Kenji Gorré
Kenji Joël Gorré (sinh ngày 29 tháng 9 năm 1994) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh cho câu lạc bộ Israel Maccabi Haifa. Sinh ra tại Hà Lan, anh đại diện cho đội tuyển quốc gia Curaçao. Anh là con trai của cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Dean Gorré.
|
Tập tin:Kenji Gorré (2015).jpg Gorré trong màu áo ADO Den Haag năm 2015 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Kenji Joël Gorré[1] | ||
| Ngày sinh | 29 tháng 9, 1994 | ||
| Nơi sinh | Spijkenisse, Hà Lan | ||
| Chiều cao | 1,78 m | ||
| Vị trí | Tiền vệ cánh | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Maccabi Haifa | ||
| Số áo | 11 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| –2002 | Manchester City | ||
| 2002–2013 | Manchester United | ||
| 2013–2014 | Swansea City | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2014–2018 | Swansea City | 1 | (0) |
| 2015–2016 | → ADO Den Haag (mượn) | 6 | (1) |
| 2016–2017 | → Northampton Town (mượn) | 18 | (1) |
| 2018–2021 | Nacional | 67 | (8) |
| 2019 | → Estoril (mượn) | 14 | (3) |
| 2021–2023 | Boavista | 65 | (7) |
| 2023–2025 | Umm Salal | 24 | (10) |
| 2025– | Maccabi Haifa | 20 | (5) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2019– | Curaçao | 33 | (6) |
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 13 tháng 6 năm 2023 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 14 tháng 10 năm 2025 | |||
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp trẻ
Sinh ra tại Spijkenisse, Hà Lan, Gorré sống ở Hà Lan trước khi chuyển đến Anh khi cha anh chuyển đến Huddersfield Town lúc anh bốn tuổi[2] và sống ở Anh kể từ đó.[3][4] Gorré theo học tại North Cestrian Grammar School.[2] Quyết định theo đuổi bóng đá của Gorré được cha mẹ anh ủng hộ.[2]
Năm 2002, Gorré chuyển từ học viện Manchester City sang học viện Manchester United. Khi Gorré 15 tuổi, anh trở thành mục tiêu chuyển nhượng của Arsenal và Chelsea.[5] Dù vậy, Gorré vẫn ở lại câu lạc bộ và hai năm sau, vào ngày 26 tháng 7 năm 2011, Gorré ghi bàn trong chiến thắng 7–0 trước County Tyrone tại Milk Cup.[6] Tháng sau, Gorré bắt đầu năm học đầu tiên tại học viện.[7]
Sau đó, vào tháng 2 năm 2013, Gorré thử việc tại nhà vô địch Scottish Premier League Celtic, nhưng không ký hợp đồng dài hạn.[8] Điều này diễn ra sau khi Gorré bị học viện Manchester United giải phóng hợp đồng.[9]
Swansea City
Tháng 3 năm 2013, Gorré bắt đầu tập luyện với đội bóng Swansea City tại Premier League. Gorré có màn thể hiện ấn tượng trong thời gian thử việc và thuyết phục ban lãnh đạo Swansea City trao cho anh hợp đồng một năm.[10]
Ngay sau khi ký hợp đồng với Swansea City, Gorré góp mặt trong các trận giao hữu tiền mùa giải và ghi hai bàn trước Excelsior[11] và Haaglandia.[12] Dù được trao áo số 46,[13] Gorré được đưa xuống đội dự bị Swansea City và thi đấu tại đó trong suốt mùa giải 2013–14.[14]
Ngày 4 tháng 7 năm 2014, Gorré ký hợp đồng mới hai năm, giữ anh ở lại câu lạc bộ đến tháng 6 năm 2016.[15] Điều này diễn ra sau khi Gorré được đề nghị hợp đồng chuyên nghiệp.[16] Cuối mùa giải 2014–15, Gorré trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho U-21 Swansea trong mùa giải Professional U21 Development League 2 2014–15,[17] và ghi hai bàn khi đội U-21 vô địch giải đấu.[18] Sau khi gây ấn tượng ở đội U-21, Gorré có trận ra mắt chuyên nghiệp cho Swansea trong trận thua 1–0 tại Premier League trên sân Crystal Palace vào ngày 24 tháng 5 năm 2015.[19]
