Khánh phi
Khánh phi Trương Giai thị (chữ Hán: 庆妃张佳氏, 25 tháng 10 năm 1840 – 15 tháng 6 năm 1885), là một phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế. Bà là một trong Tứ Xuân nương nương (四春娘娘) trong hậu cung Hàm Phong với phong hiệu là Hạnh Hoa Xuân (武陵春).
| Thanh Văn Tông Khánh phi 清文宗庆妃 | |
|---|---|
| Hàm Phong Đế Phi | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 25 tháng 10 năm 1840 |
| Mất | 15 tháng 6 năm 1885 (46 tuổi) |
| An táng | 1889 Phi viên tẩm của Định lăng (景陵) |
| Phối ngẫu | Thanh Văn Tông Hàm Phong Hoàng đế |
| Tước hiệu | Quan nữ tử (官女子) Khánh Quý nhân (庆贵人) Hoàng khảo Khánh tần (皇考庆嫔) Hoàng khảo Khánh phi (皇考庆妃) |
| Thân phụ | Trương Lập Thọ |
Xuất thân
Khánh phi sinh ngày mồng 1 tháng 10 năm Đạo Quang thứ 20 (1840), xuất thân từ họ Trương Giai thị (张佳氏) thuộc Bao y Chính Bạch kỳ Nội vụ phủ. Căn cứ theo hồ sơ nhắc tới, anh trai ruột của Khánh tần là Viên hộ Ân Thường (恩常), là người "dưới quyền Canh Âm Bố Tá lĩnh thuộc Chính Bạch kỳ"[1]. Dựa vào thông tin này tra cứu hồ sơ hộ khẩu Nội vụ phủ, tìm được thông tin gia tộc bà là họ Trương Giai thị dưới quyền Kỳ cổ Tá lĩnh thuộc Bao y Chính Bạch kỳ, là người Hán nhập kỳ. Cụ nội của Khánh phi tên là Đắc Hỷ (得喜), là Nhàn tản nhân của Nội vụ phủ. Ông nội tên là Quan Âm Bảo (观音保), là Uyển hộ của Nội vụ phủ. Cha tên là Lập Thọ (立寿), là Viên đinh của Nội vụ phủ.
Trong gia tộc bà không có bất kỳ ai có thân phận quan viên, thuộc về tầng lớp binh đinh, sai sự tiêu chuẩn của Nội vụ phủ. Trương Giai thị có ba người anh em, anh cả tên là Ân Thường, chỉ lớn hơn Khánh phi 1 tuổi, là Viên hộ Nội vụ phủ; em trai thứ hai tên là Ân Phúc (恩福), kém Khánh phi 3 tuổi, là Nhàn tản nhân Nội vụ phủ; em trai thứ ba tên là Ân Huệ (恩惠), kém bà 9 tuổi, cũng là Nhàn tản nhân Nội vụ phủ. Sau khi Trương Giai thị nhập cung, gia tộc bà cũng không nhận được sự ưu đãi gì, vẫn giữ thân phận sai sự và nhàn tản.[2]
Xuất thân của Trương Giai thị khá bình thường, gia tộc đều là nhân đinh Nội vụ phủ đảm nhiệm sai phái tại các ngự viên, ngự uyển hoàng gia, hơn nữa đa số đều không bổ khuyết được sai phái, càng không cần nói đến việc đảm nhiệm chức quan. Từ những thông tin đã biết mà xét, bà có lẽ là vị chủ vị có xuất thân bình thường nhất trong số các hậu cung của Văn Tông.[3]
Đại Thanh tần phi
Trương Giai thị là người dưới quyền Bao y Tá lĩnh thuộc Chính Bạch kỳ Nội vụ phủ, cho nên ứng là thông qua Nội vụ phủ tuyển tú mà nhập cung. Bà tham gia kỳ Nội vụ phủ tuyển tú nào thì hiện tại vẫn chưa rõ. Ngày mồng 9 tháng 9 năm Hàm Phong thứ 9 (1859), "Kính Sự phòng truyền chỉ: Một nữ tử ở Trường Xuân cung, phong làm Khánh Quý nhân, thứ tự xếp sau Hi Quý nhân"[4], như vậy bà được phong làm Khánh Quý nhân (庆贵人). Có thể biết khi bà còn là Quan nữ tử (官女子), cũng đảm nhiệm sai phái tại Trường Xuân cung, vào năm Hàm Phong thứ 8 được Văn Tông nạp làm hậu cung chủ vị. Năm đó bà 20 tuổi, tiến cung chắc hẳn đã được vài năm.[5]
Sau khi được phong Quý nhân, Hàm Phong đặc biệt ban cho bà phong hiệu Hạnh Hoa Xuân (杏花春), Cát Quý nhân là Mẫu Đơn Xuân (牡丹春), Lục Quý nhân là Võ Lăng Xuân (武陵春), và Hi Quý nhân là Hải Đường Xuân (海棠春) tạo thành một nhóm các phi tần sống ở Viên Minh Viên, đương thời gọi Tứ Xuân nương nương (四春娘娘).
