Shaanxi KJ-200
Shaanxi KJ-200 (tiếng Trung: 空警-200; bính âm: Kōngjǐng Liǎngbǎi; dịch nghĩa: "Cảnh báo trên không-200"; tên ký hiệu NATO: Moth[1]) là một loại máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không (AEW&C) được chế tạo bởi Shaanxi Aircraft Corporation (Tập đoàn Máy bay Thiểm Tây)[2], và đưa vào sử dụng trong Không quân và Hải quân Trung Quốc. Đây là một biến thể của máy bay vận tải quân sự Shaanxi Y-8, còn được gọi là Y-8W. Những người đam mê gọi nó là GX-5.[3]
| KJ-200 | |
|---|---|
KJ-200 | |
| Thông tin chung | |
| Kiểu | Máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không |
| Nguồn gốc | Trung Quốc |
| Hãng sản xuất | Shaanxi Aircraft Corporation |
| Khách hàng chính | Không quân Trung Quốc Hải quân Trung Quốc |
| Số lượng sản xuất | 11 chiếc |
| Lịch sử | |
| Được giới thiệu | Năm 2007 |
| Chuyến bay đầu tiên | Năm 2005 |
| Phát triển từ | Shaanxi Y-8 |
Thiết kế và phát triển
Quá trình phát triển KJ-200 bắt đầu vào năm 2002 sau khi Mỹ ngăn chặn việc Israel bán radar Phalcon EL/W-2090 cho Trung Quốc.[4] Theo Science and Technology Daily, Ouyang Shaoxiu là nhà thiết kế chính của dự án nói rằng Y-8 đã được sửa đổi 80% để tạo ra KJ-200.[5]
Thành phần quan trọng của máy bay là radar mảng quét điện tử chủ động AESA JY-06[4] gắn trên các thanh chống phía trên lưng máy bay;[6][4] cách thiết kế này khá giống với hệ thống radar Ericsson Erieye.[7]
Lịch sử hoạt động
Chuyến bay đầu tiên của KJ-200 diễn ra vào tháng 1 năm 2005. Chiếc thứ hai bị rơi vào năm 2006 do cánh bị đóng băng; vụ tai nạn đã suýt khiến dự án bị hủy bỏ hoàn toàn.[4]
KJ-200 được đưa vào sử dụng trong Quân đội Trung Quốc vào năm 2007.[8] Lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng là tại Lễ duyệt binh kỷ niệm Ngày Quốc khánh Trung Quốc năm 2009.[9]
Tháng 2 năm 2017, một chiếc máy bay Lockheed P-3 Orion của Hải quân Hoa Kỳ và một chiếc KJ-200 đã vô tình bay áp sát nhau trên Biển Đông; hai máy bay chỉ cách nhau trong khoảng 300 mét (1.000 ft).[10][11]
Biến thể
- KJ-200
- Phiên bản đầu tiên.
- KJ-200A
- Phiên bản cải tiến với phần mũi được thiết kế lại và hệ thống điện tử mới. Lần đầu tiên nhìn thấy vào tháng 12 năm 2016.[12]
- "KJ-200AG"
- Tên gọi không chính thức của KJ-200A có gắn thêm đầu dò tiếp nhiên liệu trên không.[12]
- KJ-200H
- Phiên bản KJ-200 sửa đổi cho Hải quân Trung Quốc.[12]
- KJ-200B
- Phiên bản bổ sung thêm liên lạc vệ tinh và thiết bị điện tử mới.[8] Lần đầu quan sát thấy vào năm 2016. Đưa vào hoạt động năm 2023.[12]
Quốc gia sử dụng
- Không quân Trung Quốc: 4 chiếc[13]
- Hải quân Trung Quốc: 6 chiếc[1]
Xem thêm
Các phát triển liên quan
Máy bay có vai trò, cấu hình và thời đại tương đương
Tham khảo
- ^ a b Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế 2025, tr. 245.
- ^ Erickson 2014, tr. 91.
- ^ Dahm 2020, tr. 6.
- ^ a b c d Wood 2020, tr. 5.
- ^ "预警机总师欧阳绍修:运-8被大胆修改了80%(1)". china.com (bằng tiếng Trung). Science and Technology Daily. ngày 13 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2013.
- ^ Dahm 2020, tr. 7.
- ^ Erickson 2014, tr. 95.
- ^ a b "China assessing improved KJ-200 special mission aircraft". Janes. ngày 10 tháng 2 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2024.
- ^ Wood 2020, tr. 33.
- ^ "U.S., China military planes come inadvertently close over South China Sea". Reuters. ngày 10 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2017.
- ^ Browne, Ryan (ngày 10 tháng 2 năm 2017). "Chinese and US aircraft in 'unsafe' encounter". CNN. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2017.
- ^ a b c d Newdick, Thomas; Rupprecht, Andreas (ngày 5 tháng 4 năm 2023). "China's Massive Fleet Of Radar Planes And The Strategy Behind It". The War Zone.
- ^ Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế 2025, tr. 246.
Thư mục
- Dahm, J. Michael (2020). Special Mission Aircraft and Unmanned Systems (PDF) (Báo cáo). South China Sea Military Capabilities Series. Phòng thí nghiệm Vật lý Ứng dụng Đại học Johns Hopkins.
- Erickson, Andrew S. (tháng 2 năm 2014). "Chinese Air- and Space-Based ISR". Trong Dutton, Peter; Erickson, Andrew S.; Martinson, Ryan (biên tập). China's Near Seas Combat Capabilities (Báo cáo). China Maritime Studies. Quyển 11. Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ.
- Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (2025). The Military Balance 2025. Luân Đôn: Routledge. ISBN 978-1-041-04967-8.
- Wood, Peter; Cliff, Roger (tháng 11 năm 2020). Chinese Airborne C4ISR. Viện Nghiên cứu Hàng không Vũ trụ Trung Quốc. ISBN 9798583085569. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.