K-5
| K-5 AA-1 Alkali | |
|---|---|
Biến thể K-5M | |
| Loại | Tên lửa không đối không tầm ngắn |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1957–1977 |
| Sử dụng bởi | Không quân Liên Xô |
| Lược sử chế tạo | |
| Nhà sản xuất | Nhà máy Sản xuất Hàng loạt Kaliningrad |
| Các biến thể | K-55 |
| Thông số | |
| Khối lượng | 82,7 kg (182 lb) |
| Chiều dài | 2,49 m (8 ft 2 in) |
| Đường kính | 200 mm (7,9 in) |
| Đầu nổ | Thuốc nổ mạnh (HE) |
| Trọng lượng đầu nổ | 13 kg (29 lb) |
| Động cơ | Động cơ tên lửa |
| Tầm hoạt động | 2 đến 6 kilômét (1,2 đến 3,7 mi) |
| Tốc độ | 2.880 km/h (1.790 mph) (Mach 2.33) |
| Hệ thống chỉ đạo | Bám chùm radar (Beam riding) |
| Nền phóng | MiG-17, MiG-19, MiG-21, Su-9 |
Kaliningrad K-5 (tên định danh NATO AA-1 'Alkali), còn được biết đến với tên gọi RS-1U hoặc sản phẩm ShM, là một loại tên lửa không đối không đời đầu của Liên Xô.
Lịch sử
Việc phát triển của K-5 bắt đầu vào năm 1951. Những thử nghiệm đầu tiên là vào năm 1955. Nó được kiểm tra trên Yakovlev Yak-25. Loại vũ khí này bắt đầu phục vụ dưới tên gọi Grushin/Tomashevitch (tiếng Nga: Грушин/Томашевич) RS-2U (cũng như R-5MS hay K-5MS) vào năm 1957. Phiên bản RP-2U lúc đầu được thiết kế để tương thích với ra-đa (Izumrud-2) được sử dụng trên MiG-17PFU, MiG-19PM. Một phương án cải tiến, K-5M hay RS-2US được trang bị trong quân chủng phòng không Xô Viết, bắt đầu sản xuất năm 1959, tương thích với ra-đa RP-9/RP-9U (Sapfir) của Sukhoi Su-9. Trung Quốc cũng phát triển một loại tên lửa sao chép dưới tên gọi là PL-1, được sử dụng trên máy bay chiến đấu J-6B.
Những khó khăn liên quan đến tín hiệu dẫn đường cho tên lửa, đặc biệt trong một máy bay chiến đấu một chỗ, thực chất, làm cho K-5 chủ yếu là một tên lửa chống máy bay ném bom tầm ngắn. Khoảng năm 1967, K-5 được thay thế bởi K-55 (R-55 trong trang bị), K-55 với hệ thống dẫn đường ra-đa bán chủ động hoặc bằng hệ thống tia hồng ngoại của K-13 (AA-2 'Atoll'). Loại tên lửa mới này có trọng lượng 7.8 kg (17.2 lb) nặng hơn K-5, nhưng trọng lượng đầu nổ nhỏ 9.1 kg (20.1 lb). K-55 phục vụ cho đến năm 1977, có lẽ sau khi máy bay đánh chặn Sukhoi Su-9 về hưu.
Các quốc gia vận hành

Quốc gia vận hành hiện tại
CHDCND Triều Tiên
- Được sử dụng trên máy bay MiG-21PFM.
Các quốc gia từng vận hành
Liên Xô
- Cả Không quân Liên Xô (VVS) và Lực lượng Phòng không Liên Xô (PVO) đều vận hành K-5.
- <span class="flagicon" style="display
- inline-block;width:Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Flaglist”.px;">
Albania: Không quân Quân đội Nhân dân Albania đã nhận 400 quả PL-1 từ Trung Quốc trong các năm 1965 và 1966 cho máy bay Shenyang F-5 (MiG-17F) của mình.[1]
Bulgaria- Được Không quân Bulgaria sử dụng cho đến tận tháng 12 năm 1984.[2]
Trung Quốc
- Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã vận hành phiên bản sao chép được cấp phép của Trung Quốc từ mẫu Kaliningrad K-5 với tên định danh PL-1 (PL là viết tắt của Pi Li hay Pili, nghĩa là Tích Lịch/Sấm sét).
Cuba
- Được Lực lượng Phòng không và Không quân Cách mạng Cuba sử dụng cho đến tận tháng 12 năm 1984.[3]
Tiệp Khắc
- Không quân Tiệp Khắc đã vận hành các dòng RS-2U và RS-2US.
Đông Đức
- Không quân Quân đội Nhân dân Quốc gia đã vận hành RS-2U trên các máy bay MiG-19PM và MiG-21PF.
Hungary
- Không quân Hungary đã vận hành RS-2US trên các máy bay MiG-19PM, MiG-21PF và MiG-21MF.
Iraq
- Được Không quân Iraq sử dụng cho đến tận tháng 12 năm 1984.[4]
Mali
- Không quân Mali.[5]
- Bản mẫu:Country data Poland
- Không quân Ba Lan đã vận hành RS-2US trên các máy bay MiG-19PM và MiG-21.[6] Tên lửa này vẫn còn trong biên chế cho đến tận tháng 12 năm 1984.[7]
România
- Phiên bản sao chép A-90 được sản xuất trong nước bởi Electromecanica Ploiesti (1984).
Xem thêm
Tham khảo
- ^ "Arms transfer database". SIPRI. Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2024.
- ^ International Institute for Strategic Studies 1984, tr. 97.
- ^ International Institute for Strategic Studies 1984, tr. 150.
- ^ International Institute for Strategic Studies 1984, tr. 123.
- ^ Cooper và đồng nghiệp 2011, tr. 47
- ^ "SRCP-WR z ITWL". altair.com.pl (bằng tiếng Ba Lan).
- ^ International Institute for Strategic Studies 1984, tr. 98.
Liên kết ngoài
- RS-2U Lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2006 tại Wayback Machine - Air-to-Air missile
- K-5 @ airwar.ru
| Các loại tên lửa không đối không của Nga |
|---|
| AA-1 'Alkali' - AA-2 'Atoll' - AA-3 'Anab' - AA-4 'Awl' - AA-5 'Ash' - AA-6 'Acrid' - AA-7 'Apex' - AA-8 'Aphid' - AA-9 'Amos' - AA-10 'Alamo' - AA-11 'Archer' - AA-12 'Adder' - AA-13 'Axehead' |
- Trang có lỗi kịch bản
- Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
- Nguồn CS1 tiếng Ba Lan (pl)
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Tên lửa không đối không của Liên Xô
- Tên lửa dẫn đường của Không quân Xô Viết
- Tên lửa không đối không của Trung Quốc
- Tên lửa dẫn đường của Không quân Trung Quốc
- Tên lửa không đối không trong Chiến tranh Lạnh của Liên Xô
- Tên lửa Nga
- Quan hệ Liên Xô-Trung Quốc