Thành lập TDP Vân Động trên cơ sở toàn bộ TDP Vân Động, TDP Vân Động Nam và TDP Nam Hưng (khu vực Vũ Lạc cũ).
  3. Thành lập TDP Thượng Cầm trên cơ sở toàn bộ TDP Thượng Cầm và TDP Kìm (khu vực Vũ Lạc cũ).

V. Khu vực Vũ Đông

  1. Thành lập TDP Nguyễn Trãi trên cơ sở toàn bộ TDP Đình Phùng và TDP Nguyễn Trãi (khu vực Vũ Đông cũ).
  2. Thành lập TDP Nguyễn Du trên cơ sở toàn bộ TDP Nguyễn Huệ và TDP Nguyễn Du (khu vực Vũ Đông cũ).
  3. Thành lập TDP Quang Trung trên cơ sở toàn bộ TDP Quang Trung và TDP Trần Phú (khu vực Vũ Đông cũ).
  4. Thành lập TDP Hưng Đạo trên cơ sở toàn bộ TDP Hưng Đạo và TDP Lê Lợi (khu vực Vũ Đông cũ).

VI. Khu vực Tây Sơn

  1. Thành lập TDP Đống Đa trên cơ sở toàn bộ TDP Tiền Phong và TDP Quang Minh (khu vực Tây Sơn cũ).
  2. Thành lập TDP Đống Đa 2 trên cơ sở toàn bộ TDP Hợp Tiến và TDP Bình Sơn (khu vực Tây Sơn cũ).
  3. Thành lập TDP Mê Linh trên cơ sở toàn bộ TDP Hoa Nam, TDP Đồng Tâm và TDP Thống Nhất (khu vực Tây Sơn cũ).
  4. Thành lập TDP Bạch Đằng trên cơ sở toàn bộ TDP Văn Hồng và TDP Đại Hải (khu vực Tây Sơn cũ).
  5. Thành lập TDP Lam Sơn trên cơ sở toàn bộ TDP Tân Hùng, TDP Trung Bắc, TDP Đại Du và TDP Quyết Tiến (khu vực Tây Sơn cũ).

Văn hóa

Trên địa bàn phường có 1 di tích xếp hạng quốc gia (DTQG) và 12 di tích xếp hạng cấp tỉnh.

  1. DTQG Đình, đền Lại Trì (Vũ Tây).
  2. Đình Bo (Kỳ Bá).
  3. Đình Lạc Đạo (Trần Lãm).
  4. Chùa Chanh (Vũ Chính).
  5. Chùa Sam (Vũ Chính).
  6. Đình, chùa Tống Vũ (Vũ Chính).
  7. Từ đường họ Tống (Vũ Chính).
  8. Từ đường chi 3 họ Phan Ngô (Vũ Chính).
  9. Chùa Thượng Cầm (Vũ Lạc).
  10. Từ đường họ Nguyễn Đình (Vũ Lạc).
  11. Từ đường họ Phạm Đình (Vũ Lạc).
  12. Đình Đông Trì (Vũ Đông).
  13. Chùa Hoàng Cô (Vũ Đông).

Danh nhân

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă â b c Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Navbox/configuration' not found.


Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Article stub box”.