Biệt khu dân cư

(Đổi hướng từ Khu biệt cư)

Biệt khu dân cư hay Biệt khu cư dân (Gated community) hay Cộng đồng khép kín (Walled community) hay Khu đô thị khép kín hay Khu đô thị biệt lập là một hình thái khu dân cư hoặc khu đô thị nhà ở được thiết lập cấu trúc kiểm soát an ninh nghiêm ngặt đối với hệ thống lối ra vào dành cho người đi bộ, xe đạpô tô, đồng thời hiển lộ đặc trưng kiến trúc là được bao bọc vẹn toàn thông qua một tuyến tường rào khép kín cấu thành từ tường kiên cố và hàng rào chắn, có cổng vào được túc trực gác cửa đảm bảo an ninh và kiểm soát ra vào nghiêm ngặt. Các biệt khu dân cư thông thường tích hợp mạng lưới các tuyến đường nội khu quy mô nhỏ đan xen với nhiều loại hình tiện ích công cộng dùng chung. Đối với các cộng đồng có quy mô nhỏ mịn, hệ thống tiện ích này hoàn toàn có thể chỉ bao hàm một khuôn viên công viên hoặc các khu vực sinh hoạt cộng đồng (common areas) cơ bản. Ngược lại, đối với các cộng đồng sở hữu không gian vĩ mô, cấu trúc nội khu cho phép cư dân hoàn toàn có khả năng duy trì lưu trú khép kín bên trong để thực hiện phần lớn các hoạt động sinh hoạt và tương tác thường nhật hằng ngày.

Tập tin:Chigwell Grange Gated Community - geograph.org.uk - 7349989.jpg
Một biệt khu dân cư sang trọng, kín cổng cao tường
Tập tin:Longguan Real Estate Building, Block A (20250916182553).jpg
Một biệt khu dân chung cư cao cấp với tường bao quanh khu vực nội bộ
Tập tin:Avenida de la Ilustración (Zaragoza).jpg
Cổng vào một khu cộng đồng khép kín tại Zaragoza

Xét dưới góc độ phân loại hình thái đô thị, biệt khu dân cư là một nhánh đặc thù thuộc phân mục các dự án phát triển vì lợi ích chung (common interest developments), nhưng bộc lộ những nét căn tính biệt lập hoàn toàn so với mô hình cộng đồng cùng hệ hay cộng đồng chí hướng (intentional communities). Xét trên các phương diện lịch sử xã hội, bên trong cấu trúc của các quốc gia phát triển, các biệt khu dân cư tập trung mật độ hiện diện chủ yếu trên phạm vi lãnh thổ nước Mỹ.[1] Do các biệt khu dân cư xét về mặt không gian địa lý là một hình thái biểu hiện của cấu trúc vùng đất đóng kín biệt lập (enclave), nhà nhân chủng học lừng danh Setha M. Low đã đưa ra các luận chứng chứng minh rằng chúng đang sản sinh ra những tác động tiêu cực, làm xói mòn giá trị nguồn vốn xã hộ (social capital) tổng thể của toàn bộ phần cộng đồng rộng lớn hơn bên ngoài ranh giới tường bọc biên.[2] Một số biệt khu dân cư chuyên biệt, thường được gọi dưới danh xưng "cộng đồng bảo vệ nghiêm ngặt" (guard-gated communities), được bố trí lực lượng nhân viên an ninh tư nhân thường trực tuần tra canh gác 24/24, thường là nơi định vị trú ngụ của phân khúc bất động sản có giá trị siêu vĩ mô, và/hoặc được quy hoạch đồng bộ để trở thành hệ thống các khu hưu trí cao cấp (retirement villages).

Các hạng mục

Bên cạnh việc cung ứng hệ thống dịch vụ kiểm soát của lực lượng nhân viên gác cổng, rất nhiều biệt khu dân cư còn chủ động tích hợp mạng lưới các hạng mục tiện ích dịch vụ phong phú khác. Các thông số này phụ thuộc hoàn toàn vào một chuỗi các nhân tố cốt lõi bao gồm vị trí địa lý kết cấu, cấu trúc thành phần nhân khẩu học, mô hình tổ chức điều hành, và định mức biểu giá phí quản lý đô thị thu thập từ cư dân. Trong các kịch bản hiện diện hệ thống các tiểu hội đồng thành viên trực thuộc một hội đồng quản trị tổng (master associations), hội đồng trung tâm vĩ mô này sẽ gánh vác trách nhiệm cung ứng phần lớn các hạng mục tiện ích dịch vụ. Nhìn chung, theo quy luật hiệu ứng quy mô, một tổ chức hội đồng có quy mô diện tích càng vĩ đại bao nhiêu thì danh mục các tiện ích dịch vụ có năng lực cung ứng ra thị trường càng đồ sộ bấy nhiêu. Hệ thống tiện ích dịch vụ đồng thời cũng bộc lộ sự phụ thuộc sâu sắc vào từng loại hình hình thái nhà ở dân dụng cụ thể. Ví dụ điển hình là các cộng đồng quy tụ phân khúc nhà ở riêng lẻ đơn lập hoàn toàn có khả năng sẽ vắng bóng hạng mục bể bơi công cộng dùng chung, bởi bản thân từng chủ sở hữu nhà đất riêng biệt đã tích hợp đầy đủ năng lực tài chính và diện mạo không gian để tự đầu tư thi công xây dựng bể bơi tư gia độc bản ngay bên trong khuôn viên vườn của mình. Trái ngược hoàn toàn, một tổ hợp chung cư thương mại (condominium) lại ưu tiên cung ứng một hệ thống bể bơi cộng đồng vĩ mô, do cấu trúc thiết kế của từng đơn vị căn hộ riêng lẻ hoàn toàn triệt tiêu tùy chọn lắp đặt bể bơi tư nhân tư gia biệt lập.

Mạng lưới các hạng mục tiện ích tiêu biểu được tích hợp bên trong khu đô thị quy tụ một hoặc nhiều phân mục sau:

Phân bố

Tại bối cảnh nước Mexico, hình thái cấu trúc phổ biến nhất của một biệt khu dân cư được luật pháp và ngôn ngữ dân sự gọi bằng các danh xưng tương đương như privada, fraccionamiento, hoặc condominio. Trong đó, mô hình các phân khu privadas và fraccionamientos phần lớn được cấu thành từ hệ thống các ngôi nhà ở riêng lẻ đơn lập được quy hoạch gom cụm bài bản; chúng biến động linh hoạt về mặt chiều cao công trình và hình học thửa đất. Trong một số trường hợp, các ngôi nhà đất sẽ được các chủ đầu tư cá nhân tự thiết kế thi công biệt lập, trong khi ở các dự án khác (chủ yếu tập trung tại các phân khu fraccionamientos), toàn bộ hệ thống nhà ở bắt buộc phải tuân thủ một khuôn mẫu thiết kế kiến trúc và diện mạo hình thái hoàn toàn đồng nhất về mặt thẩm mỹ. Bên trong kết cấu của các dự án fraccionamientos, mạng lưới nhà ở này được quyền tiếp cận vạn năng tới hệ thống các tiện ích dịch vụ cao cấp bố trí ngay phía bên trong ranh giới vùng đóng kín biệt lập, tiêu biểu như công viên xanh mở, phòng tập thể hình thông minh, hội trường tổ chức sự kiện, bể bơi công cộng và toàn bộ các hạng mục này chịu sự quản lý, bảo trì chuyên nghiệp từ ban điều hành tòa nhà. Mặt khác, các tổ hợp condominios bộc lộ những đặc trưng quy hoạch hoàn toàn tương đồng với fraccionamientos và privadas, nhưng được phê duyệt áp dụng nhất quán cho phân khúc kiến trúc là các tòa tháp chung cư cao tầng.[3]

Tại quốc gia Pakistan, các biệt khu dân cư hiện diện dày đặc tại cả các đô thị vĩ mô lẫn các thị trấn có quy mô diện tích nhỏ mịn, và từ lâu đã được toàn xã hội đóng dấu công nhận là thước đo tiêu chuẩn mô phạm đại diện cho lối sống chất lượng cao của giới thượng lưu. Hai định chế Cơ quan Nhà ở Quốc phòng (DHA)[4] và tập đoàn tư nhân Bahria Town là những nhà đầu tư phát triển, quản lý điều hành hành chính các dự án biệt khu dân cư tư nhân chốt giữ vị trí thống trị tuyệt đối tại quốc gia này, đồng thời là những tập đoàn bất động sản sở hữu quy mô diện tích lớn nhất trên thế giới. Chỉ tính riêng tổng giá trị khối lượng tài sản vật chất thuộc quyền định đoạt sở hữu của tập đoàn Bahria Town đã nhanh chóng bứt phá vượt ngưỡng thông số kinh ngạc lên tới 30 tỷ đô la Mỹ.[5] Phần lớn các biệt khu dân cư được vạch tuyến xây dựng tại Pakistan đều tích hợp đồng bộ hệ thống công viên công cộng rộng lớn, trường học quốc tế, bệnh viện chuyên khoa, trung tâm thương mại sầm uất, tổ hợp thể hình và hệ thống các câu lạc bộ giải trí đồng quê thượng lưu (country clubs).[6]

Tại bối cảnh nước Argentina, mô hình này được luật pháp chỉ định gọi bằng thuật ngữ "barrios privados" (nghĩa dịch văn chương là "các khu phố tư nhân biệt lập") hoặc gọi vắn tắt bằng tiếng lóng "countries" (dạng ngôn ngữ lược bớt trích xuất từ khái niệm gốc Câu lạc bộ đồng quê/country club) và luôn được giới xã hội học nhìn nhận như một biểu trưng căn tính đại diện cho sự giàu sang phú quý vô độ. Mặc dù vậy, các biệt khu dân cư tại quốc gia này lại gặt hái được một vị thế danh giá xã hội tương đối mập mờ và gây ra nhiều làn sóng tranh biện trái chiều (nhiều thành viên thuộc giai tầng trung lưu và trung lưu thượng tầng thẳng thắn bày tỏ lập trường phê phán, nhìn nhận đội ngũ cư dân sinh sống bên trong các biệt khu này như những kẻ trưởng giả học làm sang/nouveaux riches hoặc những kẻ hợm hĩnh thích khoe khoang địa vị).[7] Trong khi đại bộ phận các biệt khu dân cư chỉ tập trung xây dựng phân khúc nhà ở thấp tầng, một số dự án có quy mô diện tích vĩ đại hơn, tiêu biểu như siêu đô thị Nordelta,[8] lại sở hữu riêng cho mình hệ thống bệnh viện chuyên khoa, trường học liên cấp, trung tâm thương mại sầm uất và hàng loạt hạ tầng cốt lõi khác.

Tại khu vực Nam Phi thời kỳ hậu xóa bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc (Apartheid), mạng lưới các biệt khu dân cư đã trải qua tiến trình mọc lên như nấm sau mưa nhằm mục đích phản hồi, đối phó lại trước thực trạng nhức nhối về tỷ lệ bạo lực tội phạm tăng trưởng phi mã của xã hội. Trong ngôn ngữ bản địa thường nhật hằng ngày, chúng thường được người dân gọi ngắn gọn bằng danh xưng các "tổ hợp" (complexes), nhưng xét dưới góc độ khoa học quản lý, chúng được phân loại hệ thống thành các nhóm "ngôi làng an ninh" (security villages — để chỉ các vùng không gian có diện tích lớn do tư nhân đầu tư phát triển) hoặc nhóm "khu phố khép kín đóng kín".[9] Một số khu phố mới được hoạch định xây dựng trong giai đoạn gần đây gần như được cấu thành 100% từ mô hình các ngôi làng an ninh biệt lập, một số dự án thậm chí còn tích hợp trọn vẹn các trung tâm thương mại bán lẻ nội khu cùng một vài dịch vụ công cứu trợ dân sinh thiết yếu khác (chẳng hạn như trạm y tế bệnh viện). Một phần nguyên nhân chèo lái xu thế này xuất phát từ việc các nhà phát triển bất động sản muốn chủ động kiến tạo giải pháp kỹ thuật nhằm bẻ gãy hành vi chiếm đất xây dựng trái phép (squatting) — thực trạng nhức nhối luôn gieo rắc tâm lý sợ hãi cho cư dân bản địa do kéo theo hệ lụy bùng nổ tội phạm, và thường xuyên dẫn đến các tiến trình cưỡng chế trục xuất kéo dài lê thê về mặt pháp lý hành chính.

Chỉ trích

Giới chủ lưu ủng hộ mô hình biệt khu dân cư (và ở một cấp độ khiêm tốn hơn là cấu trúc của các tuyến đường ngõ cụt/culs-de-sac) luôn kiên định giữ vững lập trường lý luận cho rằng: việc cắt giảm tối đa hoặc triệt tiêu hoàn toàn sự xuất hiện của dòng người di chuyển mang tính chất đi ngang qua khu vực, hay nói một cách tổng quát hơn là cô lập hoàn toàn đối tượng cư dân không thuộc địa phương, sẽ giúp cho bất kỳ một "kẻ lạ mặt" nào khi lọt vào không gian nội khu khép kín đều trở nên dễ dàng bị nhận diện và phát giác ngay lập tức, từ đó bảo vệ vẹn toàn an toàn sinh mạng và kéo giảm mạnh mẽ nguy cơ bùng nổ tội phạm trộm cắp. Tuy nhiên, ở thế đối sánh học thuật ngược lại, hàng loạt nhà quy hoạch đô thị tiến bộ đã thẳng thắn đưa ra các luận điểm phản bác sắc bén. Họ chỉ ra rằng, xét dưới góc độ khoa học hành vi, chỉ có một tỷ lệ cực kỳ nhỏ gọn trong tổng số lượng dòng người vãng lai di chuyển qua khu vực là có động cơ phạm tội tiềm ẩn. Do đó, việc duy trì một không gian mở với mật độ lưu thông sầm uất thực chất sẽ giúp nâng tầm mức độ an toàn cho khu phố theo cơ chế "con mắt đường phố" (eyes on the street) — nghĩa là sự hiện diện đông đảo của con người sẽ vận hành như một công cụ tự nhiên răn đe các hành vi phạm pháp, đồng thời cung ứng năng lực cứu trợ, hỗ trợ kịp thời cho nạn nhân nếu chẳng may xảy ra các sự cố tai nạn thực địa.[10]

Một luận điểm phản biện nhức nhối khác nhắm thẳng vào mô hình này là việc các biệt khu dân cư thực chất chỉ đang cung ứng một "ảo tưởng sai lầm về sự an toàn". Nhiều công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm đã bóc trần một thực tế rằng, mức độ bảo an bên trong các biệt khu phần lớn chỉ là những cấu trúc tâm lý đánh lừa thị giác của người dân hơn là một năng lực thực tế hữu hình. Các số liệu thống kê chứng minh rằng các biệt khu dân cư tọa lạc tại các phân khu ngoại ô của nước Mỹ hoàn toàn không sở hữu tỷ lệ tội phạm thấp hơn so với các khu phố mở có đặc điểm nhân khẩu học tương đồng bao bọc xung quanh.[11] Trong một bài luận lý luận, nhà nghiên cứu Vanessa Watson đã thẳng thắn xếp mô hình biệt khu dân cư vào nhóm phân loại mang tên "những ảo tưởng đô thị của người Châu Phi" (African urban fantasies) — thuật ngữ dùng để chỉ chỉ các nỗ lực cơ học nhằm tái cấu trúc bề mặt các thành phố Châu Phi theo khuôn mẫu hình bóng của Dubai hay Singapore một cách mù quáng. Theo các phân tích học thuật của Watson, tư duy quy hoạch đô thị dị hợm này đang sùng bái việc kiến tạo nên những vùng không gian đóng kín mang tính loại trừ xã hội khốc liệt, triệt tiêu toàn bộ các cơ hội giao lưu, tương tác văn hóa lành mạnh giữa các giai tầng xã hội đa dạng, đồng thời làm trầm trọng thêm bài toán biên rìa hóa, đẩy bộ phận quần chúng nhân dân lao động nghèo khổ thành thị lún sâu vào cảnh cô lập bần cùng.[12]

Một công trình nghiên cứu thực nghiệm được triển khai bởi nhóm các nhà khoa học Breetzke, Landman & Cohn (năm 2014) đã đi sâu khảo sát độc lập về những hệ lụy của biệt khu dân cư đối với rủi ro trở thành nạn nhân của các vụ trộm cắp đột nhập gia cư tại Nam Phi. Các kết quả phân tích dữ liệu thu thập được đã bộc lộ một sự thật tàn nhẫn: các biệt khu dân cư không những hoàn toàn bất lực trong việc kéo giảm tỷ lệ trộm cắp, mà cấu trúc biệt lập của chúng vô hình trung còn tạo điều kiện thuận lợi, che chở cho các hoạt động phạm pháp diễn ra trôi chảy hơn. Xét trên phương diện thống kê địa lý, mật độ của các vụ trộm cắp xảy ra tại chính bản thân các biệt khu dân cư cũng như các phân khu không gian bao bọc xung quanh chúng được ghi nhận là đạt mức cao gấp bốn lần so với thông số trung bình chung của toàn bộ vùng hành chính Tshwane. Tỷ lệ tội phạm hoàn toàn không bộc lộ bất kỳ xu hướng thuyên giảm nào ngay cả ở các phân khu nằm cách xa ranh giới của biệt khu. Đồng thời, mức độ rủi ro đối mặt với tệ nạn trộm cắp luôn duy trì ở ngưỡng cao nhất quán xuyên suốt cả khung giờ ban ngày lẫn ban đêm. Do công trình nghiên cứu thực tế về tác động của biệt khu dân cư tại Nam Phi phản ánh một mối tương quan nghịch biến (negative correlation) sâu sắc giữa thực hành lạm dụng xây dựng biệt khu với năng lực phòng chống tội phạm, tính hiệu quả thực tế của mô hình biệt khu dân cư hoàn toàn bị giới học thuật đặt dấu hỏi nghi ngờ lớn.[13]

Hình ảnh

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Lang, Robert E.; Danielsen, Karen A. (ngày 1 tháng 1 năm 1997). "Gated communities in America: Walling out the world?". Housing Policy Debate (bằng tiếng Anh). 8 (4): 867–899. doi:10.1080/10511482.1997.9521281. ISSN 1051-1482.
  2. ^ Low, S (2001) "The Edge and the Center: Gated Communities and the Discourse of Urban Fear" Lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2013 tại Wayback Machine, American Anthropologist, March, Vol. 103, No. 1, pp. 45-58. Posted online on 10 December 2004.
  3. ^ "¿Qué es un Fraccionamiento? Significado và Định nghĩa".
  4. ^ Karachi, MIS Dte, DHA. "Pakistan Defence Officers Housing Authority, Karachi". dhakarachi.org. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  5. ^ "Bahria Town Today". Bahria Town Today. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017.
  6. ^ "New Projects - Ghar47". Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017.
  7. ^ Clarín.com (ngày 18 tháng 12 năm 2005). ""Las viudas de los jueves", un retrato feroz và chính xác về Argentina". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2007.
  8. ^ "Nordelta". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017.
  9. ^ "Archived copy" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  10. ^ Can Streets Be Made Safe? - Hillier, Bill; Bartlett School of Graduate Studies, University College London
  11. ^ Blakely, E.J., và M.G. Snyder (1998), "Separate places: Crime and security in gated communities". Lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại Wayback Machine trong ấn phẩm: M. Felson và R.B. Peiser (eds.), Reducing crime through real estate development and management, pp. 53-70. Washington, D.C.: Urban Land Institute.
  12. ^ Watson, Vanessa (ngày 6 tháng 12 năm 2013). "African urban fantasies: dreams or nightmares?". Environment and Urbanization (bằng tiếng Anh). 26 (1): 215–231. doi:10.1177/0956247813513705. ISSN 0956-2478. S2CID 154398313.
  13. ^ Breetzke, Gregory D.; Landman, Karina; Cohn, Ellen G. (ngày 23 tháng 6 năm 2013). "Is it safer behind the gates? Crime and gated communities in South Africa". Journal of Housing and the Built Environment. 29 (1): 123–139. doi:10.1007/s10901-013-9362-5. hdl:2263/42098. ISSN 1566-4910. S2CID 54601558.

Tham khảo

  • Arizaga, Maria Cecilia: El Mito de comunidad en la Ciudad Mundializada. ISBN 987-9035-28-3
  • [Arizaga, Maria Cecilia: Murallas y barrios cerrados, La morfología espacial del ajuste en Buenos Aires. Nueva Sociedad, 166, 2000 [1] Lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2013 tại Wayback Machine]
  • Blakely, Edward J. and Mary Gail Snyder; Fortress America: Gated Communities in the United States Lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2017 tại Wayback Machine; Brookings Institution Press, New Ed edition (15 June 1999); ISBN 978-0-8157-1003-5
  • Gasior-Niemiec, Anna; Glasze, Georg and Pütz, Robert (2009): A Glimpse over the Rising Walls: The Reflection of Post-Communist Transformation in the Polish Discourse of Gated Communities. In: East European Politics & Societies 23 (2009) 2: 244–265. [2] [liên kết hỏng vĩnh viễn]
  • Glasze, Georg, Chris Webster and Klaus Frantz (2006): "Introduction: global and local perspectives on the rise of private neighbourhoods". In: Georg Glasze, Chris Webster and Klaus Frantz (Eds.): Private Cities: Global and Local Perspectives. Routledge. London und New York: 1–8. [3] Lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2017 tại Wayback Machine
  • Glasze, Georg (2003): Private Neighbourhoods as Club Economies and Shareholder Democracies. – In: BelGeo 1/2003 Theme Issue "Privatization of Urban Spaces in Contemporary European Cities": 87-98 [4] Lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2017 tại Wayback Machine
  • Libertun de Duren, Nora. "Planning à la Carte: The location patterns of gated communities around Buenos Aires in a decentralized planning context". International Journal of Urban and Regional Research 30.2 (2006): 308–327.
  • Low, Setha M: Behind the Gates: Life, Security and the Pursuit of Happiness in Fortress America. Routledge: New York and London: 2003.
  • Webster, Chris, Georg Glasze und Klaus Frantz (2002): "The global spread of gated communities". In: Environment and Planning B 29 (2002) 3: 315–320
  • Davis, Mike : City of Quartz, 1990.

Liên kết ngoài