Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover

(Đổi hướng từ Kitzmiller v. Dover)

Kitzmiller v. Dover Area School District (tạm dịch: Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover), 400 F. Supp. 2d 707 (M.D. Pa. 2005)[1] là vụ án đầu tiên được đưa ra trước tòa án liên bang Hoa Kỳ nhằm kiểm tra một chính sách của trường công lập yêu cầu giảng dạy thuyết thiết kế thông minh (Intelligent Design - ID). Tòa án đã ra phán quyết khẳng định thiết kế thông minh không phải là khoa học.[2][3] Vào tháng 10 năm 2004, Học khu Vùng Dover thuộc Quận York, Pennsylvania đã thay đổi chương trình giảng dạy môn sinh học để yêu cầu trình bày thiết kế thông minh như một giải pháp thay thế cho lý thuyết tiến hóa đồng thời sử dụng cuốn sách ủng hộ thiết kế thông minh mang tên Of Pandas and People làm sách tham khảo.[4] Mức độ nổi bật của cuốn sách giáo khoa này trong suốt phiên tòa lớn đến mức vụ án đôi khi được gọi là Phiên tòa Gấu trúc Dover,[5][6] một cái tên gợi nhớ đến tên gọi phổ biến của vụ án Phiên tòa Khỉ ScopesTennessee diễn ra 80 năm trước đó. Các nguyên đơn đã lập luận thành công rằng thiết kế thông minh là một hình thức của thuyết sáng thế và chính sách của hội đồng nhà trường đã vi phạm Điều khoản Thiết lập của Tu chính án thứ nhất thuộc Hiến pháp Hoa Kỳ. Quyết định của thẩm phán đã làm dấy lên sự phản hồi đáng kể từ cả những người ủng hộ lẫn giới phê bình.

Kitzmiller v. Dover Area School District
Tòa ánTòa án Quận Hoa Kỳ thuộc Quận Trung tâm Pennsylvania
Tên đầy đủ Tammy Kitzmiller, và những người khác kiện Học khu Vùng Dover, và những người khác.
Tranh tụng26 tháng 9 năm 2005 – 4 tháng 11 năm 2005
Phán quyết20 tháng 12 năm 2005
Số hồ sơ4:04-cv-2688
Trích dẫn400 F. Supp. 2d 707
Kết luận cuối cùng
Việc giảng dạy thiết kế thông minh trong các lớp sinh học tại trường công lập vi phạm Điều khoản Thiết lập của Tu chính án thứ nhất thuộc Hiến pháp Hoa Kỳ (cũng như Điều I, Khoản 3 thuộc Hiến pháp Bang Pennsylvania) vì thiết kế thông minh không phải là khoa học và "không thể tách rời khỏi cội nguồn Thuyết sáng thế, và do đó, mang bản chất tôn giáo."
Thành viên tòa án
Thẩm phán thụ lýJohn E. Jones III
Luật áp dụng
U.S. Const. Amend. 1; Penn. Const. Art. I, § 3

Mười một phụ huynh của các học sinh ở Dover, Pennsylvania, Quận York, Pennsylvania (gần thành phố York, Pennsylvania) đã khởi kiện Học khu Vùng Dover về yêu cầu của hội đồng nhà trường đối với một bản tuyên bố. Bản tuyên bố này trình bày thiết kế thông minh như "một lời giải thích về nguồn gốc sự sống khác với quan điểm của Darwin" và bắt buộc giáo viên phải đọc to trong các lớp khoa học lớp chín khi giảng dạy về sự tiến hóa.[7] Các nguyên đơn do Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU), Người Mỹ Đoàn kết vì Sự tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước (AU) và Pepper Hamilton LLP đại diện. Tổ chức National Center for Science Education (NCSE) đóng vai trò cố vấn cho các nguyên đơn. Phía bị đơn do Thomas More Law Center (TMLC) đại diện. Tổ chức Foundation for Thought and Ethics (nhà xuất bản của cuốn Of Pandas and People) đã cố gắng tham gia vào vụ kiện muộn màng với tư cách là đồng bị đơn nhưng đã bị từ chối vì nhiều lý do.[8]

Vụ kiện được đưa ra tại Tòa án Quận Hoa Kỳ thuộc Quận Trung tâm Pennsylvania nhằm tìm kiếm một phán quyết tuyên bốlệnh cấm. Vì vụ việc này đơn thuần tìm kiếm một biện pháp khắc phục theo luật công bằng, quyền được xét xử bằng bồi thẩm đoàn theo quy định của Tu chính án thứ bảy thuộc Hiến pháp Hoa Kỳ không được áp dụng. Vụ án đã được xét xử theo hình thức phiên tòa không bồi thẩm đoàn từ ngày 26 tháng 9 năm 2005 đến ngày 4 tháng 11 năm 2005 trước Thẩm phán John E. Jones III, một đảng viên Đảng Cộng hòa do George W. Bush bổ nhiệm vào năm 2002.[9]

Kết quả

Pháp lý

Vào ngày 20 tháng 12 năm 2005, Thẩm phán Jones đã công bố một tài liệu dài 139 trang trình bày các phát hiện thực tế và quyết định phán quyết rằng chỉ thị của Dover nhằm yêu cầu đọc bản tuyên bố trong lớp học là vi hiến. Phán quyết kết luận rằng thiết kế thông minh không phải là khoa học đồng thời cấm vĩnh viễn hội đồng nhà trường yêu cầu giáo viên bôi nhọ hoặc chê bai lý thuyết tiến hóa khoa học cũng như cấm yêu cầu giảng dạy thiết kế thông minh như một lý thuyết thay thế.[3]

Hội đồng nhà trường địa phương

Vào ngày 8 tháng 11 năm 2005, nhóm ứng cử viên phản đối dạy thuyết thiết kế thông minh trong giờ khoa học đã đánh bại hoàn toàn 8 thành viên đương nhiệm của Hội đồng Nhà trường Dover khi họ tái tranh cử. Thành viên thứ chín không tham gia tái tranh cử. Vị tân chủ tịch hội đồng nhà trường sau đó tuyên bố rằng hội đồng không có ý định kháng cáo phán quyết này.[3]

Bối cảnh

Từ năm 2002, hai thành viên của Hội đồng Giáo dục thuộc Học khu Vùng Dover là William (Bill) Buckingham và Alan Bonsell, những người vốn theo quan điểm thuyết sáng thế Trái Đất trẻ, họ đã đưa ra nhiều tuyên bố ủng hộ việc giảng dạy thuyết sáng thế song song với thuyết tiến hóa. Tại một cuộc họp hội đồng vào ngày 7 tháng 6 năm 2004, Buckingham đã đề cập đến thuyết sáng thế và nêu lên những phản đối đối với việc sử dụng cuốn sách giáo khoa Biology do Kenneth R. Miller cùng Joseph S. Levine biên soạn. Ông mô tả cuốn sách này là "chứa đầy thuyết Darwin" và cho rằng "thật không thể tha thứ được khi có một cuốn sách nói rằng con người tiến hóa từ loài vượn mà không có gì để cân bằng lại điều đó."[10]

Câu chuyện này đã xuất hiện trên các tờ báo ở York. Sau đó luật sư Seth Cooper của Viện Discovery đã gọi điện cho Buckingham. Nhiệm vụ của Cooper bao gồm "giao tiếp với các nhà lập pháp, thành viên hội đồng nhà trường, giáo viên, phụ huynh và học sinh" nhằm "giải quyết chủ đề ID một cách có trách nhiệm về mặt khoa học và giáo dục" trong các trường công lập. Về sau ông tuyên bố rằng mục đích của cuộc gọi là để "hướng Hội đồng Dover từ bỏ việc cố gắng đưa thiết kế thông minh vào lớp học hoặc cố gắng chèn thuyết sáng thế vào chương trình giảng dạy của họ". Tuy nhiên, Buckingham đã bác bỏ lời kể này. Sau khi nhận được cuốn sách và đĩa DVD Icons of Evolution từ Cooper, Buckingham đã yêu cầu các giáo viên khoa học tại Trường Trung học Dover phải xem cuốn đĩa DVD này. Dù vậy, các giáo viên đã không sử dụng nó trong lớp học.

Cooper lưu ý rằng Viện Discovery không cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý. Ngay sau đó, Buckingham đã liên hệ với Richard Thompson của Trung tâm Luật Thomas More. Thompson đồng ý đại diện cho Hội đồng Dover và tiến cử cuốn sách Of Pandas and People.[11] Vào ngày 18 tháng 10 năm 2004, hội đồng nhà trường đã bỏ phiếu với tỷ lệ 6–3 để thông qua nghị quyết tổ chức các bài giảng về chủ đề này với Pandas làm sách tham khảo. Họ cũng bổ sung thêm tuyên bố sau đây vào chương trình giảng dạy môn sinh học: "Học sinh sẽ được biết về những lỗ hổng/vấn đề trong thuyết của Darwin cùng các thuyết tiến hóa khác bao gồm nhưng không giới hạn ở thiết kế thông minh. Lưu ý: Nguồn gốc sự sống không được đưa vào giảng dạy."[12]

Vào ngày 19 tháng 11 năm 2004, Học khu Vùng Dover đã phát hành một thông cáo báo chí cho biết bắt đầu từ tháng 1 năm 2005, giáo viên sẽ phải đọc một tuyên bố cụ thể cho học sinh trong lớp sinh học khối chín tại Trường Trung học Dover:

Các Tiêu chuẩn Học thuật Pennsylvania yêu cầu học sinh phải tìm hiểu về thuyết tiến hóa của Darwin và cuối cùng phải tham gia một bài kiểm tra chuẩn hóa trong đó tiến hóa là một phần nội dung.