Sau khi Trương Giai thị gia nhập hàng ngũ hậu cung chủ vị, các hồ sơ ghi chép liên quan không nhiều. Hiện tại được biết, sau khi được phong làm Quý nhân vào năm Hàm Phong thứ 9, bà cư trú tại Trữ Tú cung[6], khi đó chủ vị của Trữ Tú cung là Ý Quý phi (Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu sau này). Tháng 7 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Hàm Phong Đế băng hà, Hoàng thái tử Tải Thuần đăng cơ trở thành Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh, sử gọi [Đồng Trị Đế]. Ngày 10 tháng 10 cùng năm, phụng ý chỉ của Lưỡng cung Hoàng thái hậu, tấn tôn Khánh Quý nhân Trương Giai thị làm Hoàng khảo Khánh tần (皇考庆嬪), đồng thời thăng phong cho ba vị còn lại của Tứ Xuân nương nương bậc Tần. Phong hiệu cũng được giải nghĩa, theo Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用), phong hiệu "Khánh" có Mãn văn là 「urgungge」[7] , ý là "Hỷ khánh".
Khoảng tháng 8, tháng 9 năm Đồng Trị thứ 8 (1869), vì Mục Tông chuẩn bị đại hôn, hậu cung triều trước dần chuyển sang Thọ Khang cung, Khánh phi chuyển đến trú tại Thọ Đông cung[8]. Năm Đồng Trị thứ 14 (1875), Đồng Trị Đế băng hà, Hoàng thân Tải Điềm kế vị, sử gọi Quang Tự Đế. Ngày 16 tháng 11, Tân đế thừa dụ Lưỡng cung Hoàng thái hậu, tôn phong Khánh tần Trương Giai thị thị lên tước Phi, toàn gọi Hoàng khảo Khánh phi (皇考庆妃), đối với ba vị còn lại của Tứ Xuân nương nương cũng đãi ngộ tương đương.
Qua việc liên tục tôn phong qua các đời, có thể thấy bản thân Trương Giai thị cùng Tứ xuân nương nương có mối quan hệ tốt đẹp với những nhân vật đứng đầu Hoàng thất, đặc biệt là Lưỡng cung Hoàng thái hậu. Cuối cùng hoăng thệ vào giờ Thìn ngày mồng 3 tháng 5 năm Quang Tự thứ 11 (1885), hưởng niên 46 tuổi, trị tang theo lệ của Tần.[9]
Tứ xuân nương nương
Trương Giai thị là một trong số vài vị hậu cung chủ vị vào giai đoạn cuối triều Hàm Phong của Văn Tông. Dã sử cuối triều Thanh có nhắc đến việc vào giai đoạn cuối triều Hàm Phong, trong hậu cung có "Tứ Xuân" nương nương ("四春"娘娘), là bốn vị hậu cung có xưng hiệu mang chữ "Xuân", Văn Tông say mê vui chơi cùng "Tứ Xuân" này đến mức khiến cho quốc sự dần phế bỏ.
