Khalid Boutaïb (tiếng Ả Rập: خالد بوطيب; sinh ngày 24 tháng 4 năm 1987) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu ở vị trí tiền đạo cắm cho KAC Marrakech. Sinh ra tại Pháp, anh từng đại diện cho Maroc ở cấp độ quốc tế.

Khalid Boutaïb
Tập tin:Khalid Boutaïb.jpg
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 24 tháng 4, 1987 (39 tuổi)[1]
Nơi sinh Bagnols-sur-Cèze, Pháp
Chiều cao 1,93 m (6 ft 4 in)[2]
Vị trí Tiền đạo cắm
Thông tin đội
Đội hiện nay
KAC Marrakech
Số áo 10
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2007 Bagnols Pont
2007–2010 Uzès
2010–2011 Bagnols Pont 14 (7)
2011–2012 Uzès 33 (13)
2012–2013 Istres 0 (0)
2012–2013Uzès (mượn) 24 (6)
2013–2014 Luzenac 33 (8)
2014–2016 Gazélec Ajaccio 59 (12)
2016–2017 Strasbourg 34 (20)
2017–2019 Yeni Malatyaspor 48 (16)
2019–2020 Zamalek 14 (4)
2020–2022 Le Havre 34 (7)
2022–2023 Paris 30 (6)
2023–2025 Pau 60 (16)
2025– KAC Marrakech 0 (0)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2016–2019 Maroc 26 (9)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 12 tháng 5 năm 2025
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 23 tháng 6 năm 2019

Cuộc đời ban đầu

Boutaïb sinh ra tại Bagnols-sur-Cèze, ở miền nam nước Pháp, trong một gia đình người Maroc.[3] Anh có quốc tịch Pháp vào ngày 16 tháng 1 năm 2002, theo hiệu lực tập thể từ việc nhập tịch của mẹ anh.[4]

Sự nghiệp câu lạc bộ

Boutaïb bắt đầu sự nghiệp với các giai đoạn thi đấu tại Bagnols PontUzès, nơi anh là thành viên của đội giành quyền thăng hạng lên Championnat National ở mùa giải 2011–12 trước khi gia nhập Istres vào mùa hè năm 2012. Boutaïb có trận ra mắt chuyên nghiệp trong thất bại 1–2 trước Clermont Foot tại Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp vào ngày 7 tháng 8 năm 2012, khi vào sân thay Ludovic Genest sau giờ nghỉ.

Boutaïb cũng nổi bật ở điểm anh từng là một học sinh có năng khiếu. Anh đạt điểm tối đa 20/20 môn toán trong kỳ thi trung học phổ thông của Pháp. Tuy nhiên, anh chọn tiếp tục sự nghiệp cầu thủ bóng đá.[5]

Sau khi hết hợp đồng với Gazélec Ajaccio, Boutaïb gia nhập Racing Strasbourg theo bản hợp đồng một năm.[6][7]

Boutaïb ký hợp đồng với câu lạc bộ mới thăng hạng Süper Lig của Thổ Nhĩ Kỳ là Yeni Malatyaspor vào tháng 6 năm 2017.[8] Năm 2019, anh gia nhập câu lạc bộ Ai Cập Zamalek.[9] Tháng 10 năm 2020, Boutaïb trở lại Pháp để thi đấu cho Le Havre.[10]

Ngày 31 tháng 1 năm 2022, Boutaïb ký hợp đồng với câu lạc bộ Ligue 2 Paris FC đến tháng 6 năm 2023.[11]

Sự nghiệp quốc tế

Boutaïb tuyên bố ý định đại diện cho Maroc ở cấp độ quốc tế.[12] Tháng 3 năm 2016, anh được triệu tập[13] vào đội tuyển quốc gia Maroc cho các trận Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi gặp Cabo Verde, và ra mắt trong trận đấu ngày 26 tháng 3 năm 2016 khi vào sân ở cuối trận trong chiến thắng 1–0.[14]

Tháng 5 năm 2018, anh có tên trong đội hình 23 cầu thủ Maroc tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga.[15]

Đời tư

Boutaïb là chú của cầu thủ bóng đá Nassim Chadli.

Thống kê sự nghiệp

Quốc tế

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 23 tháng 6 năm 2019[16]
Maroc
Năm Số trận Bàn thắng
2016 5 2
2017 9 4
2018 9 3
2019 3 0
Tổng cộng 26 9

Bàn thắng quốc tế

Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Maroc trước.[16]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1. 15 tháng 11 năm 2016 Sân vận động Marrakech, Marrakesh, Maroc   Togo 1–1 2–1 Giao hữu
2. 2–1
3. 1 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc   Mali 2–0 6–0 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
4. 7 tháng 10 năm 2017 Sân vận động Mohammed V, Casablanca, Maroc   Gabon 1–0 3–0
5. 2–0
6. 3–0
7. 23 tháng 3 năm 2018 Sân vận động Olimpico Grande Torino, Turin, Ý   Serbia 2–1 2–1 Giao hữu
8. 25 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Kaliningrad, Kaliningrad, Nga   Tây Ban Nha 1–0 2–2 Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
9. 16 tháng 10 năm 2018 Stade Said Mohamed Cheikh, Mitsamiouli, Comoros   Comoros 1–1 2–2 Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2019

Danh hiệu

Strasbourg

Zamalek

Tham khảo

  1. ^ "2018 FIFA World Cup Russia – List of Players" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018.
  2. ^ "Khalid Boutaïb". Paris FC. ngày 4 tháng 2 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2022.
  3. ^ "Khalid Boutayeb". L'Equipe. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015.
  4. ^ "JORF n° 0015 du 18 janvier 2002 - Légifrance" (PDF). legifrance.gouv.fr (bằng tiếng Pháp). tr. 1129. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2023.
  5. ^ "Khalid Boutaïb, des maths et des buts".
  6. ^ "Officiel – Khalid Boutaib rejoint Strasbourg". Goal (bằng tiếng Pháp). ngày 7 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2016.
  7. ^ "Khalid Boutaib (GFC Ajaccio) à Strasbourg (officiel)". L'Equipe (bằng tiếng Pháp). ngày 8 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2016.
  8. ^ Khalid Boutaïb signs pre-agreement with Yeni Malatyaspor‚ getfootballnewsfrance.com, 8 tháng 6 năm 2017
  9. ^ "Zamalek lure Morocco striker Khalid Boutaib from Turkey". BBC Sport. ngày 6 tháng 1 năm 2019.
  10. ^ "Khalid Boutaïb retrouve la France !". alsasports.fr (bằng tiếng Pháp). ngày 6 tháng 10 năm 2020.
  11. ^ "Khalid Boutaïb s'engage avec le Paris FC" [Khalid Boutaïb signs for Paris FC] (bằng tiếng Pháp). Paris FC. ngày 31 tháng 1 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2022.
  12. ^ Okeleji, Oluwashina (ngày 22 tháng 11 năm 2015). "Ajaccio striker Khalid Boutaïb eyes call-up to the Morocco team". BBC Sport. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015.
  13. ^ "Equipe Nationale A: liste finale des lions de l'Atlas face au Cap Vert | الموقع الرسمي للجامعة الملكية المغربية لكرة القدم". frmf.ma. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  14. ^ Football, CAF – Confederation of African. "CAF – Competitions – Q CAN 2017 – Match Details". cafonline.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
  15. ^ "Boufal left out of Morocco squad".[liên kết hỏng]
  16. ^ a b Khalid Boutaïb tại National-Football-Teams.com

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Đội hình tiêu biểu Ligue 2 2016–17 của UNFP