Let Go (album của Avril Lavigne)

Let Go là album phòng thu đầu tay của ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát người Canada Avril Lavigne, do Arista Records phát hành vào ngày 4 tháng 6 năm 2002. Giới phê bình mô tả Let Go là một album pop-punkalternative rock với âm hưởng mang phong cách grunge. Album đã bán được hơn 16 triệu bản trên toàn thế giới, trở thành album bán chạy nhất trong sự nghiệp của Lavigne cho đến nay và là album bán chạy nhất thế kỷ 21 của một nghệ sĩ Canada.

Let Go
Tập tin:Let Go album avril.JPG
Album phòng thu của Avril Lavigne
Phát hành4 tháng 6 năm 2002 (2002-06-04)
Thu âmTháng 5 năm 2001 – Tháng 3 năm 2002
Phòng thu
  • Big Baby Recording (New York, NY)
  • Blue Iron Gate Studio (Santa Monica, CA)
  • Boulevard Recording Studios (New Milford, NJ)
  • Decoy Studios (Valley Village, CA)
  • Jsm Studios (New York, NY)
  • Real Music Studios (Los Angeles, CA)
  • Signet Sound Delux Studios (Hollywood, CA)
  • Top Floor Studios (New York, NY)
Thể loại
Thời lượng48:37
Hãng đĩaArista
Sản xuất
Thứ tự album của Avril Lavigne
B-Sides
(2001)
Let Go
(2002)
Avril Lavigne: My World
(2003)
Bìa khác
Bìa bản kỷ niệm 20 năm
Bìa bản kỷ niệm 20 năm
Đĩa đơn từ Let Go
  1. "Complicated"
    Phát hành: 11 tháng 3 năm 2002
  2. "Sk8er Boi"
    Phát hành: 9 tháng 9 năm 2002
  3. "I'm with You"
    Phát hành: 18 tháng 11 năm 2002
  4. "Losing Grip"
    Phát hành: 24 tháng 3 năm 2003
  5. "Mobile"
    Phát hành: 8 tháng 5 năm 2003
  6. "Nobody's Fool"
    Phát hành: 18 tháng 1 năm 2005

Khi mới ra mắt, Let Go nhận được những lời khen ngợi từ giới chuyên môn, và được ghi nhận là đĩa nhạc pop đầu tay ấn tượng nhất năm 2002. Theo Billboard, đây là album bán chạy thứ 21 của thập niên đó. Album được chứng nhận 7 đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) và đạt chứng nhận Kim cương tại Canada. Let Go cũng đạt chứng nhận đa Bạch kim ở nhiều quốc gia, bao gồm Anh Quốc – nơi Lavigne trở thành nữ nghệ sĩ solo trẻ tuổi nhất có album đứng đầu bảng xếp hạng. Album tiếp tục được quảng bá thông qua chuyến lưu diễn Try to Shut Me Up Tour từ tháng 12 năm 2002 đến tháng 6 năm 2003. Album cùng các đĩa đơn của nó đã mang về cho Lavigne 8 đề cử giải Grammy, bao gồm Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất, hai lần đề cử Bài hát của nămAlbum giọng pop xuất sắc nhất.

Let Go vừa được coi là một trong những album có ảnh hưởng nhất đầu thập niên 2000, vừa góp phần đưa pop-punk vào dòng nhạc chủ đạo và thúc đẩy sự nổi lên của các nghệ sĩ pop-punk nữ cũng như nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ, đánh dấu sự chuyển dịch khỏi phong cách bubblegum pop thống trị thời kỳ đó. Trong một cuộc bình chọn của độc giả Rolling Stone, Let Go được xếp thứ 4 trong danh sách album hay nhất thập niên 2000. Ngày 18 tháng 3 năm 2013, Let Go được tái phát hành dưới dạng bộ đôi cùng album phòng thu thứ hai của cô, Under My Skin – vốn thuộc sở hữu của hãng RCA Records.

Hoàn cảnh ra đời

Tháng 11 năm 2000,[1] Ken Krongard (đại diện bộ phận tìm kiếm và quản lý nghệ sĩ - A&R) đã mời Antonio "L.A." Reid (giám đốc hãng Arista Records lúc ấy) tới phòng thu của nhà sản xuất Peter Zizzo ở Manhattan để nghe Lavigne trình bày. Buổi thử giọng kéo dài 15 phút của Lavigne làm Reid "quá đỗi ấn tượng"[2] đến mức anh ngay lập tức ký hợp đồng để cô về dưới trướng Arista, với giá trị 1,9 triệu đô la Mỹ (USD)[A] cho hai album cùng khoản tiền ứng trước 900.000 USD để sáng tác nhạc.[3] Thời điểm đó, Lavigne nhận ra mình rất hợp với nhóm bạn trượt ván tại trường cấp ba ở quê nhà - hình ảnh ấy sau này được truyền tải qua album đầu tiên của cô. Dù yêu thích trượt ván, cô lại cảm thấy bất an khi ở trường. Được trang bị hợp đồng thu âm, Lavigne quyết định bỏ học để tập trung cho sự nghiệp âm nhạc.[1] Tuy nhiên, cô vẫn phải thông báo quyết định này với bố mẹ: "Tôi không thể từ chối [hợp đồng thu âm]. Đây là ước mơ cả đời tôi. Họ hiểu tôi khao khát điều này đến mức nào và bao nhiêu công sức tôi đã bỏ ra."[4][5]

Lavigne chuyển đến Los Angeles để cộng tác với nhạc sĩ sáng tác và nhà sản xuất Clif Magness. Anh đã trao cho cô toàn quyền sáng tạo trong quá trình viết nhạc. Lavigne và Magness cùng sáng tác "Losing Grip" và "Unwanted" - những tác phẩm mà cô cho rằng phản ánh đúng tầm nhìn của mình cho cả album.[6] Tuy nhiên, Arista không mấy hào hứng với những bản nhạc nặng chất guitar mà Lavigne sáng tác, khiến hãng đĩa phải tìm kiếm các nhà sản xuất khác để đáp ứng yêu cầu của họ.[7]

Đã hai năm kể từ khi ký hợp đồng, Lavigne (khi ấy vẫn là một gương mặt vô danh) thu hút sự chú ý của nhóm sản xuất ba người The Matrix. Arista không thể định hướng phong cách phù hợp cho Lavigne, nên Sandy Roberton, quản lý của nhóm, đề xuất: "Sao không để cô ấy làm việc cùng The Matrix vài ngày xem sao?"[8] Theo thành viên Lauren Christy, họ đã nghe những bản demo đầu tay của Lavigne và cảm nhận thấy "mang âm hưởng kiểu Faith Hill". Nhưng ngay khi thấy Lavigne bước vào phòng thu, The Matrix nhận ra phong cách âm nhạc mà cô đang theo đuổi hoàn toàn không ăn nhập với hình ảnh và thái độ của cô.[8] Sau một giờ trò chuyện, họ nhận ra: "Cô ấy không hài lòng nhưng cũng chưa biết mình muốn gì."[8]

