Bước tới nội dung

Shaanxi KJ-2000

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ KJ-2000)
KJ-2000
Tập tin:KJ2000 at 2014 Zhuhai Air Show.jpg
KJ-2000 tại Triển lãm Hàng không Chu Hải 2014
Thông tin chung
KiểuMáy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không (AEW&C)
Nguồn gốcTrung Quốc
Hãng sản xuấtShaanxi Aircraft Corporation
CETC (hệ thống điện tử hàng không)
NRIET (radar)
Tình trạngĐang hoạt động
Khách hàng chínhKhông quân Trung Quốc
Số lượng sản xuất5 chiếc, tính đến năm 2008[1]
Lịch sử
Chuyến bay đầu tiênNăm 2003[2]
Phát triển từIlyushin Il-76

Shaanxi KJ-2000 (tiếng Trung: 空警-2000; bính âm: Kōngjǐng Liǎngqiān; dịch nghĩa: 'Cảnh báo trên không-2000'; tên ký hiệu NATO: Mainring) là một loại máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không (AEW&C) thế hệ thứ hai của Trung Quốc, sản xuất bởi Shaanxi Aircraft Corporation (Tập đoàn Máy bay Thiểm Tây). Nó được chế tạo dựa trên khung thân máy bay Ilyushin Il-76 sửa đổi của Nga, sử dụng hệ thống điện tử hàng không nội địa và một mái vòm radar cố định chứa ba radar mảng quét điện tử chủ động (AESA), mỗi radar bao phủ một khu vực 120 độ, thiết kế này khác với kiểu mái vòm radar xoay trên máy bay E-3 Sentry đang hoạt động trong Không quân Mỹ.[3]

Phát triển

Tập tin:Kongyu 2000, People's Liberation Army Air Force, China.jpg
Một chiếc KJ-2000 vào năm 2008

KJ-2000 là máy bay AEW&C thế hệ thứ hai được phát triển tại Trung Quốc, sau khi dự án KJ-1 AEWC bị hủy bỏ do phải tập trung vào cải cách kinh tế vào cuối thập niên 1970 và cắt giảm chi tiêu quân sự. Khi việc hiện đại hóa Quân đội Trung Quốc (PLA) trở thành một nhu cầu cấp thiết, đặc biệt là sau khi NATO thể hiện sự thống trị về công nghệ trong chiến tranh Vùng Vịnh, Không quân Trung Quốc ngày càng cảm thấy cần phải sở hữu các hệ thống AEW&C để duy trì thế cân bằng trên không, chứ chưa nói đến việc chiếm ưu thế trên không trước các cuộc xung đột tiềm tàng.

Chương trình phát triển KJ-2000 bắt đầu sau khi thỏa thuận Beriev A-50I giữa Trung Quốc với IsraelNga bị đổ vỡ vào tháng 7 năm 2000, do Mỹ gây áp lực mạnh mẽ với Israel về việc bán radar EL/M-2075 Phalcon cho Trung Quốc. Sau đó, Trung Quốc tự phát triển máy bay AWACS nội địa, và KJ-2000 đã thực hiện chuyến bay đầu tiên vào năm 2003.[2]

Có bốn chiếc KJ-2000 đã được xác định cho đến nay, nhưng việc sản xuất máy bay mới có thể sẽ bị trì hoãn do phải phụ thuộc vào việc mua khung thân máy bay Il-76. Hiện tại, nhà xuất khẩu quốc phòng Nga Rosoboronexport đã tăng mức giá đáng kể đối với tất cả những chiếc Il-76 sẽ giao cho Trung Quốc và Ấn Độ trong tương lai bất chấp các hợp đồng đã ký kết trước đó. Cả hai nước hiện đang đàm phán với Nga về vấn đề này kể từ đầu năm 2008.[4] Tháng 3 năm 2011, các cuộc đàm phán giữa Nga và Trung Quốc đạt được một thỏa thuận mới để chuyển việc sản xuất Il-76 cho các công ty thuộc sở hữu Trung Quốc. Bằng cách này, dự kiến việc sản xuất có thể diễn ra suôn sẻ để cung cấp cho Trung Quốc các khung thân máy bay Il-76 mới, và việc cung cấp động cơ Soloviev D-30KP-2 cũng không bị ảnh hưởng bởi các vấn đề gần đây.[4]

Tuy nhiên, do các nguồn cung cấp bên ngoài không đáng tin cậy, Trung Quốc đã lên phương án dự phòng đó là phát triển mẫu máy bay AWACS KJ-200, bằng cách lắp đặt một hệ thống đơn giản hóa trên khung thân máy bay vận tải quân sự Y-8. KJ-200 có cấu hình tương tự KJ-2000, nhưng hệ thống radar trên lưng máy bay là kiểu cầu thăng bằng dài và dẹp tương tự như Saab Erieye thay vì kiểu vòm radar dạng đĩa tròn.