Vì thuyết của Darwin là một lý thuyết nên nó vẫn đang được thử nghiệm mỗi khi các bằng chứng mới được khám phá ra. Lý thuyết không phải là một sự thật. Những lỗ hổng trong Lý thuyết vẫn tồn tại mà không có bằng chứng nào chứng minh cho chúng. Một lý thuyết được định nghĩa là một lời giải thích đã được kiểm chứng kỹ lưỡng giúp thống nhất một loạt các quan sát.

Thiết kế thông minh là một lời giải thích về nguồn gốc sự sống khác với quan điểm của Darwin. Sách tham khảo Of Pandas and People có sẵn cho học sinh để xem liệu các em có muốn khám phá quan điểm này trong nỗ lực đạt được sự hiểu biết về những gì mà thiết kế thông minh thực sự bao hàm hay không.

Đúng như bản chất của bất kỳ lý thuyết nào, chúng tôi khuyến khích học sinh giữ một tư duy cởi mở. Nhà trường dành phần thảo luận về nguồn gốc sự sống cho từng cá nhân học sinh và gia đình của các em. Với tư cách là một học khu định hướng theo các tiêu chuẩn, việc hướng dẫn trên lớp tập trung vào mục tiêu chuẩn bị cho học sinh đạt mức độ thành thạo trong những bài đánh giá dựa trên tiêu chuẩn.

Ba thành viên hội đồng nhà trường từng bỏ phiếu chống lại tuyên bố này đã từ chức để phản đối. Các giáo viên khoa học trong học khu cũng từ chối đọc tuyên bố cho học sinh của họ khi trích dẫn bộ luật tiểu bang Pennsylvania 235.10(2). Bộ luật này yêu cầu "Nhà giáo dục chuyên nghiệp không được... Cố tình và cố ý trình bày sai lệch môn học hoặc chương trình giảng dạy." Thay vào đó, một ban quản trị của trường đã đích thân đứng ra đọc bản tuyên bố cho học sinh.

Bản tuyên bố của hội đồng nhà trường đã nhắm trực tiếp vào thuyết tiến hóa khi khẳng định rằng học thuyết này có nhiều "lỗ hổng" và chỉ là một lý thuyết chứ "không phải sự thật". Cách lập luận này ám chỉ thuyết tiến hóa chỉ là một linh cảm mơ hồ, hoàn toàn sai lệch so với bản chất thực sự của thuật ngữ "lý thuyết khoa học". Việc đề cập đến cuốn Of Pandas and People cùng việc giới thiệu thiết kế thông minh như một giải pháp thay thế để "giải thích về nguồn gốc sự sống" đã tô vẽ nó như một lời giải thích mang tính khoa học, hoàn toàn trái ngược với cách họ chê bai thuyết tiến hóa. Bằng cách khuyến khích học sinh "giữ một tư duy cởi mở" về các giải pháp thay thế nhưng lại không cung cấp một lời giải thích khoa học nào, tuyên bố này ngầm hướng học sinh đến việc suy ngẫm về một quan điểm tôn giáo. Hành động này được xem là hậu thuẫn cho quan điểm tôn giáo, tương tự như tuyên bố từ chối trách nhiệm từng bị coi là vi hiến trong vụ án Freiler v. Tangipahoa Parish Board of Education. Hội đồng nhà trường chống chế rằng bản tuyên bố không giảng dạy thiết kế thông minh mà chỉ đơn giản giúp học sinh nhận thức được sự tồn tại của nó như một giải pháp thay thế. Thế nhưng họ lại không áp dụng hình thức "nhận thức" tương tự đối với bất kỳ môn học nào khác. Như một phần của bài thuyết trình, các quản trị viên đã tuyên bố rằng "sẽ không có cuộc thảo luận nào khác về vấn đề này và giáo viên của các em sẽ không trả lời những câu hỏi về vấn đề này", qua đó áp đặt một vùng cấm tranh luận cho thuyết thiết kế thông minh, một đặc quyền hoàn toàn xa lạ đối với các học thuyết khoa học thông thường.[13] Hội đồng nhà trường phủ nhận việc thiết kế thông minh là "tôn giáo ngụy trang", dù họ được đại diện trước tòa bởi Trung tâm Luật Thomas More. Đây là một tổ chức luật phi lợi nhuận thuộc phái Cơ đốc giáo bảo thủ, chuyên sử dụng các vụ kiện tụng để thúc đẩy "quyền tự do tôn giáo của những người theo Cơ đốc giáo và các giá trị gia đình được tôn vinh qua thời gian". Mục đích cốt lõi mà tổ chức này hướng tới là "... trở thành thanh gươm và lá chắn cho những người có đức tin".

Khi Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) đệ đơn kiện thay mặt cho 11 phụ huynh học khu Dover vào ngày 14 tháng 12 năm 2004, họ phải tìm một công ty luật chịu làm việc trên tinh thần rủi ro, tức là không nhận thù lao nếu thua kiện. Eric Rothschild, đối tác tại Pepper Hamilton LLP kiêm thành viên hội đồng cố vấn pháp lý thuộc Trung tâm Giáo dục Khoa học Quốc gia (NCSE), đã nhanh chóng gật đầu nhận vụ án dưới hình thức cam kết đầy rủi ro đó.

John West của Viện Discovery cho biết vụ án này đã phơi bày nỗ lực "Orwellian" của ACLU nhằm bóp nghẹt diễn ngôn khoa học và phản đối việc để tòa án phân xử vấn đề này. "Đó là một viễn cảnh đáng lo ngại khi kết quả của vụ kiện này có thể là tòa án sẽ cố gắng nói cho các nhà khoa học biết đâu là cuộc điều tra khoa học hợp pháp và đâu là không," West nhận định. "Đó là một sự công kích trắng trợn vào tự do ngôn luận." Đại diện cho những người phản đối, Hiệp hội vì sự Tiến bộ của Khoa học Mỹ và Hiệp hội Giáo viên Sinh học Quốc gia khẳng định tuyên bố của ông mang tính mỉa mai và đạo đức giả. Sở dĩ như vậy vì Viện Discovery luôn chống lại chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận. Đây vốn là nguyên tắc nền tảng giới hạn nghiên cứu khoa học ở các hiện tượng và nguyên nhân tự nhiên, hoàn toàn không giả định về sự tồn tại của yếu tố siêu nhiên do chúng nằm ngoài tầm giải thích của khoa học.

Dù từng can dự trước đó, Viện Discovery lại e ngại rằng sự việc sẽ biến thành một vụ án mang tính thử nghiệm, đặc biệt khi các bị đơn đã bộc lộ rõ động cơ tôn giáo từ trước. Căng thẳng leo thang đã dẫn đến những bất đồng với Trung tâm Luật Thomas More, kéo theo sự rút lui của ba nghiên cứu viên thuộc Viện Discovery (William A. Dembski, Stephen C. MeyerJohn Angus Campbell) khỏi vai trò nhân chứng chuyên môn của bên bị ngay trước thời điểm lấy lời khai. Nguyên nhân được cho là do Trung tâm Luật Thomas More cấm các nhân chứng này mang theo luật sư riêng trong quá trình lấy lời khai.[14] Tuy nhiên, giám đốc Viện Discovery là Bruce Chapman sau đó khẳng định chính ông đã yêu cầu họ không ra làm chứng. Ông cũng đưa ra yêu cầu tương tự với Behe và Minnich, nhưng hai người này rốt cuộc vẫn đứng ra làm chứng.[15]

Vào tháng 5 năm 2005, nhà xuất bản của cuốn Of Pandas and People Foundation for Thought and Ethics (FTE) đã đệ trình một kiến nghị xin can thiệp vào vụ án. FTE lập luận rằng một phán quyết kết luận thiết kế thông minh mang tính tôn giáo sẽ gây ra những hậu quả tài chính nghiêm trọng với khoản tổn thất ước tính lên tới nửa triệu đô la. Nếu can thiệp thành công, FTE sẽ trở thành đồng bị đơn với Hội đồng Học khu Vùng Dover, qua đó có quyền đưa các luật sư và nhân chứng chuyên môn riêng vào vụ án. Chủ tịch FTE Jon Buell ngầm khẳng định họ sẽ triệu tập Dembski và Meyer làm nhân chứng chuyên môn nếu được chấp thuận. Trong phán quyết bác bỏ kiến nghị này, Thẩm phán Jones khẳng định FTE không có quyền can thiệp vì đã nộp đơn quá muộn. Ông cũng thẳng thừng chỉ trích những lý do mà tổ chức này đưa ra để bào chữa cho sự chậm trễ là "vô ích và thiếu thành thật". Thẩm phán Jones nhận định FTE không chứng minh được rằng họ có "một lợi ích đáng kể có thể bảo vệ được trong vụ kiện tụng để bảo đảm sự can thiệp với tư cách là một bên", đồng thời bác bỏ lý lẽ cho rằng các bị đơn sẽ không đại diện thỏa đáng cho lợi ích của họ.

Trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 2005, tám trong số chín thành viên của hội đồng nhà trường Dover đã bị mất ghế.[16] Không một thành viên nào từng bỏ phiếu ủng hộ chính sách thiết kế thông minh tái đắc cử thành công. Một hội đồng nhà trường mới với lập trường kiên quyết bác bỏ chính sách này đã lên nắm quyền. Sự thay đổi nhân sự triệt để này đã dập tắt hoàn toàn khả năng nộp đơn kháng cáo lên tòa án cấp cao hơn.

Các đương sự

Dưới đây là danh sách các đương sự tham gia phiên tòa.

Nguyên đơn

Tất cả các nguyên đơn đều là phụ huynh của những học sinh đang theo học tại Học khu Vùng Dover.

  • Tammy Kitzmiller
  • Bryan Rehm
  • Christy Rehm
  • Deborah Fenimore
  • Joel Lieb
  • Steven Stough
  • Beth Eveland
  • Cynthia Sneath
  • Julie Smith
  • Aralene "Barrie" D. Callahan
  • Frederick B. Callahan

Bị đơn

  • Học khu Vùng Dover
  • Ban Giám đốc Học khu Vùng Dover
    Những thành viên đã bỏ phiếu ủng hộ bản tuyên bố:
    • Bill Buckingham (từ chức vào tháng 8 năm 2005 vì lý do sức khỏe)[17]
    • Alan Bonsell
    • Sheila Harkins
    • Heather Geesey
    • Jane Cleaver (từ chức vào ngày 4 tháng 10 năm 2004)
    • Angie Ziegler-Yingling (từ chức vào ngày 6 tháng 12 năm 2004)
    Những thành viên đã bỏ phiếu chống:
    • Noel Wenrich (tuyên bố từ chức vào ngày 4 tháng 10 năm 2004; ngày làm việc cuối cùng là ngày 31 tháng 10 năm 2004; sau đó chuyển ra khỏi học khu)
    • Carol Brown (từ chức vào ngày 18 tháng 10 năm 2004 để phản đối)
    • Jeff Brown (từ chức vào ngày 18 tháng 10 năm 2004 để phản đối)

Phiên tòa

Phiên tòa chính thức bắt đầu vào ngày 26 tháng 9 năm 2005.

Tuyên bố mở màn

Bên nguyên đơn

Eric Rothschild là người đưa ra lập luận mở màn cho bên nguyên đơn. Ông khẳng định bên nguyên sẽ cung cấp vô số bằng chứng cho thấy các thành viên hội đồng nhà trường luôn khao khát cân bằng việc giảng dạy thuyết tiến hóa với thuyết sáng thế. Ông phản bác thẳng thừng những luận điệu trước đó của bên bị đơn khi họ cố gắng tầm thường hóa vụ việc, nhấn mạnh rằng không hề tồn tại thứ gọi là vi phạm hiến pháp "nhỏ". Ông tiếp tục vạch trần định nghĩa về thuyết sáng thế trong bản nháp đầu tiên của cuốn Pandas: "Thuyết sáng thế là lý thuyết cho rằng các dạng sống khác nhau xuất hiện một cách đột ngột với những đặc điểm riêng biệt vốn đã nguyên vẹn: Cá có vây và vảy, chim có lông vũ và cánh, động vật có vú có lông mao và tuyến vú." Sau đó, ông đối chiếu nó với phiên bản cuối cùng được xuất bản: "Thiết kế thông minh có nghĩa là các dạng sống khác nhau xuất hiện một cách đột ngột thông qua một tác nhân thông minh, với những đặc điểm riêng biệt vốn đã nguyên vẹn: Cá có vây và vảy, chim có lông vũ, mỏ và cánh, v.v." (Những định nghĩa này đã từng được mổ xẻ trong phiên điều trần trước xét xử vào ngày 14 tháng 7).[18] Ông chốt lại bằng lời khẳng định đanh thép: thiết kế thông minh không phải là một bộ môn khoa học hãy còn non trẻ, mà thực chất nó hoàn toàn không phải là khoa học.

Bên bị đơn

Patrick Gillen đưa ra các lập luận mở màn cho bên bị đơn. Ông mở đầu bằng việc tuyên bố mục tiêu cốt lõi của hội đồng nhà trường cùng những người ủng hộ là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục khoa học. Ông lập luận rằng chính sách này chỉ là một "sự thay đổi khiêm tốn". Ông cố gắng tách biệt chính sách này khỏi những phát ngôn mang đậm ý đồ tôn giáo của cựu thành viên hội đồng William Buckingham (những bằng chứng mà bên nguyên đơn đang bám sát): "Hội đồng đã lắng nghe khoa khoa học nhiều hơn là lắng nghe Bill Buckingham." Ông quả quyết chính sách này không hề ẩn chứa "mục đích tôn giáo". Gillen đề cập đến việc thành viên hội đồng Alan Bonsell đã tự mình tìm hiểu rất kỹ lưỡng. Ông cho biết Bonsell "đã nhận thức rõ về lý thuyết thiết kế thông minh và thực tế là hơn 300 nhà khoa học đã ký một bản tuyên bố chỉ ra rằng các nhà sinh học đang phóng đại những khẳng định về học thuyết tiến hóa. Bonsell từng đọc về vụ lừa đảo Người Piltdown khét tiếng. Ông có sự quan tâm đối với thuyết sáng thế."

Nhân chứng

Nhân chứng của bên nguyên đơn

27 tháng 9 năm 2005
  • Kenneth R. Miller là nhân chứng đầu tiên bước lên bục. Ông là một giáo sư sinh học tại Đại học Brown đồng thời là một tác giả và nhà bình luận nổi tiếng với lập trường phản đối mạnh mẽ các phong trào thiết kế thông minh và thuyết sáng thế. Dưới tư cách nhân chứng chuyên môn, ông làm chứng rằng "Thiết kế thông minh không phải là một lý thuyết có thể kiểm chứng được và do đó không được cộng đồng khoa học nói chung chấp nhận." Ông phân tích ý tưởng về thiết kế thông minh không tuân theo tính khả phủ chứng, đồng thời chứng minh nhiều luận điểm do những người ủng hộ thiết kế thông minh đưa ra nhằm chống lại thuyết tiến hóa là hoàn toàn vô căn cứ. Khi được hỏi việc đọc bản tuyên bố trước học sinh sẽ gây ra tác hại gì, Miller đã đưa ra một câu trả lời gồm hai phần. 1) "[N]ó hạ thấp một cách sai lệch vị thế khoa học của thuyết tiến hóa và gieo rắc cho học sinh một cách hiểu sai lầm về ý nghĩa thực sự của một lý thuyết." Và 2) "Là một người có đức tin may mắn có hai cô con gái, tôi đã nuôi dạy cả hai đứa trẻ lớn lên trong Giáo hội. Nếu chúng phải nhận một nền giáo dục buộc chúng trực tiếp hay gián tiếp phải lựa chọn giữa Chúa và khoa học, tôi sẽ vô cùng phẫn nộ, bởi vì tôi muốn các con mình giữ vững đức tin tôn giáo của chúng."
  • Tammy Kitzmiller làm chứng với tư cách là một nhân chứng. Cô là nguyên đơn đứng đầu và là phụ huynh của một học sinh trong hệ thống trường học Dover.
  • Aralene "Barrie" D. Callahan làm chứng. Cô là phụ huynh ở Dover, một nguyên đơn và từng có 10 năm làm thành viên hội đồng của Học khu Vùng Dover. Cô làm chứng rằng một thành viên hội đồng tên Alan Bonsell đã lập luận trong một cuộc họp kín của hội đồng vào Mùa xuân năm 2003 rằng nếu thuyết tiến hóa được đem ra giảng dạy thì thuyết sáng thế cũng phải được giảng dạy song song.
  • Bryan Rehm là nhân chứng cuối cùng trong ngày. Ông là cựu giáo viên vật lý tại Dover và là phụ huynh có con theo học tại Học khu Vùng Dover. Cả ông và vợ đều là nguyên đơn đồng thời từng tham gia giảng dạy Trường Kinh Thánh Kỳ nghỉ. Rehm làm chứng rằng Alan Bonsell (khi đó là chủ tịch ủy ban chương trình giảng dạy của hội đồng) đã yêu cầu các giáo viên xem một video về thiết kế thông minh có tựa đề Icons of Evolution. Các giáo viên đã bày tỏ lo ngại khi Bonsell không tin vào thuyết tiến hóa và mong muốn thấy các cuộc thảo luận trên lớp về thuyết tiến hóa được cân bằng "năm mươi-năm mươi" với thuyết sáng thế.
28 tháng 9
  • Robert T. Pennock là một triết gia và là tác giả của vô số sách cùng bài báo chỉ trích thiết kế thông minh. Vào thời điểm đó, ông đang làm việc cho dự án sinh vật kỹ thuật số Avida tại Đại học Tiểu bang Michigan với tư cách phó giáo sư. Ông làm chứng dưới vai trò nhân chứng chuyên môn.
  • Julie Smith, một phụ huynh và cũng là nguyên đơn trong vụ kiện, đã làm chứng rằng chính sách này đã tạo ra một môi trường thù địch cho con gái cô. Cô kể lại việc con gái mình bị quấy rối vì xuất thân Công giáo và thậm chí bị gọi là kẻ vô thần chỉ vì cô bé chấp nhận thuyết tiến hóa.
  • Christy Rehm làm chứng với tư cách là một phụ huynh và nguyên đơn.
  • Beth Eveland làm chứng.
  • Frederick Callahan làm chứng.
29 tháng 9
  • Carol Brown làm chứng.
  • Jeffrey Brown làm chứng.
30 tháng 9
  • John Haught là một nhà thần học Công giáo La Mã và khi đó đang giữ vị trí Giáo sư Thần học xuất sắc được tài trợ bởi quỹ Landegger tại Đại học Georgetown. Mối quan tâm giảng dạy và nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào các vấn đề khoa học và tôn giáo, vũ trụ học và thần học cũng như tôn giáo và sinh thái học.[19]
5–6 tháng 10