The Matrix đã trình bày những ca khúc mang ảnh hưởng của Faith Hill - thể loại mà hãng đĩa muốn Lavigne thể hiện. Nhưng Lavigne thẳng thừng từ chối, khẳng định cô muốn những bản nhạc mang hơi hướng punk rock.[9] Cô mở cho The Matrix nghe một ca khúc tự thu âm mà mình đặc biệt yêu thích - một track có âm thanh gợi nhớ đến ban nhạc rock System of a Down. May thay, trước khi thành lập The Matrix, các thành viên từng có kinh nghiệm làm nhạc pop-rock, nên họ nhanh chóng thấu hiểu gu âm nhạc của Lavigne và biết mình cần làm gì. Họ yêu cầu cô quay lại vào ngày hôm sau. Trong thời gian đó, họ sáng tác một ca khúc sau này trở thành "Complicated" và một bài khác tên "Falling Down" (xuất hiện trong album nhạc phim Sweet Home Alabama). Khi Lavigne trở lại, The Matrix trình bày hai ca khúc này - chúng chính là chìa khóa giúp cô nhận ra con đường nghệ thuật mình nên đi.[8]

Khi Josh Sarubin (giám đốc bộ phận A&R và là người ký hợp đồng với Lavigne) nghe "Complicated", ông lập tức nhận ra đây chính là ca khúc dành cho cô. Lavigne trình bày bài hát này cho Reid và ông hoàn toàn ủng hộ hướng đi âm nhạc mà cô cùng The Matrix đang theo đuổi. Sau đó "Complicated" được chọn làm đĩa đơn chủ đạo của album.[8] Reid yêu cầu Lavigne quay lại làm việc với The Matrix, ban đầu trong vòng một tháng.[7][9] Arista trao cho nhóm toàn quyền sáng tác và sản xuất 10 ca khúc - công việc này kéo dài hai tháng.[8] Album ban đầu được đặt tên là Anything but Ordinary (theo tên một ca khúc do The Matrix sản xuất), nhưng Lavigne đã đề nghị Reid đổi thành Let Go.[6][10]

Bìa album được chụp tại góc phố BroadwayCanalManhattan, New York.[11] Năm 2022, nhân kỷ niệm 20 năm phát hành album, Lavigne đã quay lại địa điểm này và tái hiện lại hình ảnh bìa album trong một video ngắn.[11][12]

Sáng tác và thu âm

Cùng với The Matrix, Lavigne đã thu âm các ca khúc tại Decoy Studios, tọa lạc ở Valley Village - một vùng ngoại ô Los Angeles.[7] Cô cũng hợp tác với nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất Curt FrascaPeter Zizzo - chủ phòng thu tại Manhattan nơi Lavigne từng thể hiện tài năng trước khi ký hợp đồng với Arista và cũng là nơi cô thu âm một số track nhạc.[13][9] Scott Spock của The Matrix đảm nhiệm vai trò kỹ sư thu âm chính cho dự án, trong khi Tom Lord-Alge được giao phối trộn các bản nhạc.[7] Lavigne thu âm trọn vẹn phần hát trên "trên nền khí nhạc đã được hoàn thiện gần như hoàn chỉnh". Spock tiết lộ Lavigne thường chỉ cần thu 5-6 lượt cho mỗi bài hát "và khoảng 90% bản thu cuối cùng đều lấy từ lượt đầu tiên hoặc thứ hai." The Matrix cũng đóng góp phần hát bè.[7]

Khi được giới thiệu là một ca sĩ kiêm sáng tác nhạc, mức độ tham gia của Lavigne đã gây ra nhiều tranh cãi. Lavigne ngầm khẳng định mình là tác giả chính của album. Trong một bài phỏng vấn với tạp chí Rolling Stone, cô cho biết khi làm việc với The Matrix, một thành viên sẽ có mặt trong phòng thu khi họ sáng tác, nhưng không tham gia viết phần guitar, lời hay giai điệu. Theo Lavigne, cô và Christy cùng viết toàn bộ phần lời. Graham sẽ nghĩ ra một số đoạn guitar, "và tôi sẽ quyết định 'Ừ, tôi thích đoạn này' hoặc 'Không, tôi không thích'. Không có bài hát nào trong số đó là không phải của tôi."[6]

The Matrix (nhóm sản xuất 6 bài hát cho Lavigne, trong đó năm bài xuất hiện trong album)[7] lại có cách giải thích khác về quá trình hợp tác. Theo họ, chính họ đã viết phần lớn nội dung cho ba đĩa đơn: "Complicated", "Sk8er Boi" và "I'm with You" - ba bài này được sáng tác bằng guitar và piano. Christy chia sẻ: "Avril sẽ đến và hát vài giai điệu, thay đổi vài từ ngữ ở đây đó."[6] Reid đã bổ sung quan điểm về vấn đề tác quyền: "Nếu tôi tìm kiếm một đĩa đơn cho nghệ sĩ, tôi không quan tâm ai là người viết. Avril có tự do làm điều cô ấy muốn và những ca khúc đều thể hiện góc nhìn của cô ấy... Avril luôn tự tin với ý tưởng của mình."[6]

Dù cần những bản pop "để bứt phá" vào làng nhạc, Lavigne cảm thấy "Complicated" không thực sự phản ánh con người và kỹ năng sáng tác của cô. Dù vậy, cô vẫn biết ơn ca khúc này vì nó đã khởi động sự nghiệp cho cô thành công. Lavigne thiên về "Losing Grip" hơn, vì "nó có ý nghĩa hơn rất nhiều khi xuất phát trực tiếp từ chính người nghệ sĩ".[6]

Phong cách âm nhạc

Let Go không chỉ được ca ngợi như một viên ngọc quý của pop-punk,[14] mà còn được coi là album đã cách mạng hóa giới nhạc pop-punk bằng cách đưa thể loại này vào dòng phổ thông và góp phần thúc đẩy sự trỗi dậy của dòng nhạc pop chịu ảnh hưởng punk do các nữ nghệ sĩ dẫn dắt.[15] Album còn được mô tả mang phong cách alternative rock,[16][17][18] pop rock,[18] post-grunge[18] và mainstream rock,[19] với các yếu tố của pop[20][21]grunge.[16][22] Clare Gehlich (The Statesman) nhận định album pha trộn giữa pop-punk, alternative rock và teen pop - những thể loại giúp tác phẩm của cô khác biệt với các đồng nghiệp cùng thời.[23] Về mặt ca từ, album khai thác các chủ đề như sự thể hiện bản thân, tính kiên cường và trao quyền.[23]

