Lý Tân Lương
Lý Tân Lương | |
|---|---|
Chức vụ | |
Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh | |
| Nhiệm kỳ | Tháng 12 năm 1997 – Tháng 1 năm 2002 |
| Tiền nhiệm | Lý Lai Trụ |
| Kế nhiệm | Chu Khải |
Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương | |
| Nhiệm kỳ | Tháng 9 năm 1995 – Tháng 12 năm 1997 |
| Tiền nhiệm | Vương Khắc |
| Kế nhiệm | Lương Quang Liệt |
Chính ủy Quân khu Thẩm Dương | |
| Nhiệm kỳ | Tháng 12 năm 1993 – Tháng 9 năm 1995 |
| Tiền nhiệm | Tống Khắc Đạt |
| Kế nhiệm | Khương Phúc Đường |
Thông tin cá nhân | |
| Sinh | Tháng 11 năm 1936 trấn Huyệt Phường, Lai Dương, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc |
| Mất | 13 tháng 8, 2025 (88 tuổi) Bắc Kinh, Trung Quốc |
| Đảng chính trị | Đảng Cộng sản Trung Quốc |
Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Phục vụ | |
| Năm tại ngũ | 1953-2002 |
| Cấp bậc | |
Lý Tân Lương (tháng 11 năm 1936 – 13 tháng 8 năm 2025) là Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Ông từng giữ các chức vụ như Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh, Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương và Chính ủy Quân khu Thẩm Dương.
Tiểu sử
Lý Tân Lương sinh tháng 11 năm 1936, người trấn Huyệt Phường, Lai Dương, tỉnh Sơn Đông.[1]
Tháng 8 năm 1953, Lý Tân Lương tham gia Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tháng 10 năm 1956, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cũng trong năm 1956, ông tốt nghiệp Trường Công binh Nam Kinh.[1]
Quá trình công tác ban đầu của ông trong quân đội đã trải qua các chức vụ như trung đội trưởng, phó đại đội trưởng, tham mưu tiểu đoàn thuộc tiểu đoàn công binh, Quân đoàn 41 lục quân và tham mưu Ban tác chiến và huấn luyện Bộ tư lệnh trung đoàn.[1] Từ năm 1962, ông được phân công đảm nhiệm vai trò tham mưu Phòng công binh Bộ tư lệnh sư đoàn rồi Trưởng phòng Phòng phòng hoá công binh Bộ tư lệnh sư đoàn.[1]
Năm 1969, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng trung đoàn. Năm 1973, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó sư đoàn trưởng. Năm 1981, ông giữ chức Sư đoàn trưởng thuộc Quân đoàn 41.[1]
Tháng 5 năm 1983, ông được điều giữ chức Tư lệnh Quân khu Quảng Tây. Tháng 2 năm 1988, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu Quảng Châu.[1] Cũng trong năm 1988, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Tháng 7 năm 1993, ông được thăng quân hàm Trung tướng.[1]
Tháng 12 năm 1993, ông được điều đến Quân khu Thẩm Dương để giữ chức Chính ủy của Quân khu. Tháng 9 năm 1995, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương.[1]
Tháng 12 năm 1997, ông được điều sang Quân khu Bắc Kinh và giữ chức Tư lệnh của Quân khu. Tháng 3 năm 1998, ông được thăng quân hàm Thượng tướng.[1]
Ngày 1 tháng 10 năm 1999, Lý Tân Lương đã tháp tùng Chủ tịch Quân ủy Trung ương Giang Trạch Dân đi thị sát các binh sĩ tham gia cuộc duyệt binh kỷ niệm 50 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[2]
Tháng 3 năm 2003, ông được bầu làm Ủy viên Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc và Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nội vụ và Tư pháp của Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc khóa 10 (2003-2008).[1]
Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 13 (1987-1992) và khóa 15 (1997-2002) và đại biểu Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc khóa 9 (1998-2003).[1]
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, ông qua đời tại Bắc Kinh, hưởng thọ 89 tuổi.[2]
Tham khảo
- ^ a b c d e f g h i j k "简历:全国人大常务委员会委员李新良" (bằng tiếng Trung). 搜狐新聞. ngày 15 tháng 2 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2021.
- ^ a b 岳怀让 (ngày 14 tháng 8 năm 2025). "原北京军区司令员李新良逝世,曾任国庆50周年阅兵总指挥" (bằng tiếng Trung). 澎湃新闻. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.