Bước tới nội dung

Kiểm lâm Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm
Tập tin:Emblem of Vietnam Forest Rangers.svg
Kiểm lâm hiệu
Tập tin:Flag of Vietnam Forest Rangers.svg
Cờ truyền thống ngành
Tập tin:Sleeve Insignia of Vietnam Forest Rangers Vector Version.svg
Phù hiệu
Thành lập21 tháng 5 năm 1973
LoạiCơ quan nhà nước cấp Cục thuộc Bộ
Vị thế pháp lýĐang hoạt động
Mục đíchThực thi pháp luật về lâm nghiệp
Trụ sở chínhSố 2 đường Ngọc Hà, phường Ba Đình, Thành phố Hà Nội
Vị trí
Ngôn ngữ chính
Tiếng Việt
Cục trưởng
Trần Quang Bảo [1]
Chủ quản
Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Khẩu hiệuRừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý
Website[1]

Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, thường được gọi là Kiểm lâm Việt Nam là tổ chức có chức năng quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp; là lực lượng chuyên ngành về phòng cháy và chữa cháy rừng.

Kiểm lâm Việt Nam hiện nay được tổ chức thành Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường.[2]

Nhiệm vụ và quyền hạn

Nhiệm vụ

Theo Điều 2, Quyết định số 138/QĐ-BNNMT ngày 1 tháng 3 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm có các nhiệm vụ, quyền hạn chính trong các lĩnh vực:

  1. Trình Bộ trưởng
  2. Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện và tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án thuộc lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm; hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ các nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý của Cục.
  3. Về quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng
  4. Về bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp
  5. Về quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
  6. Về quản lý các loài động vật, thực vật rừng và các hệ sinh thái rừng
  7. Thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam.
    1. Về phát triển rừng
    2. Về sử dụng rừng
    3. Về chế biến và thương mại lâm sản
    4. Về tổ chức sản xuất lâm nghiệp
    5. Về giảm phát thải khí nhà kính trong lâm nghiệp và các-bon rừng
    6. Thực hiện nhiệm vụ về quản lý đầu tư, quản lý tài chính, tài sản; thanh lý rừng trồng; quản lý Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam; quản lý việc thu, sử dụng phí, lệ phí và các nguồn lực khác được giao thuộc phạm vi quản lý của Cục theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng và quy định của pháp luật.
  8. Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chuyên ngành theo quy định của pháp luật. Thực hiện tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định và phân công của Bộ trưởng.
  9. Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực lâm nghiệp.
  10. Hướng dẫn, kiểm tra đối với hoạt động của các hội, hiệp hội trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Cục; tham gia ý kiến về công nhận ban vận động thành lập hội và điều lệ hội thuộc chuyên ngành được giao quản lý theo quy định và phân công của Bộ trưởng.
  11. Tổ chức thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí và thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý của Cục theo chương trình, kế hoạch của Bộ.
  12. Quản lý tổ chức, biên chế, vị trí việc làm; công chức, viên chức, người lao động thuộc Cục theo quy định của pháp luật và theo phân công của Bộ trưởng.
  13. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.[3]

Quyền hạn

  1. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu trong thi hành công vụ theo quy định của pháp luật;
  2. Xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính; khởi tố, điều tra vi phạm pháp luật về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật;
  3. Sử dụng phương tiện, thiết bị chuyên dụng, vũ khí, công cụ hỗ trợ và trang phục theo quy định của pháp luật.

Lịch sử

Lực lượng Kiểm lâm Việt Nam được thành lập ngày 21 tháng 5 năm 1973 trên cơ sở lực lượng tuần tra bảo vệ rừng trực thuộc Bộ Lâm nghiệp. Lực lượng này được quản lí bởi Cục Kiểm lâm nhân dân.[4]

Trong thời kì 1980-1994, theo Nghị định 368/CP ngày 8 tháng 10 năm 1979 của Chính phủ và Thông tư số 32/TCCB ngày 4 tháng 9 năm 1982 của Bộ Lâm nghiệp một lượng lớn cán bộ kiểm lâm được điều chuyển vào các liên hiệp, lâm trường dẫn đến tổ chức không thống nhất, không thành hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện.