Album chứa đựng nhiều ảnh hưởng âm nhạc đa dạng.[19] Năm 2018, Pitchfork nhận xét Let Go "sở hữu hàng loạt bản hit làm thay đổi thể loại cùng những thay đổi tâm trạng đủ khiến một học sinh năm hai xấu hổ."[17] Sự đa dạng này một phần đến từ gu âm nhạc phong phú của Lavigne, một phần do hãng đĩa và các nhà sản xuất đang định hướng cô theo nhiều phong cách khác nhau. Năm ca khúc cô viết cùng Magness năm 2001, bao gồm "Losing Grip" và "Unwanted", mang âm hưởng alternative rock mạnh mẽ khiến hãng đĩa lo ngại. Lavigne chia sẻ với Rolling Stone vào năm 2003: "Arista sợ chết khiếp rằng tôi sẽ cho ra mắt cả album mang phong cách như những bài này",[6] họ muốn cô đi theo hướng phù hợp với radio hơn. Vì mục đích này, Arista đã ghép cô với nhóm sản xuất The Matrix - những người đã viết ca khúc pop rock "Complicated" với sự hỗ trợ nhỏ từ Lavigne. Một nửa album được đồng sáng tác với The Matrix, nửa còn lại với Magness.[17] Sarah Manavis từ The Guardian cho biết một số ảnh hưởng nhạc đồng quê ban đầu của Lavigne cùng định hướng nghệ thuật nguyên bản của cô vẫn có thể được cảm nhận qua "những tiết tấu mộc mạc và lối kể chuyện" trong album".[24]

Phát hành và quảng bá

Tập tin:AvrilShow.jpg
Lavigne trong buổi hòa nhạc quảng bá album

Album được phát hành vào ngày 4 tháng 6 năm 2002 tại Canada và Mỹ. Sau đó, ngày 22 tháng 7, Let Go ra mắt tại các cửa hàng băng đĩa toàn cầu, và ngày 26 tháng 8 tại một số nước châu Âu như Anh và Ireland. Phiên bản DataPlay của album phát hành vào tháng 9 năm 2002. Arista đã ký thỏa thuận với DataPlay từ đầu năm 2002 và đưa Let Go vào danh sách phát hành cùng các album của ca sĩ rock Santana và ca sĩ Whitney Houston.[25][26]

Dù hướng tới khán giả tuổi teen - chiến lược marketing giúp khởi động sự nghiệp Lavigne thành công,[6][27] cô còn biểu diễn tại nhiều chương trình nghệ thuật đa ca sĩ do đài phát thanh tài trợ khắp nước Mỹ,[28] giúp tăng doanh số album trong mùa lễ hội. Lavigne bắt đầu chuyến lưu diễn headline đầu tiên - Try to Shut Me Up Tour - diễn ra từ ngày 23 tháng 1 năm 2003 đến ngày 4 tháng 6 năm 2003. Cô lưu diễn cùng ban nhạc gồm tay trống Matthew Brann, tay bass Mark Spicoluk cùng hai tay guitar Jesse Colburn và Evan Taubenfeld - những người cô tập hợp sau khi ký hợp đồng.[13] Trong tour, cô trình diễn toàn bộ ca khúc từ Let Go cùng các bản cover "Knockin' on Heaven's Door" (Bob Dylan) và "Basket Case" (Green Day).[29]

Lavigne ghi hình buổi diễn tại Buffalo, New York vào ngày 18 tháng 5 năm 2003 - đêm cuối tour Bắc Mỹ kéo dài 5 tuần. DVD tour diễn My World phát hành vào ngày 4 tháng 11 năm 2003, do Arista Records và 20th Century Fox Home Entertainment đồng sản xuất. DVD bao gồm liveshow, phim hậu trường, 5 video ca nhạc cùng đĩa CD bonus 6 track có ca khúc "Why" chưa từng phát hành.[30]

Đĩa đơn

"Complicated" được Arista phát hành làm đĩa đơn chủ lực cho album, đóng vai trò giới thiệu Lavigne đến mọi nhóm tuổi.[9] Dù được kỳ vọng sẽ thu hút đa dạng đối tượng khán giả, video âm nhạc của ca khúc lại cho thấy Lavigne cùng ban nhạc gây náo loạn trong một trung tâm thương mại - "hình ảnh khiến người lớn tuổi chỉ muốn hét lên 'Dọn ngay đống hỗn độn đó đi!' hơn là chạy đi mua đĩa".[27] Bài hát đứng đầu nhiều bảng xếp hạng và nhận hai đề cử giải Grammy cho bài hát của nămtrình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất.[23]

Đĩa đơn thứ hai "Sk8er Boi" nhắm thẳng đến đối tượng giới trẻ yêu pop punk.[9] Việc phát hành "Sk8er Boi" ban đầu vấp phải sự phản đối từ nhiều giám đốc chương trình phát thanh. Tuy nhiên, thái độ của họ thay đổi khi chính thính giả khiến họ phải suy nghĩ lại: lượt phát liên tục ca khúc này sớm chứng minh thành công khi nó được cả sinh viên đã tốt nghiệp lẫn thanh thiếu niên yêu thích. Bài hát leo lên vị trí số một trên các làn sóng phát thanh mainstream tại Mỹ.[27]

"I'm with You" được phát hành vào cuối tháng 11 năm 2002, sát dịp Giáng sinh như lời nhắc nhở các bậc phụ huynh về album - nếu không mua cho bản thân thì ít nhất cũng mua cho con cái họ.[9][27] Ca khúc tiếp tục ghi dấu ấn khi lọt vào top 4 Billboard Hot 100, đứng đầu bảng xếp hạng phát thanh và nằm trong top 10 tại Anh cùng Canada. Dù không chính thức phát hành tại Úc, bài hát vẫn được phát sóng rộng rãi trên radio lẫn truyền hình. Cho đến nay, Let Go vẫn là album duy nhất của Lavigne có nhiều đĩa đơn lọt top 10 tại Mỹ. Ca khúc này cũng nhận hai đề cử Grammy ở cùng hạng mục với "Complicated". Cách sắp xếp thứ tự phát hành đĩa đơn của album (với "I'm with You" là bài thứ ba) bị coi là "gây tranh cãi", bởi nhiều người cho rằng đây mới chính là "bản hit tiềm năng nhất album" và có thể định hình hình ảnh một Lavigne trưởng thành hơn nếu được phát hành đầu tiên.[27] Reid chia sẻ: "Một số người thực sự không hiểu điều đó. Với video đầu tiên, có lo ngại rằng vì nó quá trẻ trung và vui nhộn, có thể khiến những người yêu nhạc nghiêm túc xa lánh."[27]

"Losing Grip" được phát hành làm đĩa đơn thứ tư từ album, nhằm "tạo cầu nối cho album tiếp theo" - thứ mà Lavigne khẳng định sẽ "mang âm hưởng rock mạnh mẽ hơn" so với bản phát hành đầu tay.[27] Năm 2004, bài hát giành được đề cử giải Grammy cho trình diễn giọng rock nữ xuất sắc nhất.[31]

"Mobile" ra mắt tại New Zealand vào tháng 5 năm 2003 với vai trò đĩa đơn thứ năm. Sau đó, ca khúc xuất hiện trong phim The Medallion (2003), Wimbledon (2004) và một cảnh ngắn trong phim Just Married. Năm 2011, một video ca nhạc chưa hoàn thiện của bài hát đã bị rò rỉ trên Internet, sử dụng các cảnh quay chính thức chưa từng được công bố.[32]