Trước khi cô ra làm chứng, TMLC đã đệ trình một kiến nghị nhằm loại cô khỏi danh sách nhân chứng chuyên môn. Trong bản kiến nghị đó, họ hạ thấp cô khi cho rằng cô "chỉ là một kẻ theo thuyết âm mưu và một 'kẻ theo dõi trên mạng' chuyên lướt web nhắm vào Viện Discovery."[23][24] Thẩm phán Jones đã bác bỏ kiến nghị này.

Forrest đưa ra lời chứng về lịch sử của phong trào thiết kế thông minh, trích dẫn các bài viết của những nhân vật nổi bật (chẳng hạn như "Tài liệu Nêm" của Viện Discovery, "Làm thế nào để chiến thắng trong cuộc tranh luận về Thuyết tiến hóa" của Phillip E. Johnson và các tác phẩm của William Dembski). Cô lập luận đanh thép rằng ID chỉ là một cái tên khác của phong trào thuyết sáng thế, một nỗ lực khoác lớp áo quan điểm khoa học lên một mệnh đề tôn giáo. Cô trích lời Johnson khi ông "coi thuyết tiến hóa là một mối đe dọa đối với toàn bộ Kinh Thánh và là mối đe dọa đối với nền tảng đạo đức của văn hóa Mỹ," đồng thời vạch trần mục tiêu tối thượng của phong trào này là thống nhất thế giới tôn giáo. Cô nhấn mạnh thêm rằng "hoàn toàn không có cách nào để dung hòa" bản tin của hội đồng nhà trường Dover (khẳng định thiết kế thông minh là một lý thuyết khoa học) với những tuyên bố của Paul Nelson trong bài phỏng vấn "Thước đo của Thiết kế".

Forrest lưu ý rằng cô không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào cho thấy các thành viên hội đồng nhà trường đã từng xem "Tài liệu Nêm" trước khi vụ kiện xảy ra.

Vài ngày trước khi cô dự kiến ra làm chứng, Viện Discovery đã công khai chế giễu cô trên trang web của họ.[25]

6 tháng 10
  • Jennifer Miller làm chứng.
  • Bertha Spahr làm chứng.
12 tháng 10
14 tháng 10
  • Steven Stough làm chứng.
  • Kevin Padian làm chứng.
  • Joel Lieb làm chứng.

Nhân chứng của bên bị đơn

17–19 tháng 10

Là nhân chứng chủ chốt của bên bị đơn, Behe được yêu cầu chứng minh thiết kế thông minh là một môn khoa học hợp pháp. Tuy nhiên, những người chỉ trích ông đã vạch ra hàng loạt sơ hở trong quá trình chất vấn chéo. Tại đây, ông buộc phải thừa nhận rằng: "Không hề có bất kỳ bài báo nào được bình duyệt bởi những người ủng hộ thiết kế thông minh có kèm theo các thí nghiệm hoặc tính toán xác đáng nhằm cung cấp những giải thích chi tiết và chặt chẽ về cách thức thiết kế thông minh xảy ra ở bất kỳ hệ thống sinh học nào."[27]

Khi trả lời một câu hỏi về chiêm tinh học, ông giải thích: "Theo định nghĩa của tôi, một lý thuyết khoa học là một lời giải thích được đề xuất tập trung hoặc chỉ ra dữ liệu vật lý, có thể quan sát được và những suy luận logic. Xuyên suốt lịch sử khoa học, có rất nhiều thứ mà ngày nay chúng ta cho là sai nhưng... vẫn phù hợp với định nghĩa đó. Đúng vậy, chiêm tinh học thực chất là một trong số đó, tương tự như thuyết ête về sự lan truyền của ánh sáng và... nhiều lý thuyết khác nữa."[28]

Dưới lời tuyên thệ, ông thừa nhận rằng mô hình mô phỏng quá trình tiến hóa do ông và David Snoke thực hiện (được công bố trong một bài báo năm 2004) cho thấy các hệ thống hóa sinh được mô tả có thể tiến hóa trong vòng 20.000 năm, ngay cả khi các thông số của mô phỏng đã bị thao túng để khiến kết quả đó khó xảy ra nhất có thể.[29][30]

20–21 tháng 10
  • Richard Nilsen làm chứng.
21, 28 tháng 10 và 3 tháng 11
  • Michael Richard Baksa làm chứng. Ông là Trợ lý Giám thị của Học khu Vùng Dover. Trong một email phản hồi khiếu nại của giáo viên môn xã hội học Brad Neal, Baksa đã nhắc đến cuốn The Myth of Separation của tác giả David Barton. Baksa nhận được cuốn sách này từ Giám thị Richard Nilsen, người trước đó được thành viên hội đồng Alan Bonsell trao lại. Cuốn sách này gọi sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước là "vớ vẩn". Baksa cũng thảo luận về những nỗ lực thay đổi bản tuyên bố. Các giáo viên đề nghị thêm câu "Thuyết tiến hóa của Darwin tiếp tục là lời giải thích khoa học thống trị về nguồn gốc các loài", nhưng hội đồng đã loại bỏ đề xuất này. Các giáo viên cũng khuyên nên sửa thành "Vì thuyết của Darwin là một lý thuyết nên có một lượng lớn bằng chứng ủng hộ lý thuyết này, mặc dù nó vẫn đang được thử nghiệm mỗi khi các bằng chứng mới được khám phá ra". Do tin rằng hội đồng sẽ gạt bỏ điều này, Baksa đã tự ý xóa cụm từ "lượng lớn bằng chứng".
24 tháng 10
  • Steve Fuller là giáo sư xã hội học tại Đại học Warwick ở Anh đồng thời là tác giả của nhiều cuốn sách về nhận thức luận xã hội và nghiên cứu khoa học, công nghệ.[31] Lời chứng của ông về cơ bản nỗ lực đưa ra một lời bào chữa có điều kiện cho vị thế khoa học của thiết kế thông minh. Ông lập luận rằng lịch sử của nó có thể bắt nguồn từ Newton và nên bao gồm cả những bộ óc vĩ đại của sinh học hiện đại như Linnaeus cùng Mendel. Ông cũng nhấn mạnh sự khác biệt từ triết học khoa học giữa "bối cảnh khám phá" (điều gì thúc đẩy một nhà khoa học) và "bối cảnh biện minh" (cách đánh giá lý thuyết của nhà khoa học) nhằm giảm nhẹ nguồn gốc tôn giáo không thể chối cãi của thiết kế thông minh. Fuller gây ấn tượng khi kêu gọi một chương trình "hành động khẳng định" dành cho thiết kế thông minh. Dù vậy, điều này không giành được nhiều thiện cảm từ Thẩm phán Jones trong phán quyết cuối cùng. Các luật sư của cả nguyên đơn lẫn bị đơn đều trích dẫn lời chứng của Fuller trong các bản tuyên bố bế mạc của họ.

Nhân chứng của bên nguyên đơn (được gọi không theo thứ tự)

27 tháng 10
  • William Buckingham làm chứng và bị phán quyết là một nhân chứng thù địch.
28 tháng 10
  • Heidi Bernhard-Bubb làm chứng.
  • Joseph Maldonado làm chứng.

Nhân chứng của bên bị đơn

28 tháng 10
  • Heather Geesey làm chứng.
31 tháng 10
  • Jane Cleaver làm chứng.
  • Alan Bonsell làm chứng. Lời khai ban đầu của ông bao gồm khẳng định rằng ông không hề biết số tiền dùng để quyên góp 60 bản cuốn Of Pandas and People cho thư viện trường học được huy động từ đâu. Khi nghe tin số tiền này thực chất được huy động tại nhà thờ của William Buckingham và chuyển qua tay cha của Bonsell để có thể quyên góp ẩn danh, Thẩm phán Jones đã quyết định tự mình đứng ra thẩm vấn Bonsell và tra hỏi ông trong khoảng mười phút.
3 tháng 11
  • Robert Linker làm chứng.
  • Scott Minnich làm chứng.

