Kuru (bệnh)
Kuru là một căn bệnh prion từng ảnh hưởng đến người Fore và các nhóm dân cư lân cận ở Papua New Guinea.[1][2] Bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng như run rẩy, khó đi lại, đau đầu, khó nuốt, mất trí nhớ và hôn mê.[1] Người bệnh cũng có thể xuất hiện những cơn cười không kiểm soát.[2] Các triệu chứng tiến triển nặng dần theo thời gian và tử vong thường xảy ra trong vòng hai năm.[1][3] Thời gian ủ bệnh, tức khoảng thời gian từ khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh đến khi xuất hiện triệu chứng thường kéo dài từ 4 đến 40 năm, song trong một số trường hợp có thể vượt quá 50 năm.[3]
| Kuru | |
|---|---|
| Tập tin:Fore child in advanced kuru stage.png | |
| Một đứa trẻ người Fore trong giai đoạn cuối của bệnh kuru. Cậu bé không thể tự đi lại hay ngồi thẳng và bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng. | |
| Phát âm |
|
| Chuyên khoa | Bệnh học thần kinh, Bệnh truyền nhiễm |
| Triệu chứng | Cơ thể run rẩy, cười không kiểm soát, suy giảm cảm xúc, mất dần khả năng vận động. |
| Biến chứng | Nhiễm trùng và Viêm phổi ở giai đoạn cuối |
| Khởi phát thông thường | 10–50 năm sau khi phơi nhiễm ban đầu |
| Nguyên nhân | Lây truyền protein prion gây nhiễm |
| Yếu tố nguy cơ | Ăn thịt người |
| Phương pháp chẩn đoán | Khám nghiệm tử thi |
| Chẩn đoán phân biệt | Bệnh Creutzfeldt-Jakob |
| Điều trị/Kiểm soát | Điều trị triệu chứng |
| Tần suất | Hiếm gặp |
| Patient UK | Kuru |
Sự bùng phát của bệnh Kuru được cho là bắt đầu khi một người trong làng mắc bệnh một cách tự phát và những người khác trong cộng đồng đã ăn não của người đó sau khi họ qua đời.[2] Bệnh tiếp tục lây lan do tập tục ăn thịt người trong tang lễ, trong đó các thành viên gia đình nấu chín và ăn thi thể của người đã mất như một nghi thức tưởng niệm.[2] Ngoài ra, cũng có yếu tố di truyền làm tăng khả năng mắc bệnh ở một số cá nhân.[3] Cơ chế tiềm ẩn của bệnh liên quan đến các protein bị gấp cuộn sai tự nhân lên và chống lại quá trình phân giải.[3] Việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và được xác nhận bằng sinh thiết não.[3] Đây là một loại bệnh não xốp truyền nhiễm.[3]
Phòng ngừa bằng cách tránh ăn thịt người, tình trạng vốn đã giảm ở những khu vực bị ảnh hưởng sau lệnh cấm vào những năm 1950.[3][4] Việc kiểm soát bệnh bao gồm chăm sóc hỗ trợ nhằm cải thiện các triệu chứng của một người.[1] Hiện tại bệnh chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu.[1]
Người ta tin rằng căn bệnh này bắt đầu vào khoảng năm 1900 với mô tả khoa học đầu tiên vào năm 1957 của Carleton Gajdusek và Vincent Zigas.[1] Vào năm 1957, bệnh gây ra 200 ca tử vong mỗi năm, chiếm gần 3,5% tổng số ca tử vong ở một số cộng đồng.[2][5] Vì phụ nữ và trẻ nhỏ thường ăn não nên họ thường bị ảnh hưởng nhiều hơn.[3] Trường hợp cuối cùng được báo cáo là vào năm 2005[3] hoặc 2009.[6] Đây là căn bệnh prion đầu tiên được phát hiện.[2] Thuật ngữ kúru xuất phát từ tiếng Fore có nghĩa là "run rẩy".[2]
Tài liệu tham khảo
- ^ a b c d e f Kothekar, H; Chaudhary, K (tháng 1 năm 2024). "Kuru Disease: Bridging the Gap Between Prion Biology and Human Health". Cureus. 16 (1): e51708. doi:10.7759/cureus.51708. PMC 10838565. PMID 38313950.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết) - ^ a b c d e f g Liberski, PP; Gajos, A; Sikorska, B; Lindenbaum, S (ngày 7 tháng 3 năm 2019). "Kuru, the First Human Prion Disease". Viruses. 11 (3). doi:10.3390/v11030232. PMC 6466359. PMID 30866511.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết) - ^ a b c d e f g h i Mahat, S; Asuncion, RMD (tháng 1 năm 2025). "Kuru". StatPearls. PMID 32644529.
- ^ Alpers, Michael P (ngày 27 tháng 11 năm 2008). "The epidemiology of kuru: monitoring the epidemic from its peak to its end". Philosophical Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences. 363 (1510): 3707–3713. doi:10.1098/rstb.2008.0071. PMID 18849286.
- ^ Alpers, MP (2007). "A history of kuru". Papua and New Guinea Medical Journal. 50 (1–2): 10–9. PMID 19354007.
- ^ "Kuru". MRC Prion Unit and Institute of Prion diseases (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2025.