Bản kỷ niệm 20 năm

Một phiên bản mới của Let Go (do John Feldmann phối lại) đã chính thức phát hành vào ngày 3 tháng 6 năm 2022, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ra mắt album gốc.[33] Đĩa tái bản này bao gồm bản thu âm mới của ca khúc "Breakaway". Ban đầu Lavigne đã sáng tác bài hát này vào năm 2001, sau đó chuyển lại cho ca sĩ người Mỹ Kelly Clarkson thu âm cho nhạc phim The Princess Diaries 2: Royal Engagement. Bản demo gốc do Lavigne thể hiện đã bị rò rỉ trên mạng từ năm 2014.[34][35][36]

Đánh giá chuyên môn

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
NguồnĐánh giá
Metacritic68/100[37]
Nguồn đánh giá
NguồnĐánh giá
AllMusic     [19]
Blender     [38]
Entertainment WeeklyB−[39]
Melodic     [40]
Pitchfork6,6/10[17]
Q     [37]
Robert Christgau(choice cut)[41]
Rolling Stone     [42]
Slant Magazine     [43]
Stylus MagazineB[44]

Let Go nhận được nhiều đánh giá tích cực từ giới phê bình,[45][36][46] đạt điểm 68/100 trên Metacritic - tổng hợp từ 9 bài đánh giá.[37] Nhà phê bình Pat Blashill của tạp chí Rolling Stone nhận xét album "chứa đựng trọn vẹn 12 bản 'thánh ca' cuồng nhiệt phù hợp với TRL (Total Request Live)", khen ngợi Lavigne sở hữu "chất giọng tuyệt vời" và hợp tác với "đội ngũ sản xuất đình đám".[42] Christina Saraceno từ AllMusic ghi nhận Lavigne "khéo léo thể hiện đa dạng phong cách" đồng thời là "nhạc sĩ có năng lực với kỹ thuật thanh nhạc vững vàng", dù cho rằng "ở độ tuổi này, cô vẫn đang tìm kiếm phong cách riêng, chịu ảnh hưởng từ những giai điệu lớn lên cùng".[19] John Perry của tạp chí Blender tóm gọn Let Go là "màn ra mắt xuất sắc của dòng guitar-pop".[38] Tạp chí Q khen ngợi Lavigne thể hiện "sự khôn ngoan âm nhạc vượt xa tuổi tác",[37] trong khi Kaj Roth (Melodic) nhận xét cô "hát ngọt ngào với nhiều ca khúc mang hơi hướng Alanis Morissette".[40] Jon Caramanica (Entertainment Weekly) chỉ chấm album điểm B−, cho rằng "album rock guitar đơn điệu này chỉ được cứu vãn bởi sự chân thành trong ca từ".[39]

Một số nhà phê bình có chung nhận định về chất lượng lời bài hát. Saraceno nhận xét Lavigne "cần trưởng thành hơn trong khâu viết lời", chỉ ra "Sk8er Boi" bộc lộ "điểm yếu về ca từ" và cho rằng cách diễn đạt trong "Too Much to Ask" "gượng gạo đôi khi ngây ngô".[19] Perry gọi lời "Sk8er Boi" là "ngây thơ đáng yêu",[38] trong khi vài nhà phê bình khác cho rằng album không thực sự "nổi loạn" hay "chân thực" như quảng cáo.[47] Trong một cuộc bình chọn của độc giả Rolling Stone, Let Go được xếp thứ 4 trong danh sách album hay nhất thập niên 2000.[48]

Giải thưởng

Album đã mang về cho Lavigne vô số giải thưởng từ các tổ chức trên toàn thế giới. Thành công vượt trội về mặt thương mại đã giúp cô giành danh hiệu Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất tại lễ trao giải Video âm nhạc của MTV 2002.[49] Cô cũng xuất sắc đoạt 3 giải tại giải MTV châu Á 2003, bao gồm Nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất, Nghệ sĩ đột phá nhất và Giải thưởng phong cách - trở thành nghệ sĩ đoạt nhiều giải nhất đêm đó.[50] Tại giải Grammy 2003, album giúp Lavigne nhận được 5 đề cử, trong đó có Nghệ sĩ mới xuất sắc nhấtAlbum giọng pop xuất sắc nhất. Hai đĩa đơn "Complicated" và "I'm with You" lần lượt được đề cử ở hạng mục Bài hát của năm tại Grammy 2003 và 2004, nâng tổng số đề cử của album lên con số 8.[51][52] Tại giải Juno 2003 được tổ chức ở Ottawa, Lavigne đã nhận 6 đề cử và xuất sắc giành 4 giải, bao gồm Album của năm và Nghệ sĩ mới của năm.[53]

Giải thưởng cho Let Go
Năm Tổ chức Giải thưởng Kết quả C.thích.
2002
Giải thưởng Âm nhạc Radio Disney Album xuất sắc nhất Đoạt giải [54]
2003
Giải Grammy Album giọng pop xuất sắc nhất Đề cử [23]
Giải thưởng Âm nhạc Hong Kong Top Sales Top 10 album ngoại ngữ bán chạy nhất Đoạt giải [55]
Giải thường Âm nhạc Hungary Album modern rock ngoại ngữ của năm Đề cử [56]
Giải Japan Gold Disc Album rock & pop của năm Đoạt giải [57]
Giải Juno Album của năm Đoạt giải [58]
Album pop của năm Đoạt giải
Giải Video âm nhạc của MTV Nhật Bản Album của năm Đề cử [59]
Premios Oye! Đĩa nhạc tiếng Anh chính Đoạt giải [60]
Giải Teen Choice Âm nhạc chọn lọc: Album Đề cử [61]

Diễn biến thương mại

Let Go đã đạt được thành công vang dội tại Mỹ, được tạp chí Entertainment Weekly vinh danh là một trong những album pop đầu tay ấn tượng nhất năm 2002.[27] Theo Billboard, tính đến năm 2022, đây là một trong 15 album thành công nhất thế kỷ 21 dù không có đĩa đơn nào đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[62] Album ra mắt ở vị trí thứ 8 trên Billboard 200 với 62.000 bản được bán ra trong tuần đầu, sau đó leo lên vị trí á quân. Thành tích này có được nhờ sức hút từ "Complicated" - ca khúc được phát sóng liên tục trên MTV.[63] Doanh số ổn định giúp album giữ vững vị trí trong top 10 suốt 37 tuần liên tiếp.[64]