Tuyên bố bế mạc

Các luật sư trình bày tuyên bố bế mạc vào ngày 4 tháng 11 năm 2005. Sau khi hoàn tất phần này, luật sư Gillen đã hỏi Thẩm phán Jones: "Theo tính toán của tôi, đây là ngày thứ 40 kể từ khi phiên tòa bắt đầu và đêm nay sẽ là đêm thứ 40, tôi muốn biết liệu ngài có cố ý sắp xếp như vậy không." (40 ngày và 40 đêm là khoảng thời gian diễn ra trận Đại hồng thủy trong Kinh thánh). Thẩm phán Jones đáp lại: "Ông Gillen, đó là một sự trùng hợp thú vị nhưng không phải là do thiết kế đâu."[32] Cuộc trao đổi hài hước này đã tạo nguồn cảm hứng cho tựa đề cuốn sách xuất bản năm 2007 của tác giả Matthew Chapman viết về phiên tòa, mang tên 40 Days and 40 Nights.[33]

Quyết định

Vào ngày 20 tháng 12 năm 2005, Thẩm phán Jones đã đưa ra phán quyết nghiêng về phía các nguyên đơn và công bố một bản quyết định dài 139 trang. Trong đó ông viết:

  • Vì những lý do sau đây, chúng tôi kết luận rằng bản chất tôn giáo của ID [thiết kế thông minh] sẽ bộc lộ rõ ràng trước một người quan sát khách quan, dù là người lớn hay trẻ em.
  • Một khía cạnh đáng chú ý của IDM [phong trào thiết kế thông minh] là bất chấp những lời phản đối từ bên bị, phong trào này vẫn miêu tả ID như một lập luận tôn giáo. Theo mạch suy nghĩ đó, các bài viết của những người tiên phong ủng hộ ID tiết lộ rằng nhà thiết kế được định ra bởi lập luận của họ chính là Chúa của Cơ đốc giáo.
  • Các bằng chứng tại phiên tòa chứng minh rằng ID không gì khác chính là hậu duệ của thuyết sáng thế.
  • Vô số bằng chứng tại phiên tòa đã xác lập rằng ID là một quan điểm tôn giáo, đơn thuần chỉ là việc dán nhãn lại cho thuyết sáng thế và hoàn toàn không phải là một lý thuyết khoa học.
  • Xuyên suốt phiên tòa và trong nhiều văn bản đệ trình lên Tòa án, bên bị đơn tranh luận kịch liệt rằng việc đọc bản tuyên bố không phải là "giảng dạy" ID mà đơn thuần chỉ là "giúp học sinh nhận thức được nó". Thực tế, có một điểm nhất quán trong lời khai của các thành viên Hội đồng Nhà trường Dover, vốn chứa đầy những ký ức chọn lọc và hành vi nói dối trắng trợn dưới lời tuyên thệ, như sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở phần dưới, đó là họ không nghĩ mình cần phải am hiểu về ID vì nó không được đem ra giảng dạy cho học sinh. Chúng tôi không đồng tình... một nhà giáo dục khi đọc bản tuyên bố từ chối trách nhiệm chính là đang tham gia vào công tác giảng dạy, ngay cả khi đó là một cách giảng dạy tệ hại khủng khiếp... Lập luận của bên bị đơn chỉ là một dạng đánh lạc hướng vì Điều khoản Thiết lập không chỉ cấm "giảng dạy" tôn giáo mà còn cấm mọi hành động của chính quyền mang tính tán thành hoặc có mục đích hay hệ quả chính là thúc đẩy tôn giáo. (chú thích 7)
  • Sau quá trình xem xét kỹ lưỡng hồ sơ và các án lệ có thể áp dụng, chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù các lập luận của ID có thể đúng, một mệnh đề mà Tòa án không đưa ra lập trường, ID hoàn toàn không phải là khoa học. Chúng tôi nhận thấy ID thất bại ở ba cấp độ khác nhau, mà bất kỳ cấp độ nào cũng đủ để gạt bỏ quan điểm cho rằng ID là khoa học. Đó là: (1) ID vi phạm các quy tắc nền tảng hàng thế kỷ của khoa học khi viện dẫn và cho phép các nguyên nhân siêu nhiên can thiệp; (2) lập luận về sự phức tạp không thể đơn giản hóa (trọng tâm của ID) sử dụng chính thuyết nhị nguyên khiên cưỡng, đầy sai sót và phi logic từng kết liễu khoa học sáng tạo vào thập niên 1980; và (3) những đòn công kích tiêu cực của ID nhắm vào thuyết tiến hóa đã bị cộng đồng khoa học bác bỏ... Ngoài ra, cần lưu ý quan trọng rằng ID đã thất bại trong việc giành được sự chấp nhận từ cộng đồng khoa học, không tạo ra được các ấn phẩm bình duyệt cũng như không trở thành chủ đề cho các cuộc thử nghiệm và nghiên cứu. Lời chứng của chuyên gia tiết lộ rằng kể từ cuộc cách mạng khoa học vào thế kỷ 16 và 17, khoa học đã bị giới hạn ở việc tìm kiếm các nguyên nhân tự nhiên để giải thích những hiện tượng tự nhiên. [về "thuyết nhị nguyên khiên cưỡng", hãy xem tình thế tiến thoái lưỡng nan sai lầm.]
  • Cuốn sách giáo khoa duy nhất [Pandas] mà Chính sách ID của Dover hướng học sinh đọc chứa đựng những khái niệm lỗi thời và khoa học sai sót, điều mà ngay cả các chuyên gia bên bị trong vụ án này cũng phải công nhận.
  • Những người hậu thuẫn ID đã tìm cách trốn tránh sự giám sát khoa học, thứ mà giờ đây chúng tôi xác định là nó không thể chống đỡ nổi bằng cách biện hộ rằng nên đem "cuộc tranh cãi" ra giảng dạy trong lớp khoa học chứ không phải bản thân ID. Chiến thuật này nói nhẹ thì là thiếu thành thật, còn nói nặng thì là một trò lừa bịp. Mục tiêu của phong trào thiết kế thông minh không phải là khuyến khích tư duy phản biện mà là xúi giục một cuộc cách mạng nhằm lật đổ thuyết tiến hóa để thay thế bằng ID.
  • Theo đó, chúng tôi nhận thấy các mục đích thế tục mà Hội đồng tuyên bố thực chất chỉ là một cái cớ che đậy mục đích thực sự của họ. Đó chính là việc thúc đẩy tôn giáo trong lớp học trường công, vi phạm Điều khoản Thiết lập.
 
Thẩm phán John E. Jones III đã ban hành phán quyết trong vụ án này

Trong phần Kết luận, ông viết:

  • Việc áp dụng thích đáng cả bài kiểm tra sự tán thành lẫn bài kiểm tra Lemon vào các dữ kiện của vụ án này đã làm rõ một điều rành rành rằng Chính sách ID của Hội đồng vi phạm Điều khoản Thiết lập. Trong quá trình đưa ra quyết định này, chúng tôi đã giải quyết câu hỏi trọng tâm: liệu ID có phải là khoa học hay không. Chúng tôi kết luận là không, và hơn nữa, ID không thể tách rời khỏi cội nguồn thuyết sáng thế, và do đó, mang bản chất tôn giáo. [...]
  • Các công dân thuộc khu vực Dover đã bị phục vụ một cách tồi tệ bởi những thành viên Hội đồng từng bỏ phiếu cho Chính sách ID. Thật mỉa mai khi một số cá nhân trong nhóm này, những người từng kiên định và tự hào rao giảng về niềm tin tôn giáo của mình trước công chúng, lại liên tục nói dối để xóa dấu vết và che đậy mục đích thực sự đằng sau Chính sách ID. Nói như vậy, chúng tôi không hề nghi ngờ việc nhiều người tiên phong ủng hộ ID sở hữu những niềm tin chân thành và sâu sắc thúc đẩy nỗ lực học thuật của họ. Chúng tôi cũng không phản bác việc ID nên tiếp tục được nghiên cứu, tranh luận và thảo luận. Như đã nêu, kết luận của chúng tôi ngày hôm nay là: việc giảng dạy ID như một giải pháp thay thế cho thuyết tiến hóa trong lớp khoa học trường công là vi hiến.

Phản hồi

Thẩm phán Jones dự đoán trước rằng phán quyết của mình sẽ vấp phải nhiều chỉ trích. Trong bản quyết định, ông viết:

Những người không đồng tình với phán quyết của chúng tôi rất có thể sẽ coi đây là sản phẩm của một vị thẩm phán hoạt động chính trị. Nếu vậy, họ đã nhầm to vì đây rõ ràng không phải là một Tòa án thiên vị chính trị. Trái lại, vụ án này được đưa ra trước chúng tôi như một hệ quả từ hành động của một phe phái thiếu hiểu biết trong hội đồng nhà trường dưới sự hậu thuẫn của một công ty luật lợi ích công cộng quốc gia đang khao khát tìm kiếm một vụ án thử nghiệm hiến pháp về ID. Sự kết hợp này đã thúc đẩy Hội đồng thông qua một chính sách khinh suất và cuối cùng là vi hiến. Sự ngớ ngẩn đến kinh ngạc trong quyết định của Hội đồng càng hiện rõ khi đặt cạnh bối cảnh thực tế đã được phơi bày toàn bộ qua phiên tòa này. Các học sinh, phụ huynh và giáo viên của Học khu Vùng Dover xứng đáng nhận được những điều tốt đẹp hơn thay vì bị lôi vào vòng xoáy pháp lý này cùng với sự lãng phí hoàn toàn về tiền bạc lẫn nguồn lực cá nhân.

