Bước tới nội dung

Lê Đình Thám

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lê Đình Thám
SinhLê Đình Thám
(1897-05-01)1 tháng 5, 1897
Làng Đồng Mỹ (Phú Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Mất23 tháng 4, 1969(1969-04-23) (71 tuổi)
Hà Nội
Tên khácCư sĩ Tâm Minh
Nghề nghiệpBác sĩ, cư sĩ Phật giáo, nhà hoạt động hoà bình
Cha mẹ

Lê Đình Thám (chữ Hán: 黎廷探) hay còn được gọi là Cư sĩ Tâm Minh (1 tháng 5 năm 1897 – 23 tháng 4 năm 1969) là bác sĩ, cư sĩ Phật giáo, nhà hoạt động hoà bình và là người đồng sáng lập tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam.[1]

Tiểu sử

Lê Đình Thám sinh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đồng Mỹ (Phú Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông xuất thân trong một gia đình quyền quý nhiều đời làm quan. Thân sinh là Binh bộ Thượng thư Lê Đỉnh dưới triều Tự Đức.[2] Anh trai ông là chí sĩ Lê Đình Dương (1894–1919) tham gia cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội năm 1916 do Thái PhiênTrần Cao Vân lãnh đạo, với cương vị là Tổng trấn Nam Ngãi và Cố vấn về Ngoại giao của phong trào. Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa thất bại, Lê Đình Dương phải tự tử bằng thuốc độc do không chịu được sự hà khắc của tên Công sứ Pháp.[3]

Hai anh em ông đều được cha trực tiếp dạy chữ Nho. Cả hai anh em đều tỏ ra thông minh xuất chúng ngay từ thuở bé, riêng ông lại còn có năng khiếu văn chương thi phú.[4] Trong thời gian học các trường tiểu học, trung học và đại học, ông luôn giành thứ vị thủ khoa trong các kỳ thi tốt nghiệp cuối cấp.[4] Ông tốt nghiệp Y sĩ Đông Dương (đậu Thủ Khoa) tại Hà Nội năm 1916, và sau đó đậu Y khoa Bác sĩ năm 1930, ngạch Pháp quốc, tại Y khoa Đại học đường Hà Nội.[4] Chính thời gian này, ngoài nâng cao trình độ chuyên môn, ông đi sâu nghiên cứu triết học Phương Đông như Đạo Khổng, Đạo LãoPhật giáo.[2]

Khi ra trường với danh hiệu Y sĩ, đúng lúc phong trào Duy Tân khởi nghĩa bị thất bại, anh trai ông là Y sĩ Lê Đình Dương bị Pháp tù đày tại Buôn Mê Thuột, do vậy ông cũng bị tình nghi và bị theo dõi. Từ năm 1916 đến năm 1923, ông được bổ nhiệm và làm việc tại các bệnh viện Hội An, Bình Thuận, Sông Cầu, Quy Nhơn, Tuy Hòa.[4] Năm 1926, khi đang phụ trách điều trị tại bệnh viện Hội An (Quảng Nam). Nhân một buổi viếng cảnh tại chùa Tam Thai tại Ngũ Hành Sơn, ông đọc được bài kệ của Tổ Huệ Năng ghi trên vách chùa, đây là lần đầu tiên ông tiếp xúc với triết lý Phật giáo.[4] Trong năm này, nhà yêu nước Phan Chu Trinh mất, ông đứng ra làm lễ truy điệu tại nơi đang làm việc ở tỉnh Quảng Nam. Mật thám Pháp biết được nên chuyển ông ra làm việc ở Hà Tĩnh.[4][2]

Năm 1928, ông lại được thuyên chuyển về Huế, đảm trách Y sĩ trưởng Viện bào chế và vi trùng học Louis Pasteur, ông phát minh ra Sérum Normet. Cùng năm đó, ông lên chùa Trúc Lâm, cách kinh đô Huế khoảng 7 cây số ở sau đàn Nam Giao, để thỉnh tôn ý về bài kệ trên với Hòa thượng trụ trì là Giác Tiên; sau đó ông được thọ tam quy ngũ giới với Hòa thượng Giác Tiên, lấy pháp danh là Tâm Minh, pháp tự là Chiêu Hải. Năm 1929, ông thọ học thêm với Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp, Bình Định. Hòa thượng chỉ đạo ông nghiên cứu các bài giảng của Thái Hư đại sư ở Trung Hoa về cách thức tổ chức Phật giáo, và suy nghĩ cải cách thế nào cho phù hợp với tình hình Phật giáo nước nhà. Ông đã đề đạt ý kiến của mình lên chư Hòa thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết và đã được họ chấp thuận.[4]