Mỗi tuần, Let Go đều bán được ít nhất 100.000 bản cho đến cuối năm 2002, nhanh chóng cán mốc 2 triệu bản.[9] Đến tháng 12 năm 2002, Entertainment Weekly báo cáo album đã bán được 3,9 triệu bản, trở thành album bán chạy thứ ba năm đó tại Mỹ.[65] Số liệu cuối năm từ Nielsen SoundScan tiết lộ Let Go đạt 4,1 triệu bản chỉ sau 30 tuần phát hành.[66][67] Album được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) chứng nhận hai bạch kim[64] và trở thành album debut có doanh số cao nhất 2002, đồng thời là album bán chạy nhất của nữ nghệ sĩ.[68] Ngày 30 tháng 4 năm 2003, RIAA nâng chứng nhận lên 6x Bạch kim (tương đương 6 triệu bản).[69] Đây vẫn là album bán chạy nhất sự nghiệp Lavigne với 6,9 triệu bản tại Mỹ và hơn 16 triệu bản toàn cầu.[70]

Album thường đạt vị trí cao trong và sau mùa lễ hội. Sau phần trình diễn mở màn tại giải Âm nhạc Billboard 2002, Let Go tiếp tục là một trong những album bán chạy dịp lễ với 272.000 bản/tuần.[71] Tuần cao điểm nhất là ngày 4 tháng 1 năm 2003 với 363.000 bản. Dù đạt đỉnh ở vị trí số 2 từ tháng 9 năm 2002, album tái xuất ở vị trí này vào ngày 1 tháng 2 năm 2003.[72] Doanh số tăng đột biến nhờ màn trình diễn của Lavigne trong chương trình Saturday Night Live (11 tháng 1). Dù bị nghi ngờ hát nhép, cô khẳng định: "Tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ làm vậy". Thời điểm này, Lavigne cũng nhận được sự chú ý lớn từ truyền thông nhờ nhiều đề cử Grammy 2003 và chuyến lưu diễn Bắc Mỹ đầu tiên.[73]

Tại Anh, album mất 18 tuần để leo lên đỉnh UK Albums Chart (2003), giúp Lavigne (17 tuổi 9 tháng) trở thành nữ nghệ sĩ trẻ nhất đạt thành tích này.[74] Kỷ lục đã bị Joss Stone xô đổ vào tháng 10 năm 2004 với album Mind Body & Soul.[75] Doanh số album bùng nổ trên toàn cầu nhờ sức hút liên tục của đĩa đơn "Sk8er Boi".[76] Tại Anh, Let Go trở thành album bán chạy thứ 12 năm 2003[77] và được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Anh (BPI) chứng nhận 6x Bạch kim.[78]

Tại quê nhà Canada, album đạt doanh số hơn 1 triệu bản trong chưa đầy một năm, được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Canada (Music Canada) trao chứng nhận kim cương vào tháng 5 năm 2003.[79] Đây là album bán chạy nhất của một nghệ sĩ Canada trong thế kỷ 21 (tính đến năm 2008).[80] Ở Úc, Let Go được Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (ARIA) chứng nhận 7x Bạch kim năm 2003 với hơn 490.000 bản đã phân phối đến các nhà bán lẻ.[81]

Ảnh hưởng và di sản

Let Go được coi là album định hình nhạc pop và pop rock đầu thập niên 2000,[82][83] mang đến lựa chọn khác biệt giữa bối cảnh nhạc teen pop thống trị thời đó.[84][36] Theo CBC.ca, sự pha trộn thể loại trong album đã thu hút đa dạng khán giả, góp phần đưa pop-punk đến gần hơn với thế hệ trẻ, trong khi phần ca từ được giới trẻ đón nhận nhờ tính gần gũi.[36] Izzy Copestake từ Vice nhận định album đặc biệt gây tiếng vang với thế hệ Millennial, gọi đây là "một trong những album biểu tượng nhất thiên niên kỷ".[85] Charlotte Oliver (tạp chí Heat) cho rằng các ca khúc đã kết hợp nhuần nhuyễn pop đại chúng và alternative rock, khiến cả hai nhóm fan đều say mê.[46]

Thành công thương mại của Let Go không chỉ chứng minh sức hút âm nhạc Lavigne mà còn khơi mào tranh luận về thể loại - nhiều nhà phê bình tranh cãi liệu đây là album punk, pop-punk hay rock đại chúng.[36] Tuy nhiên, nữ ca sĩ luôn phủ nhận danh xưng "nghệ sĩ punk", coi đó chỉ là nhãn mác công chúng gán cho mình.[86] Khi nhìn lại, nhiều tạp chí âm nhạc xếp Let Go vào hàng những album đầu tay vĩ đại nhất.[84][87][88] CBC Music nhấn mạnh Lavigne đã tiếp bước Alanis Morisette, Sarah McLachlan, Celine DionShania Twain để chứng minh "nữ nghệ sĩ Canada có thể tạo ra những album bán chạy nhất làng nhạc pop đại chúng".[89] Tạp chí Rolling Stone xếp hạng Let Go ở vị trí 225 trong danh sách album xuất sắc nhất thế kỷ 21,[90] còn Toronto Star vinh danh đây là một trong những album Canada quan trọng nhất thập niên 2000.[91]

"Phong thái bất cần, phong cách grunge cùng âm hưởng alternative đã đưa Let Go vượt lên đám đông nhạc pop. Chỉ sau một đêm, các cô gái khắp thế giới đua nhau thay vòng cổ bằng cà vạt nam, bỏ lớp long lanh body glitter để đeo vòng tay da, và thay quần jeans bằng cargo pants. Những video hình ảnh Lavigne phá phách trung tâm thương mại hay trượt ván cùng hội bạn trai được họ xem đi xem lại. Let Go đã khai sinh một đội quân fan 7-15 tuổi tràn đầy nỗi u uất, khao khát được biến hình theo hình mẫu Lavigne."

Phát biểu của Sarah Manavis (The Guardian) về ảnh hưởng tức thì của Let Go.

Let Go được coi là một trong những tác phẩm định hình lại làng nhạc pop-punk, đưa thể loại này vào dòng chính thống và mở đường cho sự trỗi dậy của các ban nhạc/nghệ sĩ nữ trong dòng nhạc này.[15][36][92][93] Album góp phần tái định hình âm thanh pop đương đại,[23] với nhận định từ Matt Mitchell (Paste): "[album] biến phong trào phục hưng rock những năm 2000 thành tượng đài bất khả xâm phạm".[88] Apple Music nhìn nhận di sản của Let Go vượt xa việc "đưa alt-rock tiến sâu vào không gian pop... mà còn ở cách Lavigne cân bằng giữa chất liệu nổi loạn... với sự kịch tính-nhạy cảm của một ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác truyền thống".[94]

Phong cách âm nhạc của album giúp Lavigne tách biệt khỏi các đồng nghiệp như Britney Spears, Christina Aguilera hay NSYNC, cùng dòng bubblegum pop thống trị làng sóng phát thanh đương thời.[23][84] Dù vậy, cô cũng đối mặt chỉ trích từ những người theo chủ nghĩa thuần túy, nghi ngờ tính chân thực và cáo buộc cô "đóng vai" (posing).[95][96] Khi được tôn vinh như biểu tượng thời trang,[95] phong cách skater-punk đặc trưng của Lavigne trong giai đoạn này được fan hâm mộ sao chép rộng rãi,[92][97][98] trở thành tuyên ngôn phản kháng lại hình ảnh glamour, quá nữ tính và gợi cảm vốn là tiêu chuẩn ngành công nghiệp dành cho nữ nghệ sĩ trẻ.[95][45][24][99][100] Andrew Leahey (AllMusic) nhận xét: "Cô trở thành một kiểu ngôi sao mới - không cần dựa vào video sexy hay âm nhạc gợi dục".[98] Album cùng hình tượng nổi loạn của Lavigne khiến giới truyền thông phong tặng danh hiệu "Công chúa Pop Punk" ngay từ buổi đầu sự nghiệp.[24][101]