Đúng như dự đoán của Thẩm phán Jones, phó giám đốc Trung tâm Khoa học và Văn hóa thuộc Viện Discovery John G. West đã đưa ra tuyên bố vào ngày 20 tháng 12 năm 2005:

Quyết định tại Dover là nỗ lực của một thẩm phán liên bang hoạt động chính trị nhằm ngăn chặn sự lan truyền của một ý tưởng khoa học. Thậm chí ông ta còn cố gắng ngăn cấm việc chỉ trích thuyết tiến hóa Darwin thông qua cơ chế kiểm duyệt do chính phủ áp đặt thay vì tổ chức một cuộc tranh luận cởi mở. Nhưng điều đó sẽ không thành công. Ông ta đã đánh đồng lập trường của Viện Discovery với lập trường của hội đồng nhà trường Dover. Đồng thời, ông ta hoàn toàn xuyên tạc thiết kế thông minh cũng như động cơ của các nhà khoa học nghiên cứu về nó.[34]

Các tờ báo bình luận rằng vị thẩm phán này là "một đảng viên Đảng Cộng hòa và là người thường xuyên đi nhà thờ".[35][36][37][38] Trong những tháng sau phán quyết, Thẩm phán Jones nhận được vô số thư từ. Những bức thư này chứa cả những lời đe dọa nhắm vào ông và gia đình nghiêm trọng đến mức cần có sự bảo vệ 24/24 của lực lượng Cảnh sát Tư pháp Hoa Kỳ.[39]

Dàn xếp án phí

Cuộc bầu cử vào tháng 11 năm 2005 đã mang lại thất bại ê chề cho các thành viên hội đồng nhà trường từng bảo vệ chính sách ID. Vào ngày 3 tháng 1 năm 2006, Hội đồng Học khu Vùng Dover mới đắc cử đã nhất trí hủy bỏ chính sách này.[40]

Vào ngày 21 tháng 2 năm 2006, hội đồng nhà trường đã bỏ phiếu nhất trí với duy nhất một phiếu trắng về việc thanh toán 1.000.011 USD tiền án phí và tiền bồi thường thiệt hại cho các phụ huynh cùng luật sư của họ theo phán quyết của vụ án. Đây là một số tiền khổng lồ đối với một học khu nhỏ. Hội đồng nhà trường trước đó từng nhận được cơ hội hủy bỏ chính sách và tránh phải trả án phí ngay sau khi vụ kiện được đệ trình vào năm 2004 nhưng họ đã từ chối. Pepper Hamilton (công ty luật sư đại diện cho các phụ huynh) tuyên bố hồ sơ tòa án sẽ chứng minh họ có quyền nhận được hơn 2 triệu USD. Tuy nhiên, họ quyết định chấp nhận số tiền chưa tới một nửa vì nhận thấy quy mô nhỏ của học khu và vì hội đồng nhà trường từng bỏ phiếu cho chính sách này đã bị phế truất. Điều này khiến hội đồng nhà trường mới phải "gánh chịu hóa đơn rơi thẳng vào đầu". Trung tâm Luật Thomas More đã bào chữa miễn phí cho hội đồng nhà trường tiền nhiệm.[41] Richard Katskee, trợ lý giám đốc pháp lý của tổ chức Người Mỹ Đoàn kết vì Sự tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước, đã nhận xét về chi phí của phiên tòa: "Bất kỳ hội đồng nào có ý định làm những gì hội đồng Dover đã làm sẽ phải chuẩn bị tinh thần đối mặt với một hóa đơn vượt quá 2 triệu USD" và "Tôi nghĩ 2 triệu USD là một con số quá lớn để giải thích cho những người nộp thuế về một vụ kiện lẽ ra không bao giờ nên xảy ra."[42]

Các hành vi khai man và lừa dối tiềm ẩn

Sau phiên tòa, nhiều người đã lên tiếng kêu gọi đưa các bị đơn ra xét xử vì tội khai man. Nguyên nhân là họ bị cáo buộc đã không trình bày vụ án một cách trung thực. Thẩm phán Jones viết: "Các nhân chứng đã làm chứng không nhất quán hoặc nói dối trắng trợn dưới lời tuyên thệ trong nhiều trường hợp. Sự thật không thể trốn tránh là cả [Alan] Bonsell và [William] Buckingham đều đã nói dối tại các buổi lấy lời khai vào ngày 3 tháng 1 năm 2005... Bonsell đã liên tục thất bại trong việc làm chứng một cách trung thực... Các bị đơn đã không ngừng nỗ lực trong vô vọng nhằm tách bản thân khỏi những hành động và lời nói của chính họ. Hệ quả là những lời khai dối trá lặp đi lặp lại." Một bài xã luận trên tờ York Daily Record mô tả hành vi của họ là vừa mỉa mai vừa tội lỗi khi khẳng định rằng "những nhà thiết kế thiếu thông minh của thảm họa này không nên bình yên vô sự bước đi".[43] Thẩm phán Jones đã kiến nghị văn phòng Luật sư Hoa Kỳ tiến hành điều tra các thành viên hội đồng nhà trường về tội khai man.[44]

Các hành vi khai man tiềm ẩn cụ thể

  • Các bị đơn khẳng định họ đang trình bày một lý thuyết khoa học thay thế chứ không thúc đẩy tôn giáo. Những ý đồ mang tính Thuyết sáng thế của Hội đồng Nhà trường Dover được nêu chi tiết trên trang web dành cho cuốn sách The Devil in Dover của tác giả Lauri Lebo. Thế nhưng trong suốt phiên tòa, Bill Buckingham lại quả quyết: "... chúng tôi nói 'thiết kế thông minh' và họ in thành 'thuyết sáng thế'. Chuyện đó diễn ra suốt". Cách nói này diễn ra bất chấp việc các nguyên đơn đã trình chiếu đoạn video cho thấy ông đang lên tiếng ủng hộ thuyết sáng thế.[45][46]
  • Of Pandas and People
  1. Giám thị Học khu Dover từng thông báo về một khoản quyên góp sách ẩn danh gồm 60 bản cuốn Of Pandas and People. Khi bị công chúng thúc ép, Hội đồng đáp lại rằng những người quyên góp muốn ẩn danh.[47]
  2. Trong buổi lấy lời khai vào tháng 1 năm 2005, Buckingham đã phủ nhận việc biết rõ nguồn gốc của số sách quyên góp.
  3. Trong phiên tòa, luật sư bên nguyên đơn Steve Harvey đã đưa ra một tấm séc đề ngày 4 tháng 10 năm 2004 trị giá 850 USD do thành viên hội đồng Buckingham ký. Tấm séc này có dòng ghi chú "dành cho Pandas and People" gửi cho Donald Bonsell (cha của chủ tịch hội đồng nhà trường Alan Bonsell). Buckingham đã đưa tấm séc cho Alan Bonsell. Sau đó Alan đưa nó cho cha mình để ông "nhận tiền dưới gầm bàn" (theo lời Alan Bonsell) và đi mua sách.[48] Số tiền này đến từ các khoản quyên góp của giáo dân tại nhà thờ của Buckingham sau khi ông đứng lên tuyên bố hội đồng đang cần nó. Trong quá trình lấy lời khai, Bonsell cũng phủ nhận việc biết rõ số sách đó đến từ đâu.[49]
  • Michael Behe đã làm chứng vào buổi sáng ngày 17 tháng 10 năm 2005 (ngày thứ 10 của phiên tòa) rằng "... Thiết kế thông minh là một lý thuyết khoa học."[50] Nhưng trong phiên chất vấn chéo vào chiều ngày 18 tháng 10 năm 2005, Behe lại nói rằng định nghĩa của ông về một lý thuyết khoa học hoàn toàn khác với định nghĩa được công nhận. Định nghĩa này sẽ cho phép cả thuyết ête về ánh sáng (ý tưởng về ête mang ánh sáng) vốn đã bị bác bỏ từ lâu và chiêm tinh học được phân loại là các lý thuyết khoa học.[51] Vì định nghĩa chuẩn mực của một lý thuyết khoa học bao gồm "... một lời giải thích được chứng minh rõ ràng...", định nghĩa cá nhân của Behe sẽ tạo lỗ hổng cho các ý tưởng đã bị bác bỏ được coi là lý thuyết khoa học. Trong khi đó, định nghĩa chuẩn mực không cho phép điều này. Behe đã bảo vệ phiên bản định nghĩa lý thuyết khoa học của mình khi khẳng định đây là một định nghĩa thường được các nhà khoa học sử dụng. Những nhà khoa học này là ai và họ sử dụng định nghĩa của Behe ở đâu vẫn chưa được làm rõ. Thế nhưng người sử dụng lao động của Behe là Đại học Lehigh đã tuyên bố sự ủng hộ dứt khoát của ban giảng huấn khoa đối với thuyết tiến hóa trong một tuyên ngôn không ghi ngày tháng. Tuyên ngôn này nêu rõ: "... Quan điểm chung của chúng tôi là thiết kế thông minh không có cơ sở khoa học..."[52]
  • Các khẳng định về Tiên mao vi khuẩn
  1. Nói một cách nhẹ nhàng nhất, Behe đã tham gia vào trò trích dẫn ngoài ngữ cảnh đối với tiên mao vi khuẩn. Trong lời khai vào buổi sáng ngày 17 tháng 10 năm 2005 (Ngày 10), khi được hỏi "Liệu các nhà khoa học khác có công nhận những đặc điểm thiết kế này của tiên mao không?", Behe đã viện dẫn một bài báo năm 1998 trên tạp chí Cell của giáo sư David J. DeRosier thuộc Đại học Brandeis mang tên The Turn of the Screw, The Bacterial Flagellar Motor. Behe mượn tuyên bố của Derosier rằng tiên mao vi khuẩn trông giống như được thiết kế rồi bỏ lửng ở đó.[53]
  2. Ông đã cố tình bỏ qua một chi tiết (như Derosier từng chỉ ra trong bộ phim tài liệu Nova) là Derosier viết tiên mao vi khuẩn trông giống như được thiết kế bởi một con người. Derosier còn bổ sung thêm rằng trên thực tế, các bằng chứng đều hướng đến quá trình tiến hóa.[54] Chi tiết này không được nêu rõ trong bài báo. Dù vậy, do Derosier nổi tiếng là người ủng hộ thuyết tiến hóa nên đáng lý ra Behe phải biết rõ (vì ông đang trích dẫn Derosier như thể đồng tình) rằng Derosier hoàn toàn bất đồng với ông trong việc liệu tiên mao vi khuẩn hướng đến thuyết tiến hóa hay Thiết kế thông minh.[55]