Thiết kế

KJ-2000 có radar mảng pha (PAR) được đặt trong một vòm radar hình đĩa tròn ở trên lưng. Không giống như máy bay E-3 Sentry của Mỹ và Beriev A-50 của Nga, vốn phải xoay vòm radar có đường kính 9 m (30 ft) để quét 360 độ, vòm radar của AWACS Trung Quốc không xoay. Thay vào đó, ba module PAR được đặt theo hình tam giác đều bên trong vòm radar tròn đường kính 14 m (46 ft), mỗi module bao phủ một vùng hình quạt cầu 120 độ, ba module sẽ cung cấp phạm vi bao phủ 360 độ.

Radar xung Doppler ba chiều đa chức năng được phát triển bởi Viện Nghiên cứu Công nghệ Điện tử Nam Kinh (NRIET), một công ty con của Tập đoàn Công nghệ Điện tử Trung Quốc (CETC). Nó có khả năng phát hiện và theo dõi các mục tiêu trên không và trên mặt đất,[5] hoạt động trong dải tần số 1.200–1.400 MHz, tầm phát hiện trên không tối đa là 470 km (290 dặm).

KJ-3000

KJ-3000 là một phiên bản mới, sử dụng radar thế hệ tiếp theo đặt cố định, đã được nhìn thấy vào năm 2013.[6]

Lịch sử hoạt động

Trung đoàn máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không đầu tiên của không quân Trung Quốc được thành lập tại một sân bay nhỏ và xa xôi ở miền nam Trung Quốc vào cuối năm 2004 vì lý do an ninh. Chỉ huy trung đoàn là Trương Quảng Kiến (张广建), một phi công với hơn 6.000 giờ bay trên nhiều loại máy bay bao gồm cả Il-76. Căn cứ được xây dựng và trang bị lại để tiếp nhận chiếc KJ-2000 đầu tiên đến đây vào năm 2005. Một đội hỗn hợp gồm KJ-2000 và KJ-200 đã được vận hành tại căn cứ không quân này.[7]

Năm 2013, một cuộc diễn tập bao phủ 24 tiếng đã được tổ chức bằng cách sử dụng ba chiếc KJ-2000 hoạt động bao phủ vùng Tây Bắc Trung Quốc, biển Hoa Đôngbiển Đông.[7]

Do khung thân Il-76 chỉ có Nga cung cấp và với số lượng hạn chế, nên Trung Quốc đang tìm cách thay thế bằng khung thân máy bay vận tải quân sự hạng nặng Y-20.[8]

Quốc gia sử dụng

Trung Quốc Trung Quốc

Thông số kỹ thuật

Các thông số hoạt động hạn chế của KJ-2000 đã được công bố như sau:

Dữ liệu lấy từ [9]

Đặc điểm tổng quát

  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 175.000 kg (385.809 lb)

Hiệu suất bay

  • Tốc độ tối đa: 850 km/h (530 dặm/giờ; 460 hải lý/giờ)
  • Tầm bay: 5.500 km (3.400 dặm; 3.000 hải lý)
  • Thời gian bay liên tục: 7 giờ 40 phút

Hệ thống điện tử hàng không

  • Tầm phát hiện các mục tiêu có kích thước máy bay chiến đấu: 470 km (290 dặm; 250 hải lý)
  • Tầm phát hiện tên lửa đạn đạo: 1.200 km (750 dặm; 650 hải lý)
  • Số lượng mục tiêu tối đa có thể theo dõi đồng thời: 60–100 mục tiêu

Xem thêm

Các dự án phát triển liên quan

Danh sách liên quan

Tham khảo

  1. ^ a b "Capabilities of the Chinese People's Liberation Army to Carry Out Military Action in the Event of Regional Military Conflict" (PDF). Quản lý Nhà nước về Công nghiệp và Thương mại (SAIC). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2011.
  2. ^ a b "由"争气机"到登舰 空中力量飞跃 -大公网". www.takungpao.com. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2024.
  3. ^ "KJ200_1". SinoDefence. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015.
  4. ^ a b "IL76 russia china export agreement2011". AirForceWorld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011.
  5. ^ "Kongjing-2000 (KJ-2000) Mainring". globalsecurity.org. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2015.
  6. ^ "China's AEW&C KJ-3000 air-to-surface combat aircraft – China Daily Mail". China Daily Mail. ngày 6 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015.
  7. ^ a b John Pike. "China holds airborne early warning drill targeting Japan: report". Lưu trữ bản gốc 5 tháng 12 2014. Truy cập 4 tháng 2 2015.
  8. ^ "China to Develop AEW&C Aircraft on Y-20 Transport Plane Platform". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2019.
  9. ^ "央视曝空警-2000试验平台 公开雷内部达结构". Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015.

Liên kết ngoài