Let Go cùng những đĩa đơn của album đã đưa Avril Lavigne trở thành hiện tượng văn hóa,[102] giúp cô trở thành nghệ sĩ dòng chính - một thành tựu hiếm có đối với nữ nghệ sĩ trong dòng nhạc vốn do nam giới thống trị.[96] Dù không phải người đầu tiên khai phá phong cách này,[84][96] thành công của album đã định hướng âm nhạc cho nhiều nghệ sĩ như Liz Phair, Ashlee Simpson, Kelly Clarkson,[103] FeFe Dobson,[91][104][105] Kelly Osbourne, Lindsay Lohan,[46] Katy Rose, Skye Sweetnam[17]Fall Out Boy.[94] Jonathan Bradley (Billboard) nhận xét rằng khi các ngôi sao Disney Channel như Hilary Duff, Miley CyrusDemi Lovato chuyển từ diễn xuất sang âm nhạc, họ đều chịu ảnh hưởng từ Let Go hơn là từ các tác phẩm của Spears, Aguilera hay Justin Timberlake.[103] Richie Assaly của Toronto Star cho biết album đã "mở đường cho làn sóng các ban nhạc pop-punk nổi tiếng như Simple PlanGood Charlotte",[105] thay thế "thời kỳ thống trị của teen pop" bằng "kỷ nguyên pop chịu ảnh hưởng từ các nữ ca sĩ-nhạc sĩ" và "một thế hệ nghệ sĩ trẻ mới".[95]

Trong nhiều thập kỷ kể từ khi phát hành, Let Go liên tục được các nghệ sĩ nhắc đến như nguồn cảm hứng âm nhạc, và được coi là một phần của phong trào đưa guitar-driven pop (nhạc pop lấy guitar làm chủ đạo) trở lại xu hướng chủ đạo.[36] Album đã truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ đương đại như Olivia Rodrigo, Billie Eilish, Maggie Lindemann,[23] Beabadoobee,[84] Snail MailSoccer Mommy.[94] Let Go cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa The Matrix lên đài danh vọng, giúp bộ ba này trở thành những nhà sản xuất và nhạc sĩ được săn đón,[106] với công thức mà Jamieson Cox (Pitchfork) miêu tả là "những khúc riff sắc sảo, tiếng trống live mạnh mẽ, cùng lớp âm thanh nền lấp lánh".[17] Tuy nhiên, họ không còn hợp tác với Lavigne sau Let Go, với lý do được cho là khác biệt sáng tạo và bất đồng về mức độ đóng góp sáng tác của Lavigne.[17][107][108][109]

Nhân kỷ niệm 20 năm phát hành vào năm 2022, CBC Music đã đăng tải nhận định từ 15 nhạc sĩ và nhà phê bình về giá trị văn hóa của album.[36] Năm 2024, Clare Gehlich từ The Statesman nhận xét rằng sự trỗi dậy trở lại của văn hóa những năm 2000 và nhạc pop-punk đã làm nổi bật "tầm ảnh hưởng lâu dài" của album, mà theo cô đã vượt qua danh hiệu album đầu tay thông thường khi tiếp tục "định hình bức tranh âm nhạc hai thập kỷ sau khi phát hành".[23] Theo Manavis, lễ kỷ niệm 20 năm của album trùng hợp với "sự đánh giá lại văn hóa Y2K bởi một thế hệ quá trẻ để có thể nhớ về nó".[24] Tương tự, Aimee Phillips từ Gigwise nhận định rằng album đã "khắc họa thế giới tuổi teen một cách súc tích đến mức vẫn còn vang vọng cho đến ngày nay, chứng minh rằng đây không chỉ là album của thế hệ millennial mà còn thấm sâu vào nhận thức của Gen Z".[84]

Danh sách ca khúc

Let Go – Bản chuẩn
STTTiêu đềSáng tácNhà sản xuấtThời lượng
1."Losing Grip"Magness3:53
2."Complicated"
The Matrix4:05
3."Sk8er Boi"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix3:23
4."I'm with You"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix3:44
5."Mobile"
  • Lavigne
  • Magness
Magness3:31
6."Unwanted"
  • Lavigne
  • Magness
Magness3:40
7."Tomorrow"
Frasca3:48
8."Anything but Ordinary"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix4:12
9."Things I'll Never Say"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix3:44
10."My World"
  • Lavigne
  • Magness
Magness3:27
11."Nobody's Fool"Zizzo3:57
12."Too Much to Ask"
  • Lavigne
  • Magness
Magness3:46
13."Naked"
  • Lavigne
  • Frasca
  • Breer
  • Frasca
  • Magness
3:27
Tổng thời lượng:48:37
Let Go – bản của Nhật (bài tặng kèm)
STTTiêu đềSáng tácNhà sản xuấtThời lượng
14."Why"
  • Lavigne
  • Zizzo
Zizzo4:00
Tổng thời lượng:52:37
Let Go – bản đặc biệt của Nhật Bản (bài tặng kèm)
STTTiêu đềThời lượng
15."Complicated" (TV track version)4:05
16."Sk8er Boi" (TV track version)3:24
17."I'm with You" (TV track version)3:46
18."Losing Grip" (TV track version)3:53
Tổng thời lượng:67:45
Let GoBản kỷ niệm 20 (bài tặng kèm)[a]
STTTiêu đềSáng tácNhà sản xuấtThời lượng
14."Why"
  • Lavigne
  • Zizzo
Zizzo3:54
15."Get Over It"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix3:30
16."Breakaway"
3:43
17."Falling Down"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix3:58
18."I Don't Give"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix3:39
19."Make Up"
  • Lavigne
  • Christy
  • Spock
  • Edwards
The Matrix3:15
Tổng thời lượng:70:43
Let Go – bản tour hạn chế của Nhật (tặng kèm DVD)
STTTiêu đềThời lượng
1."Complicated" (video) 
2."Sk8er Boi" (video) 
3."I'm with You" (video) 
4."A Day in the Life – N.Y.C." (EPK) 
Let Go – bản tour châu Á (tặng kèm đĩa)
STTTiêu đềThời lượng
1."Get Over It" (audio) 
2."Why" (audio) 
3."Unwanted" (live audio) 
4."I'm with You" (live audio) 
5."Nobody's Fool" (live audio) 
6."Exclusive Behind-the-Scenes Footage" (video) 
7."Complicated" (video) 
8."Sk8er Boi" (video) 
9."I'm with You" (video) 
10."Losing Grip" (video) 