Phân tích và chỉ trích

Tạp chí University of Montana Law Review đã xuất bản ba bài báo đề cập đến chủ đề này trong số ra mùa đông năm 2007.[56] Các thành viên cấp cao hoặc cán bộ của Viện Discovery là David K. DeWolf, John G. West và Casey Luskin đã lập luận rằng thiết kế thông minh là một lý thuyết khoa học hợp lệ. Họ cho rằng tòa án của Thẩm phán Jones lẽ ra không nên giải quyết câu hỏi liệu đó có phải là một lý thuyết khoa học hay không. Cuối cùng, họ khẳng định quyết định này sẽ không ảnh hưởng đến sự phát triển và việc áp dụng thiết kế thông minh như một giải pháp thay thế cho lý thuyết tiến hóa tiêu chuẩn.[57] Peter Irons đã phản hồi bài báo của nhóm DeWolf. Ông lập luận rằng phán quyết này cực kỳ có lý và nó đánh dấu chấm hết cho những nỗ lực pháp lý của phong trào thiết kế thông minh nhằm đưa thuyết sáng thế vào các trường công lập. Việc xem xét ID có phải là một lý thuyết khoa học hợp pháp như những người ủng hộ nó vẫn luôn khẳng định hay không là một phần thiết yếu của phán quyết. Nhóm của DeWolf đã ngầm công nhận điều này khi viện dẫn bài kiểm tra Lemon. Bài kiểm tra này sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu ID là khoa học hợp pháp.[11] Nhóm của DeWolf đã đưa ra lời phản hồi đối với bài báo của Irons trong cùng một số tạp chí.[58]

