Bước tới nội dung

Lựu đạn F1 (Nga)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Format link' not found.

Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

F-1
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Lựu đạn F-1
LoạiLựu đạn cầm tay
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1939–hiện tại
TrậnTrang Bản mẫu:Plainlist/styles.css không có nội dung.
Thông số
Khối lượng600 g (1,3 lb)
Chiều dài130 mm (5,1 in)
Đường kính55 mm (2,2 in)

Thuốc nhồiTrinitrotoluene
Trọng lượng thuốc nhồi60 g (2,1 oz)
Cơ cấu nổNgòi nổ 3,2 đến 4,2 giây
Lựu đạn F1 (Nga)

Lựu đạn cầm tay F-1 của Liên Xô (Bản mẫu:Langx) là loại lựu đạn phòng ngự mảnh văng chống bộ binh.

Lịch sử

F-1 được giới thiệu trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và sau đó được thiết kế lại sau chiến tranh.

Mặc dù F-1 không còn được coi là vũ khí trang bị cho các đơn vị tiền phương tại các quốc gia thuộc Khối Warszawa trước đây, nó vẫn được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là bởi các nhóm phiến quân.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Thiết kế

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Format link' not found. Thân lựu đạn F-1 dựa trên thân bằng gang của lựu đạn F1 của Pháp và chứa 60 g (2,1 oz) thuốc nổ (TNT). Tổng trọng lượng của lựu đạn kèm theo ngòi nổ là khoảng 600 g (21 oz).[2]

Do hình dáng và màu xanh vàng, nó được đặt biệt danh là Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Unicode data' not found. (giống cái: 'quả chanh nhỏ'). Nó cũng được gọi là Efka (Bản mẫu:Langx) dựa trên chữ cái F.[3]

F-1 cũng tương tự như lựu đạn "quả dứa" Mk 2 của Mỹ, vốn cũng được mô phỏng theo mẫu F-1 của Pháp.

F-1 có vỏ ngoài bằng thép được khía rãnh để tạo điều kiện tạo mảnh văng khi nổ và để tránh trơn trượt khi cầm. Khoảng cách ném lựu đạn ước tính khoảng 30–45 m (98–148 ft).

Bán kính phân tán mảnh văng lên tới 200 m (660 ft) (bán kính hiệu quả là khoảng 30 m (98 ft),[4]). Do đó, lựu đạn phải được ném từ một vị trí phòng thủ để tránh gây tự thương.

Khoảng 60% thân lựu đạn bị tán nhỏ trong vụ nổ, chỉ 30% thân lựu đạn tách thành 290 mảnh văng sắc cạnh có tốc độ cao, mỗi mảnh nặng khoảng 1 gram với vận tốc ban đầu khoảng 700 m/s (2.300 ft/s).

Ngòi nổ

Trong Thế chiến II, F-1 sử dụng ngòi nổ UZRG (Bản mẫu:Langx) với thời gian trễ từ 3,2 đến 4,2 giây.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. UZRG được cấp riêng biệt với thân lựu đạn, chia thành các lô 20 chiếc đựng bên trong hộp bìa cứng bọc giấy nến.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Ngòi nổ Koveshnikov với thời gian trễ từ 3,5 đến 4,5 giây cũng được sử dụng trong chiến tranh.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Các lựu đạn sau chiến tranh thường sử dụng ngòi nổ UZRGM, cũng được dùng trong lựu đạn RG-42RGD-5. Thời gian trễ tiêu chuẩn của loại ngòi này là 3,2 đến 4,2 giây.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Một số lựu đạn được trang bị ngòi nổ bẫy chuột DVM-78 hiện đại hơn với bộ hẹn giờ trễ 3,2–4 giây.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

ó một huyền thoại bắt nguồn từ một bài báo năm 1983 do Larry Dring viết cho tạp chí Soldier of Fortune (SOF) ngụ ý rằng các biến thể ngòi nổ UZRGM có sẵn các phiên bản với thời gian trễ từ 0 (tức là nổ tức thì, chuyên dùng cho bẫy mìn) đến 13 giây..Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Tác giả đã nhầm lẫn khi cho rằng những con số đóng trên thân ngòi nổ là chỉ số thời gian trễ. Trên thực tế, con số này cho biết dây chuyền sản xuất của nhà máy, không phải thời gian trễ của ngòi nổ. Việc có các ngòi nổ mà không có ký hiệu rõ ràng bên ngoài cho biết đó là "ngòi ngắn" với độ trễ 0 hoặc 1–2 giây sẽ gây nguy hiểm cho binh sĩ vận hành. Tất cả các ngòi nổ UZRGM đều có cùng độ trễ bất kể con số đóng trên chúng là gì, vốn sẽ bị che khuất khi ngòi được lắp vào thân lựu đạn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Cùng bài báo trên SOF cũng tuyên bố rằng UZRGM có thể lắp lẫn với dòng ngòi nổ M200 được sử dụng trên lựu đạn Mk 2 và M26 của Hoa Kỳ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Theo Gordon L. Rottman, điều đó không đúng: UZRGM chỉ có thể vặn được một nửa vào lựu đạn của Mỹ (đủ để vừa khít và hoạt động), trong khi ngòi nổ của Mỹ hoàn toàn không thể vặn vào lựu đạn của Liên Xô.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Dring cũng viết cho SOF rằng mặc dù UZRGM có thể sử dụng trên lựu đạn F-1 của Pháp, nhưng ngòi nổ của Pháp sẽ không vặn được vào lựu đạn F-1 của Liên Xô.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Các biến thể

Liên Xô

  • URG (Bản mẫu:Langx) là biến thể huấn luyện mô phỏng của lựu đạn F-1.

Các phiên bản nước ngoài

F-1 đã được Tây Ban Nha sử dụng và sao chép trong suốt cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Một số quốc gia và nhóm phiến quân khác cũng sản xuất các bản sao của riêng họ, bao gồm Trung Quốc, Bulgaria, Cộng hòa Séc, Georgia, Ba Lan và Romania.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Trong cuộc Chiến tranh Nga - Ukraine, Ukraine đã bắt đầu sản xuất một loại lựu đạn F-1 cải tiến, đã được phê duyệt để sử dụng trong quân sự vào ngày 9 tháng 9 năm 2024.[5]

  • Type 1 − Bản sao của Trung Quốc.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  • F1/N60 − Lựu đạn phóng từ súng trường của Ba Lan dựa trên mẫu F-1, nhưng sử dụng ngòi nổ va chạm thay vì ngòi nổ hẹn giờ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  • MKEK Mk 2 − Thiết kế thời hậu chiến của Thổ Nhĩ Kỳ, kết hợp thân của lựu đạn F-1 với ngòi nổ M204A2 do Hoa Kỳ thiết kế.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  • M15 − Biến thể của Nam Tư gần như giống hệt F-1, nhưng bộ phận kích nổ 5,6 giây hoàn toàn khác biệt. Tên gọi chính thức là Lựu đạn cầm tay phòng ngự M15 (Bản mẫu:Langx)Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  • M35 − Bản sao của Nam Tư tương tự như mẫu M15. Tên gọi chính thức là Lựu đạn cầm tay phòng ngự M35 (Bản mẫu:Langx)Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Các quốc gia sử dụng

Trang Bản mẫu:Div col/styles.css không có nội dung.

  •  BulgariaLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  Trung Quốc
  •  Tiệp KhắcLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  SécLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  Phần LanLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  GruziaLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  Iraq[6]
  •  CHDCND Triều Tiên[7]
  •  Ba Lan − Vẫn còn trong biên chế chiến đấu cho đến tận năm 2010Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  RomâniaLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  NgaLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  Liên Xô
  •  Spanish RepublicLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  SyriaLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  Thổ Nhĩ Kỳ − Được sản xuất dưới tên gọi MKEK Mk 2Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  Ukraina − Các bản sao được sản xuất trong nước[5]
  • Việt NamLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  •  South Yemen − 50.000 quả đã được Tiệp Khắc bàn giao trong khoảng thời gian từ năm 1982 đến năm 1987Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.
  • Bản mẫu:Flagicon Nam Tư − Được sản xuất dưới các tên gọi M15M35Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Xem thêm

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  7. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Tài liệu

  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Liên kết ngoài

Trang Mô đun:Side box/styles.css không có nội dung.Trang Bản mẫu:Dự án liên quan/styles.css không có nội dung.

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Navbox/configuration' not found.