Ngày 6 tháng 7 năm 2015, Gorré ký hợp đồng mới ba năm với Swansea City, giữ anh ở lại câu lạc bộ đến mùa hè năm 2018.[20] Hai ngày sau, vào ngày 8 tháng 7 năm 2015, Swansea City đạt thỏa thuận cho Gorré gia nhập đội bóng Hà Lan ADO Den Haag theo dạng cho mượn,[21] Gorré ra mắt ADO Den Haag khi vào sân ở phút 76 và kiến tạo từ một quả đá phạt để thủ môn Martin Hansen ghi bàn thắng chuyên nghiệp đầu tiên của mình, giúp đội giành trận hòa vào phút cuối trước PSV.[22] Tuy nhiên, sáu ngày sau, Gorré được đưa xuống đội dự bị để thi đấu với Jong Heracles và ở phút 36, anh nhận thẻ đỏ trực tiếp vì phạm lỗi ngăn cản cơ hội rõ ràng.[23] Sau trận đấu, KNVB quyết định không treo giò Gorré.[24] Tuy nhiên, Gorré chỉ có năm lần ra sân, dành nửa đầu mùa giải tại ADO Den Haag trên ghế dự bị, và vào ngày 30 tháng 1 năm 2016, có xác nhận rằng Gorré đã trở lại Swansea City sau thời gian cho mượn tại ADO Den Haag.[25]
Sau khi trở lại từ thời gian cho mượn tại ADO Den Haag, Gorré trở lại đội dự bị của câu lạc bộ và ghi bàn trong trận tái xuất, giúp đội thắng Derby County 2–1.[26]
Ngày 29 tháng 7 năm 2016, Gorré gia nhập Northampton Town theo hợp đồng cho mượn sáu tháng đến tháng 1 năm 2017.[27]
Anh không thể chen chân vào đội một Swansea và dù được đề nghị hợp đồng mới, anh rời câu lạc bộ khi hợp đồng ba năm ban đầu hết hạn vào tháng 6 năm 2018.
Nacional
Sau khi rời Swansea, Gorré ký hợp đồng với câu lạc bộ Nacional tại Primeira Liga.[28]
Vào tháng 1 năm 2019, anh xuống một hạng đấu để gia nhập đội bóng Estoril tại LigaPro theo dạng cho mượn đến hết phần còn lại của mùa giải.
Boavista
Ngày 22 tháng 7 năm 2021, đội bóng Boavista có trụ sở tại Porto thông báo ký hợp đồng tự do với Gorré theo hợp đồng hai năm.[29]
Umm Salal
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, sau khi hợp đồng với Boavista hết hạn, Gorré ký hợp đồng hai năm với câu lạc bộ Qatar Umm Salal.[30]
Maccabi Haifa
Ngày 17 tháng 7 năm 2025, sau khi hợp đồng với Umm Salal hết hạn, Gorré ký hợp đồng ba năm với câu lạc bộ Israel Maccabi Haifa.
Sự nghiệp quốc tế
Gorré sinh ra tại Hà Lan, có cha là người Suriname, Dean Gorré, và mẹ là người Curaçao (Magali từ The Real Housewives of Cheshire), do đó đủ điều kiện thi đấu cho cả ba đội tuyển quốc gia.[31] Gorré cũng đủ điều kiện thi đấu cho Anh, với lý do đã có tối thiểu năm năm học tập trước 18 tuổi trong lãnh thổ của liên đoàn liên quan.[2] Gorré ban đầu được FA Anh tiếp cận trước khi được KNVB lựa chọn.[2] Anh chưa từng thi đấu cho đội tuyển trẻ của họ.
Vào tháng 11 năm 2016, Gorré được triệu tập và thi đấu cho đội tuyển quốc gia Curaçao trong trận giao hữu gặp đội bóng Eredivisie Excelsior tại Rotterdam.[32] Năm 2019, anh được chọn vào đội hình quốc gia dự Cúp Vàng CONCACAF 2019 và có trận ra mắt vào ngày 25 tháng 6 năm 2019 trong trận cuối vòng bảng gặp Jamaica. Anh vào sân thay Jarchinio Antonia ở phút 70; Curaçao gỡ hòa trong thời gian bù giờ để giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp.[33]
Thống kê sự nghiệp
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 24 tháng 5 năm 2015
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch quốc gia | Cúp FA | Cúp Liên đoàn | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Swansea City | 2014–15 | Premier League | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | – | 1 | 0 | |
| ADO Den Haag (mượn) | 2015–16 | Eredivisie | 5 | 0 | – | – | 1 | 1 | 6 | 1 | ||
| Northampton Town (mượn) | 2016–17 | League One | 13 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 | 2 | 0 | 18 | 1 |
| U-21 Swansea City | 2017–18 | — | — | — | 4 | 4 | 4 | 4 | ||||
| Nacional | 2018–19 | Primeira Liga | 11 | 1 | 0 | 0 | 4 | 0 | – | 15 | 1 | |
| Estoril | 2018–19 | LigaPro | 7 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | – | 7 | 2 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 37 | 4 | 0 | 0 | 7 | 0 | 7 | 5 | 51 | 9 | ||
Bàn thắng quốc tế
- Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Curaçao trước, cột tỉ số biểu thị tỉ số sau mỗi bàn thắng của Gorré.