Năm 1930, ông ra Hà Nội thi bằng bác sĩ y khoa ngạch Pháp. Trở về Huế ông vừa làm nghề y, vừa theo Phật học. Năm 1932, Hội An Nam Phật học ra đời, trụ sở hội đầu tiên đặt ở chùa Trúc Lâm, sau đó là chùa Từ Đàm. Ông làm Hội trưởng và các Hòa thượng trong Ban Chứng minh là cố vấn cho Hội và Hội bắt đầu truyền đạo với nhiều hình thức như thuyết pháp mỗi nửa tháng cho tín đồ nghe tại chùa Từ Quang, mở trường đào tạo tăng tài, mở thêm các chi hội, thành lập Thanh Niên Đức Dục (Phật học); cho xuất bản tờ báo Phật giáo (Nguyệt san Viên Âm) và thiết lập các tòng lâm để chư tăng tu học, và đào tạo tăng tài. Từ năm 1930, những bài viết của ông bắt đầu xuất hiện trên tờ nguyệt san Viên Âm. Ông tự tay viết cả truyện ngắn (ký tên T.M), truyện dài (ký tên Châu Hải) và truyện hài hước (ký tên Ba Rảm). Từ 1934 đến 1945 dưới sự điều hành của Hội trưởng Lê Đình Thám là những năm hoàn chỉnh các tổ chức phật giáo và hệ thống đào tạo tăng ni ở miền Trung.[4][2]

Tháng 3 năm 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim mời ông giữ chức Giám đốc y tế Trung phần kiêm Giám đốc bệnh viện Huế. Năm 1946, cuộc chiến tranh chống Pháp bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, ông cùng gia đình di tản về Quảng Nam và cũng từ bỏ mọi chức vụ trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Từ 25 tháng 1 năm 1948 đến 16 tháng 6 năm 1950, ông Lê Đình Thám làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung bộ. Tại Liên khu V của vùng kháng chiến, ông tập họp một số đoàn viên của đoàn Phật học Đức Dục có mặt trong vùng và thành lập tổ chức "Phật giáo và Dân chủ mới" tại Bồng Sơn - Bình Định, nghiên cứu việc tổng hợp giáo lý Phật giáo và triết học Mác-Lê Nin.

Mùa hè năm 1949, ông tập kết ra Bắc. Sau đó được đề cử làm Chủ tịch phong trào vận động Hòa Bình thế giới. Năm 1956, ông và Hòa thượng Trí Độ tham dự phái đoàn sang dự đại hội Phật giáo Buddha Jayanti tại Ấn Độ. Năm 1961, toàn bộ kinh Lăng Nghiêm mà ông đã dày công phiên dịch và chú giải trong nhiều năm, đã được đăng tải trên báo Viên Âm trước đây được ông hoàn tất và xuất bản tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Sau đó, sách được gia đình ông tái bản lưu hành rộng rãi ở miền Nam. Năm 1965, Hội Cờ tướng Việt Nam (tiền thân của Liên đoàn Cờ Việt Nam) được thành lập, Lê Đình Thám được bầu làm Chủ tịch Hội.

Ông mất ngày 23 tháng 4 năm 1969 sau khi đã đàm đạo lần cuối cùng với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tại bệnh viện Việt - Xô, Hà Nội, thọ 73 tuổi.

Trong khuôn viên Tổ đình Từ Đàm, Huế có tạc một bức tượng bán thân Lê Đình Thám. Ông là một trong 2 đại Cư sĩ được dựng tượng tưởng niệm (người còn lại là Chánh Trí Mai Thọ Truyền). Kể từ năm 1999, Tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam (GĐPT) đã chọn ngày mất của ông làm ngày Hiệp kỵ GĐPT Toàn quốc nhằm tưởng niệm chư Thánh Tử đạo; chư liệt vị Tiền bối Hữu công; Tiền bối Sáng lập; Ân Sư; Cố vấn; Bảo trợ; Huynh trưởng, Đoàn sinh GĐPTVN quá cố.[5]

Tác phẩm

Trong thời gian ở Bắc, ngoài giờ làm việc nhà nước, ông đến chùa Quán Sứ để dịch kinh và giảng kinh, hướng dẫn việc tu học giúp nhà chùa. Các tác phẩm của ông gồm có:[4]

  • Kinh Thủ Lăng Nghiêm
  • Luận Nhơn Minh
  • Đại Thừa Khởi Tín Luận
  • Bát Thúc Qui Củ Tụng
  • Phật học thường thức
  • Bát Nhã Tâm Kinh
  • Lịch sử Phật giáo Việt Nam và Phật Tổ Thích Ca
  • Tâm Minh - Lê Đình Thám tuyển tập (gồm 5 tập)

Tham khảo

  1. ^ "Lê Đình Thám (1897 – 1969)". Cổng thông tin điện tử Thành phố Đà Nẵng. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.[liên kết hỏng]
  2. ^ a ă â b "Bác sĩ Lê Đình Thám - một đời vì dân tộc và đạo pháp". Đại biểu Nhân dân. ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2026.
  3. ^ UBND Điện Bàn (ngày 18 tháng 2 năm 2013). "LÊ ĐÌNH DƯƠNG (1894-1919)". Cổng thông tin điện tử UBND thị xã Điện Bàn. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2023.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê Như Kim (ngày 15 tháng 4 năm 2024). "Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969): Trọn đời vì Đạo pháp và Dân tộc". Giác Ngộ Online. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2026.
  5. ^ Ban Biên tập Trang nhà GĐPT Việt Nam (ngày 15 tháng 4 năm 2013). "LỄ HIỆP KỴ". GĐPT Việt Nam.

Liên kết ngoài