Phim tài liệu

  • A War on Science, một bộ phim tài liệu truyền hình dài 49 phút thuộc chương trình Horizon của BBC nói về thiết kế thông minh, bao gồm cả cuộc chiến pháp lý Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover.[59] Bộ phim nổi bật với sự góp mặt của giáo sư kiêm nhà sinh học Richard Dawkins thuộc Đại học Oxford. Tác phẩm được phát sóng lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 1 năm 2006.[60] Những người ủng hộ và quảng bá thiết kế thông minh bao gồm Phillip E. Johnson, Michael Behe, Stephen C. Meyer và William A. Dembski cũng xuất hiện trong bộ phim tài liệu này.
  • Judgment Day: Intelligent Design on Trial, một bộ phim tài liệu truyền hình thuộc chương trình NOVA của mạng lưới Public Broadcasting Service lên sóng vào tháng 11 năm 2007. Phim bao gồm các cuộc phỏng vấn với Thẩm phán Jones, nhân chứng và luật sư cùng những cảnh tái hiện lại quá trình tố tụng. Sở dĩ có cảnh tái hiện vì các tòa án không cho phép mang máy quay vào phòng xử án.[61]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Kitzmiller v. Dover Area School District, 400 F. Supp. 2d 707 (M.D. Pa. 2005).
  2. ^ "Kitzmiller v. Dover: Intelligent Design on Trial" [Kitzmiller kiện Dover: Thiết kế thông minh bị đưa ra xét xử] (bằng tiếng Anh). National Center for Science Education. ngày 17 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2011.
  3. ^ a b c Powell, Michael (ngày 21 tháng 12 năm 2005). "Judge Rules Against 'Intelligent Design'" [Thẩm phán ra phán quyết chống lại 'Thiết kế thông minh']. The Washington Post (bằng tiếng Anh). The Pew Forum on Religion & Public Life.
  4. ^ Vào ngày 18 tháng 10 năm 2004, Hội đồng đã thông qua một nghị quyết sửa đổi chương trình giảng dạy sinh học với tỷ lệ bỏ phiếu 6–3 như sau:
    Học sinh sẽ được biết về những lỗ hổng/vấn đề trong thuyết của Darwin cùng các thuyết tiến hóa khác bao gồm nhưng không giới hạn ở thiết kế thông minh. Lưu ý: Nguồn gốc Sự sống không được đưa vào giảng dạy.
    Ngoài ra, nghị quyết của Hội đồng nêu rõ rằng chủ đề này phải được đề cập dưới dạng bài giảng với cuốn Pandas đóng vai trò là sách tham khảo.
    tr. 117, Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover, Ý kiến Bản ghi nhớ, ngày 20 tháng 12 năm 2005
  5. ^ Argento, Mike (ngày 20 tháng 10 năm 2005). "Of Behe and mammary glands" [Về Behe và tuyến vú]. York Daily Record (bằng tiếng Anh).
  6. ^ Curran, Erin (ngày 29 tháng 11 năm 2006). "Attorney from first national case on intelligent design to speak to SU" [Luật sư từ vụ án quốc gia đầu tiên về thiết kế thông minh sẽ phát biểu tại SU]. The Daily Orange (bằng tiếng Anh).
  7. ^ Sau khi thay đổi chương trình giảng dạy, hội đồng nhà trường đã chuẩn bị một bản tuyên bố gồm chín câu (bốn đoạn văn). Ở hình thức cuối cùng, văn bản này khẳng định "Thuyết của Darwin không phải là một sự thật" và nói rằng "Thiết kế thông minh là một lời giải thích về nguồn gốc sự sống khác với quan điểm của Darwin. Sách tham khảo Of Pandas and People có sẵn cho những học sinh muốn tìm hiểu xem Thiết kế thông minh thực sự bao gồm những gì."
    tr. 126–128, Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover, Ý kiến Bản ghi nhớ, ngày 20 tháng 12 năm 2005
  8. ^ "Memorandum and Order" [Bản ghi nhớ và Lệnh] (PDF). Kitzmiller v. Dover Area School District (bằng tiếng Anh). Tòa án Quận Hoa Kỳ thuộc Quận Trung tâm Pennsylvania. ngày 27 tháng 7 năm 2005.
  9. ^ Johnson, Norman L. (2007). Darwinian detectives: revealing the natural history of genes and genomes [Những thám tử Darwin: tiết lộ lịch sử tự nhiên của gen và hệ gen] (bằng tiếng Anh). Oxford [Oxfordshire]: Oxford University Press. tr. 19. ISBN 978-0-19-530675-0.
    "Kitzmiller, et al v. Dover School District, et al" [Kitzmiller, và những người khác kiện Học khu Vùng Dover, và những người khác.] (bằng tiếng Anh). the U.S. District Court for the Middle District of Pennsylvania. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2009.
  10. ^ Kitzmiller v. Dover Area School District, [1] (United States District Court for the Middle District of Pennsylvania December 20, 2005).
  11. ^ a b Irons, Peter (2007). "Disaster in Dover: The Trials (and Tribulations) of Intelligent Design" [Thảm họa ở Dover: Những phiên tòa (và Nỗi khổ) của Thiết kế thông minh] (PDF). University of Montana Law Review (bằng tiếng Anh). 68 (1). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "DID" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  12. ^ Vào ngày 18 tháng 10 năm 2004, Hội đồng đã thông qua một nghị quyết sửa đổi chương trình giảng dạy sinh học với tỷ lệ bỏ phiếu 6–3 như sau: Học sinh sẽ được biết về những lỗ hổng/vấn đề trong thuyết của Darwin cùng các thuyết tiến hóa khác bao gồm nhưng không giới hạn ở thiết kế thông minh. Lưu ý: Nguồn gốc Sự sống không được đưa vào giảng dạy. Ngoài ra, nghị quyết của Hội đồng nêu rõ rằng chủ đề này phải được đề cập dưới dạng bài giảng với cuốn Pandas đóng vai trò là sách tham khảo. tr. 117, Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover, Ý kiến Bản ghi nhớ, ngày 20 tháng 12 năm 2005
  13. ^ tr. 43–46, Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover, Ý kiến Bản ghi nhớ, ngày 20 tháng 12 năm 2005
  14. ^ "Discovery Institute and Thomas More Law Center Squabble in AEI Forum" [Viện Discovery và Trung tâm Luật Thomas More Cãi vã trong Diễn đàn AEI] (bằng tiếng Anh). National Center for Science Education. ngày 23 tháng 10 năm 2005.
  15. ^ Postman, David (ngày 26 tháng 4 năm 2006). "Seattle's Discovery Institute scrambling to rebound after intelligent-design ruling" [Viện Discovery ở Seattle nỗ lực phục hồi sau phán quyết về thiết kế thông minh]. The Seattle Times (bằng tiếng Anh).
  16. ^ "Intelligent Design Board Ousted" [Hội đồng Thiết kế thông minh bị lật đổ]. CBS News (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2022.
  17. ^ "The York Daily Record - News - YDR" [The York Daily Record - Tin tức - YDR] (bằng tiếng Anh). Replay.waybackmachine.org. ngày 30 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  18. ^ "Oral Argument" [Lập luận bằng lời]. Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover (bằng tiếng Anh). Tòa án Quận Hoa Kỳ thuộc Quận Trung tâm Pennsylvania. ngày 14 tháng 7 năm 2005. tr. 99. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2009.
  19. ^ "John F. Haught" [John F. Haught]. Georgetown University Theology Department (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019.
  20. ^ "Kitzmiller v. Dover Area School District: Trial transcript, day 6 (October 5), AM Session, Part 1" [Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover: Biên bản phiên tòa, ngày 6 (ngày 5 tháng 10), Phiên sáng, Phần 1]. The TalkOrigins Archive (bằng tiếng Anh).
  21. ^ "Barbara Forrest Supplement to Expert Witness Report" [Phần bổ sung Báo cáo Nhân chứng Chuyên môn của Barbara Forrest] (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  22. ^ "Expert Witness Report, Barbara Forrest, Ph.D. Professor of Philosophy, Southeastern Louisiana University" [Báo cáo Nhân chứng Chuyên môn, Barbara Forrest, Tiến sĩ Giáo sư Triết học, Đại học Đông Nam Louisiana]. National Center for Science Education (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 4 năm 2005.
  23. ^ "Motion in limine to exclude Forrest" [Kiến nghị loại trừ Forrest]. National Center for Science Education (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  24. ^ "Brief supporting motion in limine to exclude Forrest" [Tóm tắt hỗ trợ kiến nghị loại trừ Forrest]. National Center for Science Education (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  25. ^ "The "Vise Strategy" Undone: Barbara Forrest" ["Chiến lược Mỏ lết" Bị phá vỡ: Barbara Forrest]. Skeptical Inquirer (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 7 năm 2006.
  26. ^ "Lehigh University Department of Biological Sciences" [Khoa Khoa học Sinh học Đại học Lehigh] (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  27. ^ "Kitzmiller v. Dover Area School District Trial transcript: Day 12 (October 19), AM Session, Part 1" [Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover Biên bản phiên tòa: Ngày 12 (19 tháng 10), Phiên Sáng, Phần 1]. The TalkOrigins Archive (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  28. ^ Cuộc chất vấn chéo Behe trong biên bản chính thức của tòa án, tr.38–39.
  29. ^ s:Kitzmiller v. Dover Area School District/4:Whether ID Is Science#Page 88 of 139
  30. ^ "Kitzmiller v. Dover Area School District Testimony" [Lời chứng trong vụ Kitzmiller kiện Học khu Vùng Dover]. The TalkOrigins Archive (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  31. ^ "Steve William Fuller: Curriculum Vitae" [Steve William Fuller: Sơ yếu lý lịch]. University of Warwick (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  32. ^ "Transcript Day 21 PM" [Biên bản Ngày 21 Phiên Chiều] (PDF) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  33. ^ Đánh giá: Darwin tại Tòa án, Richard Milner, Natural History Magazine, Tháng 6 năm 2007
  34. ^ Robert Crowther (ngày 20 tháng 12 năm 2005). "Dover Intelligent Design Decision Criticized as a Futile Attempt to Censor Science Education" [Quyết định Thiết kế thông minh tại Dover bị chỉ trích là nỗ lực vô ích nhằm kiểm duyệt giáo dục khoa học]. Evolution News & Views (bằng tiếng Anh). Discovery Institute.
  35. ^ "Judge rules against 'intelligent design'" [Thẩm phán ra phán quyết chống lại 'thiết kế thông minh'] (bằng tiếng Anh). NBC News.
  36. ^ Matthew Provonsha. "Godless: The Church of Liberalism a book review" [Đánh giá cuốn sách Godless: The Church of Liberalism]. eSkeptic (bằng tiếng Anh).
  37. ^ Kevin Padian and Nick Matzke (ngày 17 tháng 10 năm 2008). "Discovery Institute tries to "swift-boat" Judge Jones" [Viện Discovery cố gắng "bôi nhọ" Thẩm phán Jones] (bằng tiếng Anh). National Center for Science Education.
  38. ^ "Dallas Morning News | News for Dallas, Texas | Latest News" [Tin tức buổi sáng Dallas | Tin tức cho Dallas, Texas | Tin tức mới nhất] (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 12 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2009.
  39. ^ Simmons, Michelle (ngày 5 tháng 11 năm 2014). "Independent From the Ground Up" [Độc lập từ Nền tảng]. Dickinson College (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2018.
  40. ^ "Dover school board rescinds 'intelligent design' policy" [Hội đồng nhà trường Dover hủy bỏ chính sách 'thiết kế thông minh']. Deseret News (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2022.
  41. ^ Kauffman, Christina (ngày 22 tháng 2 năm 2006). "Dover gets a million-dollar bill" [Dover nhận hóa đơn trị giá hàng triệu đô la] (bằng tiếng Anh). York Dispatch. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007.
  42. ^ ""Intelligent design" costs Dover over $1,000,000" ["Thiết kế thông minh" khiến Dover tốn hơn 1.000.000 USD]. NCSE Resource (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007.
  43. ^ "OUR OPINION: Investigate perjury in Dover ID case Judge Jones issued a broad, sensible ruling — finding that some board members lied" [Ý KIẾN CỦA CHÚNG TÔI: Hãy điều tra tội khai man trong vụ án ID ở Dover. Thẩm phán Jones đã ban hành một phán quyết rộng rãi, hợp lý — khi phát hiện ra một số thành viên hội đồng đã nói dối.]. York Daily Record (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 12 năm 2005. MERLIN_1306067.
  44. ^ The Devil in Dover, tr.199
  45. ^ "TRANSCRIPT OF CIVIL BENCH TRIAL PROCEEDINGS" [BIÊN BẢN PHIÊN TÒA XÉT XỬ DÂN SỰ KHÔNG CÓ BỒI THẨM ĐOÀN] (PDF). Kitzmiller V. Dover Trial Transcripts (bằng tiếng Anh). ACLU-PA. tr. 58. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2016.
  46. ^ "TRANSCRIPT OF CIVIL BENCH TRIAL PROCEEDINGS" [BIÊN BẢN PHIÊN TÒA XÉT XỬ DÂN SỰ KHÔNG CÓ BỒI THẨM ĐOÀN] (PDF). Kitzmiller V. Dover Trial Transcripts (bằng tiếng Anh). ACLU-PA. tr. 95–96. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2016.
  47. ^ The Devil in Dover, tr.44,199
  48. ^ The Devil in Dover, tr.171
  49. ^ The Devil in Dover, tr.166
  50. ^ Behe làm chứng rằng ID mang tính khoa học
  51. ^ Behe làm chứng rằng chiêm tinh học và ête cũng mang tính khoa học như ID
  52. ^ Đại học Lehigh gọi ID là phi khoa học Lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2005 tại Wayback Machine
  53. ^ Behe làm chứng rằng Derosier đồng tình
  54. ^ Derosier
  55. ^ Derosier được biết đến là người ủng hộ tiến hóa
  56. ^ "Articles - Editor's Note: Intelligent Design Articles" [Bài báo - Ghi chú của Biên tập viên: Các Bài báo về Thiết kế thông minh] (PDF). University of Montana Law Review (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007.
  57. ^ DeWolf, David K.; West, John G.; Luskin, Casey (2007). "Intelligent Design will survive Kitzmiller v. Dover" [Thiết kế thông minh sẽ tồn tại qua Kitzmiller kiện Dover] (PDF). University of Montana Law Review (bằng tiếng Anh). 68 (1). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2007.
  58. ^ DeWolf, David; West, John G.; Luskin, Casey (2007). "Rebuttal to Irons" [Phản biện đối với Irons] (PDF). University of Montana Law Review (bằng tiếng Anh). 68 (1). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2007.
  59. ^ "BBC — Science & Nature — Horizon" [BBC — Khoa học & Tự nhiên — Horizon]. A War on Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2009.
  60. ^ "Britons unconvinced on evolution" [Người Anh không tin vào thuyết tiến hóa] (bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 26 tháng 1 năm 2006.
  61. ^ Dean, Cornelia (ngày 11 tháng 11 năm 2007). "Battlefield Report From the Evolution War" [Báo cáo chiến trường từ Cuộc chiến Tiến hóa]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2007.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Tệp tin đa phương tiện