Về cái gọi là "Tứ Xuân" nương nương này, dã sử thêu dệt rất nhiều, như nói bốn người đều là phụ nữ Hán bó chân, lại nói trong đó có một người là góa phụ tái giá... Hiện tại căn cứ hồ sơ, đã biết Hi phi được nạp vào những năm cuối đời của Văn Tông quả thực từng được gọi là "Hải Đường Xuân" (海棠春), nhưng bà họ Sát Cáp Lạp thị (察哈拉氏), không phải phụ nữ Hán bó chân, càng không phải góa phụ tái giá.
Tuy nhiên cũng có thể thấy, thuyết về "Tứ Xuân" nương nương đại khái là có nguyên mẫu tồn tại. Khánh phi với tư cách là hậu cung chủ vị được nạp vào cuối triều Hàm Phong, có thể chính là một trong những nguyên mẫu của "Tứ Xuân" nương nương.[10]
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim ảnh | Diễn viên | Nhân vật |
| 1983 | Thiếu nữ Từ Hy |
Lâm Thục Nhàn | Hạnh Hoa Xuân |
| 2013 | Hồng tường lục ngoã |
Hạnh Hoa Xuân |
Tham khảo
- ^ 《为尊封庆贵人代奏谢恩事呈文》,咸丰十一年十月,档案号:05-0809-070,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 此段张氏谱系,整理自中国第一历史档案馆编:《清代谱牒档案(缩微胶卷)》A1-A37。
- ^ 谨按,单从理论上的旗分来讲,包衣旗分内,佐领下人地位优于管领下人;管领下人内,不食口粮的非辛者库人地位优于食口粮的辛者库人。庆妃出身佐领下人,禧妃出身管领下食口粮人,从旗分上来讲庆妃比禧妃出身要好。但是在实际上,庆妃和禧妃家虽然都是兵丁、杂差阶层,庆妃家基本都是闲散,等于没有收入,禧妃家虽然是辛者库人,却全家基本都能补缺,而且都是二三两的缺,每月收入不少,所以庆妃的家庭的情况要比禧妃家差不少。
- ^ 《么么妈妈里女子口分档》,中国第一历史档案馆藏,转引自王佩环:《清宫后妃》,第37页。
- ^ 《清代后妃杂识》: 可知庆妃作为官女子时,也是在长春宫当差,在咸丰八年被文宗纳为后宫主位。这一年她二十岁,进宫应该已经有数年。
- ^ 《为领取挪运玉贵人庆贵人储秀宫什物等项往返圆明园用过雇觅人夫车辆各项钱文事》,咸丰九年十月十三日,档案号:05-08-009-000386-0010,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 《为庆妃金棺在田村暂安应行漆饰所有缮写西番字转行钦天监届期书写并转传喇嘛缮写定于何日前往事致内务府》,光绪十一年八月十一日,档案号:05-13-002-000279-0034,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 《奏为寿东宫交出女子因笨情形事》,同治十年三月初五日,档案号:05-0857-086,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 《为庆妃溘逝所有应行应办事宜俱照嫔例预备事》,光绪朝,档案号:05-08-030-000570-0080,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 《清代后妃杂识》: 庆妃是文宗咸丰朝晚期的几位后宫主位之一。晚清野史中提及,文宗咸丰朝晚期,后宫中有"四春"娘娘,是四位称呼带"春"字的后宫,文宗沉迷于与这"四春"游乐,以致使国事渐废。关于这所谓的"四春"娘娘,野史中渲染颇多,如说四人皆为小脚汉女,又说其中有一位是寡妇再嫁,等等。目前根据档案,已知文宗晚年所纳的禧妃的确曾称"海棠春",不过她姓察哈拉氏,不是小脚汉女,更不是寡妇再嫁。但是也可以看出,"四春"娘娘之说大概有其原型存在。庆妃作为咸丰朝晚期所纳的后宫主位,可能即是"四春"娘娘的原型之一。