Xếp hạng

Chứng nhận và doanh số

Quốc gia Chứng nhận Số đơn vị/doanh số chứng nhận
Argentina (CAPIF)[185] 3× Bạch kim 120.000^
Úc (ARIA)[81] 7× Bạch kim 490.000^
Áo (IFPI Áo)[186] Bạch kim 30.000*
Bỉ (BEA)[187] Vàng 25.000*
Brasil (Pro-Música Brasil)[188] 2× Bạch kim 250.000*
Canada (Music Canada)[189] Kim cương 1.000.000^
Đan Mạch (IFPI Đan Mạch)[190] 3× Bạch kim 60.000
Phần Lan (Musiikkituottajat)[191] Vàng 16,256[191]
Pháp (SNEP)[192] Bạch kim 300.000*
Đức (BVMI)[193] 3× Vàng 750.000^
Hy Lạp (IFPI Hy Lạp)[122] Vàng 15.000^
Hungary (Mahasz)[194] Vàng 10.000^
Nhật Bản (RIAJ)[196] Million 1.300.000[195]
Hà Lan (NVPI)[197] Bạch kim 80.000^
New Zealand (RMNZ)[198] 5× Bạch kim 75.000^
Na Uy (IFPI)[199] Bạch kim 50.000*
Ba Lan (ZPAV)[200] Vàng 0*
Bồ Đào Nha (AFP)[201] Vàng 20.000^
Singapore (RIAS)[202] Vàng 5.000*
Hàn Quốc 209.459[C]
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[205] Bạch kim 100.000^
Thụy Điển (GLF)[206] Bạch kim 60.000^
Thụy Sĩ (IFPI)[207] 2× Bạch kim 80.000^
Anh Quốc (BPI)[78] 6× Bạch kim 1,820,483[208]
Hoa Kỳ (RIAA)[209] 7× Bạch kim 7.000.000
Tổng hợp
Châu Âu (IFPI)[210] 2× Bạch kim 2.000.000*
Toàn thế giới 16.000.000[70]

* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ.
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.
Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ và phát trực tuyến.

Chú thích

Ghi chú

  1. ^ Nguồn The Washington Post thì ghi là 1,25 triệu USD.[2]
  2. ^ Phiên bản tiêu chuẩn và phiên bản giới hạn tại Nhật Bản đạt vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng Nhật Bản, trong khi phiên bản tặng kèm đặc biệt đạt vị trí thứ 28 và phiên bản tại Nhật Bản đạt vị trí thứ 241.
  3. ^ Tại Hàn Quốc, Let Go đã bán được 177.731 bản tính đến tháng 5 năm 2003.[203] và phiên bản đóng gói lại của album đã bán được 31.728 bản tính đến tháng 8 năm 2003.[204]

