Lựu pháo 152 mm D-20
Pháo lựu 152 mm M1955, còn được biết đến với tên gọi D-20, (tiếng Nga: 152-мм пушка-гаубица Д-20 обр. 1955 г.) là một loại pháo lựu kéo cỡ nòng 152 mm nạp đạn thủ công, được sản xuất tại Liên Xô trong những năm 1950. Phương Tây lần đầu tiên quan sát thấy loại pháo này vào năm 1955 và tại thời điểm đó nó được định danh là M1955. Định danh GRAU của pháo là 52-P-546.[2]
| Lựu pháo D-20 152 mm | |
|---|---|
| Loại | Lựu pháo kéo |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Sử dụng bởi | Liên Xô, và nhiều quốc gia khác |
| Trận | |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Cục Thiết kế Pháo binh Petrov |
| Năm thiết kế | 1947 |
| Nhà sản xuất | Nhà máy Pháo binh số 9, Yekaterinburg |
| Thông số | |
| Khối lượng | 5,7 t (5,6 tấn Anh; 6,3 tấn Mỹ) |
| Chiều dài | 8,69 m (28 ft 6 in) |
| Độ dài nòng | 5,195 m (20 ft) L/34 (kèm loa giảm giật) |
| Chiều rộng | 2,35 m (7 ft 9 in) |
| Chiều cao | 1,93 m (6 ft 4 in) |
| Kíp chiến đấu | 8 |
| Đạn pháo | 152.4 x 547.5 mm R Đạn nạp rời liều phóng và đầu đạn[1] |
| Cỡ đạn | 152,4 mm (6,00 in) |
| Khóa nòng | Khối trượt dọc bán tự động |
| Độ giật | Bộ đệm thủy lực và bộ phận đẩy lên thủy khí |
| Bệ pháo | Càng xòe |
| Góc nâng | -5° đến 45° |
| Xoay ngang | 58° |
| Tốc độ bắn | Tối đa: 5–6 phát/phút Duy trì: 1 phát/phút |
| Sơ tốc đầu nòng | 650 m/s (2.100 ft/s) |
| Tầm bắn hiệu quả | 17,4 km (10,8 mi) |
| Tầm bắn xa nhất | 24 km (15 mi) (đạn tăng tầm phản lực) |
| Ngắm bắn | Kính ngắm gián tiếp PG1M và kính ngắm bắn thẳng OP4M |
Lịch sử
Cỡ nòng 152 mm đã trở thành tiêu chuẩn của Nga kể từ Thế chiến I, khi Anh cung cấp các loại lựu pháo 6-inch và Nga đã mua các khẩu pháo 152 mm từ hãng Schneider (có lẽ được phát triển từ mẫu Pháo 155 mm Mle 1877/16) cho Quân đội Đế quốc. Loại pháo lựu mới này là sự thay thế cho mẫu pháo lựu ML-20 có từ trước chiến tranh (tức lựu pháo 152 mm M1937) và nhiều loại lựu pháo dã chiến 152 mm khác từ thời Thế chiến II như M09/30, M1910/30, M1938 (M10) và M1943 (D-1).
Theo định nghĩa của Liên Xô, lựu pháo 152 mm được xếp vào loại pháo cỡ nòng trung bình. Nó được định danh là một khẩu "pháo lựu" (gun-howitzer) vì sơ tốc đầu nòng vượt quá 600 m/s và chiều dài nòng pháo gấp hơn 30 lần cỡ nòng. Nó được trang bị cho các tiểu đoàn thuộc trung đoàn pháo binh của sư đoàn bộ binh cơ giới và các lữ đoàn pháo binh cấp quân đoàn.
Quá trình thiết kế, có thể đã được bắt đầu từ cuối những năm 1940, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng vào năm 1955. Khẩu pháo được thiết kế bởi cục thiết kế danh tiếng tại Nhà máy Pháo binh số 9 ở Sverdlovsk (nay là Nhà máy Motovilikha tại Yekaterinburg), dưới sự lãnh đạo của nhà thiết kế pháo binh lỗi lạc Fyodor Fyodorovich Petrov, người từng chịu trách nhiệm cho nhiều mẫu pháo trong Thế chiến II. Định danh tại nhà máy của khẩu pháo này là "D-20".
Bệ pháo của nó tương tự như loại sử dụng cho Pháo dã chiến 122 mm D-74. Cụm nòng pháo này là cơ sở cho mẫu D-22 (chỉ số GRAU: 2A33), vốn được sử dụng cho pháo tự hành 2S3 Akatsiya ("Acacia").
Đặc điểm và hoạt động
Pháo 152mm D-20 khá nặng nề và khó cơ động trên trận địa, nhưng bù lại cho khuyết điểm đó là tầm bắn của nó có thể đạt tới 17,4 km. Pháo D-20 sử dụng chung 1 khung với loại pháo mặt đất nòng dài D-74, được tăng cường 2 bánh xe nhỏ sau chân giá đỡ để có thể di chuyển cơ động hơn và xoay ngang súng dễ dàng hơn. Súng cũng có 1 khiên bảo vệ cho tổ pháo. Nòng pháo ngắn hơn D-74, đường kính lớn hơn, cỡ nòng 152mm và có 1 đầu giảm giật (muzzle brake) 2 lỗ thoát khí thuốc liều phóng. Khi bắn, nòng pháo phóng ra lửa theo đạn như súng phun lửa do sơ tốc đạn nhanh và âm thanh rất đinh tai. Pháo D-20 cũng có hệ thống hãm giật 2 xi-lanh phía trên nòng pháo như D-74 và cả hai loại pháo này đều sử dụng khoá nòng xoắn bắn tự động. Pháo được trang bị hệ thống ngắm khi bắn định hướng (bắn thẳng) cả ban ngày lẫn ban đêm cung cấp cho pháo khả năng chống xe tăng đáng kể.
Pháo bắn đạn FRAG-HE, OF-540 với tốc độ bắn có thể đạt tới 5 - 6 phát 1 phút, 1 tiếng có thể bắn tới 65 phát. Pháo có thể kéo bằng xe bọc thép hay xe tải hạng nặng. D-20 được Trung Quốc chế tạo bất hợp pháp với cái tên Type 66 và viện trợ cho các nước khác.
Biến thể
- Lựu pháo Khitin phiên bản nâng cấp của D-20 với tốc độ bắn nhanh hơn khoảng 7-8 phát/phút.
- Lựu pháo kiểu 66 Phiên bản sao chép bất hợp pháp D-20 năm 1966
- Pháo tự hành kiểu 83 Phiên bản sao chép bất hợp pháp 2S3 Akatsiya năm 1988.
- A411 Phiên bản đơn giản hóa của D-20. Trong Quân đội Romania nó có tên là Lựu pháo M1981 152 mm.
- A412 Phiên bản sao chép có giấy phép từ khẩu Lựu pháo kiểu 59 của Trung Quốc nhưng dùng hệ thống kéo của D-20. Trong Quân đội Romania nó có tên là Lựu pháo M1982 130 mm.
- A425 Phiên bản sao chép lựu pháo 2A65 152 mm. Hệ thống này được xuất khẩu với tên là Model 1984.
- M84 NORA-A và M96 NORA-B Phiên bản pháo tự hành sử dụng xe kéo NORA của Nam Tư.
- M1974 152mm Phiên bản sao chép Lựu pháo kiểu 66 của Trung Quốc với cái tên "Tokchon".
Các quốc gia vận hành
Hiện tại
- Angola – 4 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][3]
- Armenia – 34 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][4]
- Azerbaijan – 24 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][5]
- Belarus[6]
- Bulgaria – 44 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][7]
- Cuba – 100 khẩu, được cung cấp trong giai đoạn 1972–1974[6]
- Cộng hòa Dân chủ Congo – 6 khẩu[8]
- Ethiopia – 20 khẩu
- Gruzia – 12 khẩu nhận từ Bulgaria năm 2009[6]
- Trung Quốc – Type 66[9]
- Cộng hoà Congo[10]
- Hungary – 18 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][11]
- Iran – 30 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][12]
- Iraq – Tất cả bị phá hủy trong cuộc tấn công Iraq năm 2003, các mẫu mới được mua từ Bulgaria vào năm 2015[13]
- Kurdistan thuộc Iraq[14] – 6 khẩu thu giữ từ Lục quân Iraq năm 1991, 4 khẩu thu giữ năm 2003, tổng cộng 10 khẩu được sử dụng bởi Peshmerga của Đảng Dân chủ Kurdistan (KDP)
- Lào – đang phục vụ tính đến tháng 1 năm 2019[cập nhật][15]
- Moldova – tính đến năm 2016[cập nhật][16]
- Myanmar – hơn 150 khẩu được bàn giao năm 2009 từ Triều Tiên và Ukraine [17]
- Nicaragua – 12 khẩu đang hoạt động, 30 khẩu lưu kho tính đến năm 2016[cập nhật][18]
- Nigeria – 4 khẩu M81/M85 từ kho dự trữ của Quân đội Romania[cần dẫn nguồn]
- CHDCND Triều Tiên – 200 khẩu có thể đã được Trung Quốc cung cấp trong giai đoạn 1972–1975[6]
- Nga – 1.075 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][19] - 575 khẩu tính đến năm 2025[cập nhật]
- România – Quân đội Romania có 247 khẩu lựu pháo M1981, 103 khẩu pháo lựu M1985[20]
- Sri Lanka – 46 khẩu Type 66 tính đến năm 2016[cập nhật][21]
- Syria[22]
- Turkmenistan – 72 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][23]
- Ukraina – hơn 130 khẩu tính đến năm 2016[cập nhật][24]
- Việt Nam[25]
- Yemen[26]
Trước đây
- Albania – 90 khẩu Type 66 được cung cấp từ 1968–1973[6]
- Artsakh − Bị Azerbaijan thu giữ sau cuộc tấn công của Azerbaijan tại Nagorno-Karabakh năm 2023[27]
- Bolivia − 18 khẩu Type 66 được Trung Quốc bàn giao năm 1992[28]
- Đông Đức – 137 khẩu được cung cấp trong giai đoạn 1974–1975,[6] được chuyển giao cho Đức sau khi tái thống nhất nước Đức
- Ai Cập – 300 khẩu được cung cấp trong giai đoạn 1964–1970[6]
- Phần Lan – 126 khẩu mua từ Đông Đức cũ năm 1991; loại biên năm 2017; được biết đến với tên gọi 152 H 55[6]
- Đức – Đã loại biên
- Kazakhstan[cần dẫn nguồn]
- Liên Xô – Chuyển giao cho các quốc gia kế thừa
- Uzbekistan[cần dẫn nguồn]
- Nam Tư – 36 khẩu được cung cấp năm 1971[6]
Xem thêm
Chú thích
- ^ Foss, Christopher (1977). Jane's Pocket Book of Towed Artillery. New York: Collier. tr. 113. ISBN 0020806000. OCLC 911907988.
- ^ "Пушки" [Guns]. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.
- ^ Military Balance 2016, tr. 429.
- ^ Military Balance 2016, tr. 178.
- ^ Military Balance 2016, tr. 180.
- ^ a b c d e f g h i "Trade Registers". Armstrade.sipri.org. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019.
- ^ Military Balance 2016, tr. 82.
- ^ International Institute for Strategic Studies (2021). The Military Balance. tr. 461. ISBN 9781032012278.
- ^ Military Balance 2016, tr. 242.
- ^ Military Balance 2016, tr. 438.
- ^ Military Balance 2016, tr. 107.
- ^ Military Balance 2016, tr. 328.
- ^ Binnie, Jeremy. "Iraq receives Bulgarian D-20 guns". IHS Jane's 360. IHS. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015.
- ^ Military Balance 2016, tr. 491.
- ^ Gibson, Neil; Fediushko, Dmitry (ngày 22 tháng 1 năm 2019). "Laotian military parades Russian- and Chinese-made equipment". Jane's 360. London, Moscow. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2019.
- ^ Military Balance 2016, tr. 188.
- ^ The Military Balance 2020. Routledge. ngày 14 tháng 2 năm 2020. tr. 296. ISBN 978-0367466398.
- ^ Military Balance 2016, tr. 406.
- ^ Military Balance 2016, tr. 190.
- ^ Military Balance 2016, tr. 132.
- ^ Military Balance 2016, tr. 289.
- ^ Military Balance 2016, tr. 354.
- ^ Military Balance 2016, tr. 203.
- ^ Military Balance 2016, tr. 205.
- ^ Military Balance 2016, tr. 297.
- ^ Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 20 tháng 9 năm 2015). "The Oryx Handbook of Pre-war Yemeni Fighting Vehicles". Oryx.
- ^ Mitzer, Stijin; Oliemans, Joost. "Documenting Equipment Losses During The September 2023 Nagorno-Karabakh Conflict". Oryx. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2023.
- ^ Foss 2011, tr. 973.