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 39/CP ngày 18 tháng 4 năm 1994, Cục Kiểm lâm nhân dân được đổi tên là Cục Kiểm lâm. Song song với việc thiết lập hệ thống tổ chức kiểm lâm từ cấp Trung ương đến cấp huyện, mạng lưới các hạt phúc kiểm lâm sản, hạt kiểm lâm ở các khu rừng đặc dụng đã được thành lập để bảo đảm việc bảo vệ rừng đặc dụng và quản lý lâm sản trên phạm vi toàn quốc.

Từ năm 2006, theo Nghị định số 119/2006/NĐ-CP của Chính phủ, tổ chức kiểm lâm có thêm nhiệm vụ phân công kiểm lâm phụ trách địa bàn , đồng thời giải thể các hạt phúc kiểm lâm sản,...[5]

Theo Nghị định 35 ngày 25/2/2025 về quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường do Chính phủ Việt Nam ban hành, Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm sáp nhập lại thành Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm với ông Trần Quang Bảo là người đứng đầu.[6]

Tổ chức

Kiểm lâm ở Vườn quốc gia Yok Đôn.
Tập tin:Tau kiem lam.JPG
Tàu tuần tra của kiểm lâm ở vịnh Hạ Long.
Tập tin:Pennant of Vietnam Forest Rangers.svg
Cờ Hiệu Kiểm Lâm

Kiểm lâm được tổ chức ở trung ương, ở cấp tỉnh. Ngoài ra, kiểm lâm cũng được tổ chức ở cấp huyện trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp, phòng cháy và chữa cháy rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản tại địa phương. Còn có kiểm lâm trong vườn quốc gia; khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển thuộc Kiểm lâm ở trung ương hoặc ở cấp tỉnh được tổ chức trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.[7]

Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm

Lãnh đạo Cục

  • Cục trưởng: Trần Quang Bảo.
  • Phó Cục trưởng:
  1. Nguyễn Văn Diện.
  2. Trần Hồng Hải.
  3. Triệu Văn Lực.

Các tổ chức tham mưu

  • Văn phòng Cục.
  • Phòng Kế hoạch, Tài chính.
  • Phòng Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế.
  • Phòng Pháp chế, Thanh tra.
  • Phòng Thông tin và Chuyển đổi số.
  • Phòng Quản lý bảo vệ rừng.
  • Phòng Phòng cháy và chữa cháy rừng.
  • Phòng Tổ chức xây dựng lực lượng.
  • Phòng Điều tra, xử lý vi phạm về lâm nghiệp.
  • Đội Kiểm lâm đặc nhiệm.

Các Chi cục trực thuộc

  • Chi cục Kiểm lâm vùng I, trụ sở đặt tại tỉnh Quảng Ninh.
  • Chi cục Kiểm lâm vùng II, trụ sở đặt tại tỉnh Thanh Hóa.
  • Chi cục Kiểm lâm vùng III, trụ sở đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Chi cục Kiểm lâm vùng IV, trụ sở đặt tại tỉnh Đắk Lắk.

Các đơn vị sự nghiệp công lập

Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam

Tham khảo

  1. ^ https://vnforest.gov.vn/2026/06/16/cuc-lam-nghiep-va-kiem-lam-cung-c-p-viet-nam-hop-tac-trong-moi-15-trieu-cay-xanh/
  2. ^ Văn Huyên (ngày 24 tháng 4 năm 2025). "Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường". congbaokhanhhoa.gov.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
  3. ^ Cục Lâm nghiệp và Kiểm Lâm (ngày 1 tháng 3 năm 2025). "Quyết định số 138/QĐ-BNNMT" (PDF).
  4. ^ "Lịch sử ngành Lâm nghiệp Việt Nam". kiemlamvung3.org.vn. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2024.[liên kết hỏng]
  5. ^ "Kiểm lâm Việt Nam 35 năm xây dựng, trưởng thành". www.kiemlam.org.vn. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2024.
  6. ^ Phong, Báo điện tử Tiền (ngày 3 tháng 3 năm 2025). "Hợp nhất nhiều đơn vị của ngành Nông nghiệp". Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2026.
  7. ^ "Luật số 16/2017/QH14 của Quốc hội: Luật Lâm nghiệp". chinhphu.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2022.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Sơ khai lâm nghiệp