Tham khảo

  1. ^ a b Pak, SuChin; D'Angelo, Joe. "Avril Lavigne: The Real Deal". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  2. ^ a b David, Seagal (ngày 13 tháng 1 năm 2003). "Avril Lavigne, Unvarnished in a World off Pop Polish, Ragamuffin Rock" (bằng tiếng Anh). The Washington Post. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  3. ^ Thorley, Joe (2003). Avril Lavigne: the unofficial book (bằng tiếng Anh). Luân Đôn: Virgin. tr. 30. ISBN 1-85227-049-7. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024. Reid was there and offered her a record deal, rumoured to be worth in excess of 1.9 million USD, on the spot. Shortly after, Avril was also offered a 1.4 million USD publishing advance. That's pretty big.
  4. ^ "Cdn. teen Avril Lavigne climbing the pop charts". The Canadian Press. ngày 3 tháng 6 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010.
  5. ^ Quigley, Maeve (ngày 7 tháng 9 năm 2003). "They think I'm a tomboy .. but I'm looking forward to a white wedding". Sunday Mirror. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
  6. ^ a b c d e f g h Eliscu, Jenny (ngày 20 tháng 3 năm 2003). "Little Miss Can't Be Wrong". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  7. ^ a b c d e f Jackson, Blair (ngày 1 tháng 11 năm 2002). "Recording Vocals". Mixonline.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  8. ^ a b c d e f Buskin, Richard (tháng 4 năm 2006). "The Matrix: Writing & Producing in LA". SOS. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  9. ^ a b c d e f g Willman, Chris (ngày 1 tháng 11 năm 2002). "Avril Lavigne The Anti-Britney". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  10. ^ Burlingame, Jeff. Avril Lavigne: Celebrity with Heart (bằng tiếng Anh). tr. 39. ISBN 9780766034075. The album, by the way, almost had a different name. Label boss L.A. Reid thought the album should be named after one of its songs, "Anything but Odinary". But Avril Lavigne had other ideas, and told Reid as much. She called him and said, "Dude, I don't want to name it that. Can I just name 'Let Go'.
  11. ^ a b Elie (ngày 30 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne Marks 20th Album Anniversary on Canal Street". boweryboogie.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  12. ^ DeSantis, Rachel (ngày 29 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne Recreates Classic 'Let Go' Album Cover in N.Y.C.: '20 Years Later...'". people.com (bằng tiếng Anh). People. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  13. ^ a b Pak, SuChin; D'Angelo, Joe. "Avril Lavigne: The Real Deal". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  14. ^ Solomon, Rosie (ngày 5 tháng 10 năm 2022). "The Genius Of… Let Go by Avril Lavigne". Guitar.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025. Let Go comprises 13 tracks of pure unadulterated teenage angst, and shaped the world of pop-punk into what it is today.
  15. ^ a b "6 Canadian albums that changed pop punk forever" (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2017.
  16. ^ a b "Backstreet Boys & Avril Lavigne" (bằng tiếng Anh). Boston Theater. Let Go was the alt. rock, grungy soundtrack...
  17. ^ a b c d e f g Cox, Jamieson (ngày 16 tháng 12 năm 2018). "Avril Lavigne: Let Go Album Review". Pitchfork (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  18. ^ a b c Davies, Jeffrey (ngày 10 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne's 'Let Go' Is an Angsty Classic 20 Years Later". Pop Matters (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
  19. ^ a b c d e Saraceno, Christina. "Let Go: Avril Lavigne" (bằng tiếng Anh). AllMusic. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  20. ^ Werde, Bill (ngày 12 tháng 6 năm 2002). "Avril Lavigne: Simple Truths of A 'Complicated' Girl". The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  21. ^ Rettig, James (ngày 2 tháng 6 năm 2022). "Let Go Turns 20". Stereogum (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  22. ^ * Liss, Sarah (ngày 20 tháng 6 năm 2002). "Avril Lavigne, New and Notable Releases". Now Toronto (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018. ...a proclivity for punk and big, slightly grungy guitars.
  23. ^ a b c d e f g h Gehlich, Clare (ngày 21 tháng 4 năm 2024). "The impact of Avril Lavigne's debut album "Let Go" on modern music". The Statesman (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2025.
  24. ^ a b c d Manavis, Sarah (ngày 31 tháng 5 năm 2022). "Avril Lavigne: 'I moved out of my parents' house and straight into a tour bus with no rules'". The Guardian (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  25. ^ Brian, Garrit (ngày 5 tháng 8 năm 2002). "Santana, Whitney, Lavigne Head To DataPlay". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  26. ^ Techmoan (ngày 8 tháng 11 năm 2018). "DataPlay: The futuristic optical disc format that time forgot". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2024 – qua Youtube.
  27. ^ a b c d e f g h Willman, Chris (ngày 5 tháng 11 năm 2002). "'Boi,' Oh Boy". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  28. ^ Carpenter, Troy (ngày 4 tháng 12 năm 2002). "Avril's First Headlining Trek To Begin in Europe". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  29. ^ Benson, John (ngày 1 tháng 5 năm 2003). "Avril Lavigne / 15 April 2003 / Cleveland (CSU Convocation Center)". Billboard.
  30. ^ Sporich, Brett; The Hollywood Reporter; Carpenter, Troy (ngày 18 tháng 9 năm 2003). "Fox/Arista Prep Avril, Neptunes DVDs". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  31. ^ Cheung, Nadine. "Top 10 Avril Lavigne Songs". AOL Radio. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  32. ^ Rutherford, Kevin (ngày 1 tháng 6 năm 2011). "Lost Avril Lavigne Video for 'Mobile' Surfaces". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2024.
  33. ^ Gotto, Connor (ngày 3 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne celebrates 20th anniversary of debut album 'Let Go' with expanded deluxe edition". RETROPOP (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
  34. ^ Corner, Lewis (ngày 1 tháng 4 năm 2014). "Avril Lavigne's original version of Kelly Clarkson's 'Breakaway' leaks". Digital Spy. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2021.
  35. ^ Blistein, Jon (ngày 3 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne Drops New 'Breakway' Version, Unearths Rarities for 'Let Go' Anniversary". Rolling Stone. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2022.
  36. ^ a b c d e f g h Shafer, Ellise (ngày 3 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne Celebrates 'Let Go' 20th Anniversary With Expanded Edition, Including New Recording of 'Breakaway'". Variety. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2022.
  37. ^ a b c d Let Go at MetacriticLỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
  38. ^ a b c Perry, John. "Avril Lavigne: Let Go" (bằng tiếng Anh). Blender. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  39. ^ a b Caramanica, Jon (ngày 14 tháng 6 năm 2002). "Let Go (2002)". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). tr. 100. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  40. ^ a b Roth, Kaj. "Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Melodic. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  41. ^ "CG: Avril Lavigne". RobertChristgau.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  42. ^ a b Blashill, Pat (ngày 2 tháng 7 năm 2002). "Avril Lavigne: Let Go". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  43. ^ Cinquemani, Sal (ngày 8 tháng 7 năm 2002). "Avril Lavigne: Let Go" (bằng tiếng Anh). Slant Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  44. ^ Linsay, Cam. "Let Go Review" (bằng tiếng Anh). Stylus Magzine. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  45. ^ a b Tan, Fidel (ngày 22 tháng 6 năm 2022). "20 years of 'Let Go' Revisiting Avril Lavigne's iconic pop-punk debut". Bandwagon Asia (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  46. ^ a b c Oliver, Charlotte (ngày 12 tháng 1 năm 2022). "An ode to Avril Lavigne and the OG punk pop princesses". Heat (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025. Her debut album Let Go ... was released in June to universal acclaim
  47. ^ Mandel, Leah (ngày 3 tháng 6 năm 2022). "How Avril Lavigne's Let Go Broke The Mold For '00s Teens". Nylon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2025.
  48. ^ "Rolling Stone The Decade-End Readers' Poll" (bằng tiếng Anh). Rolling Stone. ngày 8 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  49. ^ "MTV Video Music Awards 2002" (bằng tiếng Anh). MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  50. ^ Wiederhorn, Jon (ngày 24 tháng 1 năm 2003). "Avril Lavigne, Linkin Park Win Big at MTV Asia Awards". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  51. ^ Cadorette, Guylaine (ngày 3 tháng 1 năm 2003). "Let the Music Play: 2003 Grammy Nominees Announced". Hollywood.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  52. ^ "46th Annual Grammy Awards" (bằng tiếng Anh). VH1. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  53. ^ LeBlanc, Larry (ngày 7 tháng 4 năm 2003). "Avril Nabs Four Juno Awards". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  54. ^ Kotarba, Joe; Vannini, Phillip (ngày 23 tháng 8 năm 2006). Avril Lavigne wins Radio Disney Music Awards 2002. Taylor & Francis. tr. 95. ISBN 9780203894606. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  55. ^ "Golden Disc Awards IFPI Hong Kong Group" (bằng tiếng Anh). Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  56. ^ "Jelöltek 2003". fonogram.hu (bằng tiếng Hungary). 2003. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  57. ^ "The 17th Japan Gold Disc Award 2003" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  58. ^ "Nominees & Winners 2003" (bằng tiếng Anh). Giải Juno. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  59. ^ "Videos Awards Japan 07". mtvjapan.com (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  60. ^ "Ana Torroja, David Bisbal, Bacilos y Maná ganadores de los "Oye!"". nacion.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 16 tháng 11 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  61. ^ "2003 Teen Choice Awards Nominees". Billboard (bằng tiếng Anh). Prometheus Global Media. ngày 18 tháng 6 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  62. ^ Unterberger, Andrew (ngày 23 tháng 6 năm 2022). "15 of the Biggest 21st Century Albums That Never Scored a Hot 100 No. 1 Hit". Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022.
  63. ^ Ellis, Michael; Martens, Todd (ngày 13 tháng 6 năm 2002). "Eminem's 'Show' Still on Top of the Chart". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  64. ^ a b "Nothing 'Complicated' About It...Avril Is Double Platinum!" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. ngày 4 tháng 9 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  65. ^ Susman, Gary (ngày 27 tháng 2 năm 2002). "White America". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  66. ^ Conniff, Tamara (ngày 3 tháng 1 năm 2003). "Eminem Ends Year on Top, But Album Sales Tumble". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  67. ^ Martens, Todd (ngày 3 tháng 1 năm 2002). "'8 Mile' Back Atop The Billboard 200". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  68. ^ "Eminem Leads 2002 RIAA Certifications". Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 12 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  69. ^ "Gold and Platinum" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  70. ^ a b Rick Fulton (ngày 10 tháng 1 năm 2011). "Avril Lavigne: Madonna is my idol". Daily Record. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  71. ^ Todd, Martens (ngày 18 tháng 12 năm 2002). "Holiday Sales Keep Shania 'Up' On Top". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  72. ^ "The Billboard 200: Let Go". Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 2 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  73. ^ Martens, Todd (ngày 22 tháng 1 năm 2003). "Norah Jones Remains on Top". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  74. ^ "The story behind Avril Lavigne's debut album Let Go on its 20th anniversary" (bằng tiếng Anh). