Khâu Phùng Giáp (chữ Hán: 丘逢甲; bính âm: Qiū Féngjiǎ; 26 tháng 12 năm 1864 - 25 tháng 2 năm 1912), tên thật Bỉnh Uyên, tự Tiên Căn, Cát Phủ, hiệu Đài Hải, Trất Tiên, Hoa Nghiêm Tử, Thống Khốc Sinh, Hải Đông Di Dân, Nam Vũ Sơn Nhân, sau Cách mạng Tân Hợi hiệu Thương Hải, là một nhà thơ, nhà giáo dục và nhà hoạt động chính trị người Đài Loan gốc Khách Gia. Ông tham gia Chiến tranh Thanh - Nhật năm 1895, sau đó sang Trung Quốc đại lục và tham gia các hoạt động giáo dục.

Khâu Phùng Giáp
SinhBỉnh Uyên (秉淵)
26 tháng 12 năm 1864
Miêu Lật, Đài Loan (nhà Thanh)
Mất25 tháng 2 năm 1912
Trấn Bình, Quảng Đông, Trung Hoa Dân Quốc
Quốc tịchNhà Thanh (trước 1895)
Trung Hoa Dân Quốc (sau 1911)
Dân tộcKhách Gia
Trường lớpTiến sĩ (1889, nhà Thanh)
Nghề nghiệpNhà thơ, nhà giáo dục, nhà hoạt động chính trị
Tác phẩm nổi bậtBách Trang Thi Thảo
Trất Am Thi Tồn
La Phù Du Thảo
Phong tràoChiến tranh Thanh - Nhật (1895)
Cách mạng Tân Hợi

Tiểu sử

Khâu Phùng Giáp sinh ngày 26 tháng 12 năm 1864 tại thôn Đồng Lương Yên, huyện Miêu Lật, Đài Loan (nay thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc), trong một gia đình tri thức gốc Khách Gia từ Quảng Đông di cư. Ông là con trai của Khâu Long Chương, một quan lại nhà Thanh. Làm thơ từ năm sáu tuổi và học tại thần am Tam Giác Tử Lư gia dưới sự hướng dẫn của Ngô Tử Quang. Năm 14 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi đồng tử và được Thống phủ Đinh Nhật Xương gọi là "Đông Ninh tài tử". Năm 1887, ông quen biết Đường Cảnh Sâm. Năm 1889, ông đỗ tiến sĩ tại Yên Kinh, được bổ nhiệm làm Chủ sự Bộ Công, nhưng từ chối làm quan ở kinh sư để trở về Đài Loan vì lý do chăm sóc mẹ. Ông dạy chữ Hán tại các thư viện ở Đài Nam, Gia NghĩaĐài Trung. Gia đình ông chuyển đến Đài Trung do Khâu Tiên Giáp mở đất và tổ chức dân quân.[1][2][3]

Sự nghiệp

Năm 1894, trong Chiến tranh Thanh - Nhật, Khâu Phùng Giáp được giao nhiệm vụ giám sát đoàn luyện. Sau khi nhà Thanh thất bại và ký Hiệp ước Mã Quan năm 1895 bàn giao Đài Loan cho Nhật Bản, ông phản đối việc này và kiến nghị thành lập Đài Loan Dân Chủ Quốc (năm hiệu Vĩnh Thanh). Ông giữ chức Phó Tổng thống kiêm Đội luyện sứ, chỉ huy đội quân gồm học trò, dân địa phương và các thân sĩ từ các vùng như Đào Viên, Tân Trúc, Miêu Lật và Đài Trung. Đội quân bao gồm các đơn vị do ông tự chỉ huy cùng năm trại của Khâu Tiên Giáp, Tạ Tụng Thần, Khâu Quốc Lâm, Từ Tương, Ngô Thang Hưng, Khương Thiệu Tổ, Hồ Gia Do. Tuy nhiên, đội quân gặp khó về vũ khí, lương thựcdi chuyển, dẫn đến các thất bại như tại Tam Giác Dũng, Đại Hồ. Đến tháng 7 năm 1895, sau khi Đường Cảnh Sâm bỏ trốn, Khâu Phùng Giáp cùng 36 người sang Quảng Đông, để lại gia đình và một số đội quân tiếp tục kháng cự. Việc này dẫn đến tranh cãi về lý do và số bạc mang theo.[1][2][3]

Hoạt động sau chiến tranh

Sau khi định cư tại Quảng Đông, Khâu Phùng Giáp tập trung vào giáo dục. Ông làm việc tại các học viện như Hàn Sơn học viện Triều Châu, Đông Sơn học viện Triều Dương, Cảnh Hàn học viện Trừng Hải. Ông đồng sáng lập Lĩnh Đông Đồng Văn học đường năm 1898, làm giám đốc năm 1902, với chương trình học kết hợp trung họcdu học, bao gồm kinh học, sử học, tiếng Trung, tiếng Anh, toán học, hóa học, sinh lý học, địa lý, và đặc biệt là tiếng Nhật cùng huấn luyện thể dụcbắn súng. Ông ủng hộ chiến tranh, tham gia cứu trợ đảng viên cách mạng, và năm 1900 đến Singapore, Malaysia khảo sát người Hoa hải ngoại để kêu gọi tài trợ. Năm 1909, ông đắc cử nghị viên Quảng Đông Tham nghị cục và làm phó nghị trưởng. Năm 1911, sau Cách mạng Tân Hợi, ông tham gia Hội nghị liên tỉnh tại Thượng HảiNam Kinh, đại diện Quảng Đông bầu Tôn Văn làm Tổng thống lâm thời. Ông còn tham gia lập Chính phủ Lâm thời Nam Kinh và làm Giáo dục Tư trưởng Quảng Đông. Ông qua đời ngày 25 tháng 2 năm 1912 tại huyện Trấn Bình (nay là huyện Tiêu Lĩnh, Mai Châu, Quảng Đông) do kiệt sức, với di chúc chôn cất hướng nam.[1][2][3]

Tác phẩm

Khâu Phùng Giáp có các tập thơ như ''Bách Trang Thi Thảo'', ''Lĩnh Vân Hải Nhật Lâu Thi Thiếu'', ''Trất Am Thi Tồn'', ''La Phù Du Thảo'', ''Nguyên Tịch Vô Nguyệt''. Các bài thơ của ông chủ yếu thể hiện nội dung về Đài Loan, Trung Quốc, và phê bình chủ nghĩa thực dân.[1][3][4][5]

Di sản

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i j 新聞中心, 樂聯網 (ngày 11 tháng 5 năm 2023). "且看鷹隼出風塵 丘逢甲與 1895 的抗日義軍". ENN台灣電報 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
  2. ^ a b c "【臺灣通史】「宰相有權能割地,孤臣無力可回天。」離開臺灣後的丘逢甲去了哪裡?". 故事 StoryStudio. ngày 29 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
  3. ^ a b c d 教育部,卡米爾. "教育百科 | 教育雲線上字典". pedia.cloud.edu.tw (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
  4. ^ "Chen-Chi (n.d.). Chen-Chi 02. Fu Jen Catholic University Writing Center".
  5. ^ "华首台 其三原文、朗读_丘逢甲古诗_古文岛_原古诗文网". www.guwendao.net. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.