| Số | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỉ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 5 tháng 6 năm 2021 | Sân vận động Manuel Felipe Carrera, Thành phố Guatemala, Guatemala | Quần đảo Virgin thuộc Anh | 7–0 | 8–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2022 |
| 2 | 8–0 | |||||
| 3 | 18 tháng 10 năm 2024 | Sân vận động Ergilio Hato, Willemstad, Curaçao | Trinidad và Tobago | 2–0 | 5–3 | CONCACAF Nations League A 2023–24 |
| 4 | 11 tháng 6 năm 2025 | Sân vận động Trinidad, Oranjestad, Aruba | Haiti | 2–0 | 5–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2026 |
| 5 | 11 tháng 10 năm 2025 | Sân vận động Ergilio Hato, Willemstad, Curaçao | Jamaica | 1–0 | 2–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2026 |
| 6 | 14 tháng 10 năm 2025 | Trinidad và Tobago | 1–0 | 1–1 |
Tham khảo
- ^ "FIFA World Cup 2026: Squad List" (PDF). FIFA. ngày 2 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b c d e "Kenji going Dutch". Manchester Evening News. ngày 12 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Gorré: 'De Nederlandse stijl past mij goed'" (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. ngày 9 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Gorré: 'Voor het eerst in mijn leven Sinterklaas gevierd'" (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. ngày 23 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Chelsea Trying To Poach Manchester United Starlet Kenji Gorre – Report". Goal.com. ngày 19 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Manchester United hammer Co Tyrone in Milk Cup". BBC Sport. ngày 26 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Reds draft in scholars". Manchester United F.C. ngày 8 tháng 8 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Celtic manager Neil Lennon assesses winger Kenji Gorre". BBC Sport. ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Veseli heads list of released United players". Manchester Evening News. ngày 7 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "The new life of Kenji Gorre, the Man Utd kid who promised so much at Swansea City as addiction nearly cost him everything". walesonline.co.uk. Media Wales Ltd. ngày 2 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2021.
- ^ "FULL-TIME: Excelsior 1 Swansea City 5". Swansea City A.F.C. ngày 7 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "FULL-TIME: Haaglandia 0 Swansea City 10". Swansea City A.F.C. ngày 10 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Squad numbers confirmed". Swansea City A.F.C. ngày 23 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Gorré targets cup success". Swansea City A.F.C. ngày 25 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Stephen Kingsley eyeing Swansea City first team chance after arriving from Falkirk". southwales-eveningpost.co.uk. ngày 2 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2014.
- ^ "Eight young Swansea City pros offered contract extensions". Swansea City A.F.C. ngày 30 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Who are Swansea City's silverware-winning youngsters and potential stars of the future? The Swans' next generation..." Wales Online. ngày 14 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Llewellyn delighted to end season on a high". Swansea City A.F.C. ngày 13 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2015.
- ^ "Crystal Palace 1 Swansea City 0". BBC Sport. ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Swansea City: Kenji Gorre signs new three-year deal". BBC Sport. ngày 6 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Young Swans forward Kenji Gorre joins Den Haag on loan". Swansea City A.F.C. ngày 8 tháng 7 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "ADO-goalie Hansen bezorgt PSV kater met geniale goal" (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. ngày 11 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Jong Heracles geeft voorsprong uit handen" (bằng tiếng Hà Lan). Tubantia Official Website. ngày 17 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "KNVB besluit ook Gorré niet te schorsen na rode kaart" (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. ngày 19 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "ADO laat Gorré per direct terugkeren naar Swansea" (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. ngày 30 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Gorre takes lesson from Montero's experience". Swansea City A.F.C. ngày 8 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Gorre to show dutch of class". Northampton Chronicle and Echo. ngày 29 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Swansea's Roque Mesa completes permanent switch to Sevilla". Shropshire Star. ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.[liên kết hỏng]
- ^ "Kenji Gorré assina pelo Boavista FC" [Kenji Gorré ký hợp đồng với Boavista FC] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Boavista. ngày 22 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Depois do Boavista, Kenji Gorré ruma ao Umm-Salal, do Catar" [Sau Boavista, Kenji Gorré chuyển đến Umm-Salal của Qatar]. zerozero.pt (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 16 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Gorré staat open voor Curaçao". De Telegraaf (bằng tiếng Hà Lan). ngày 21 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Bicentini: Curaçao kan WK 2022 halen | caribisch netwerk". caribischnetwerk.ntr.nl. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2016.
- ^ "Jamaica v Curaçao game report". CONCACAF. ngày 25 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019.
Liên kết ngoài
- Kenji Gorré tại Soccerway
- Kenji Gorré tại National-Football-Teams.com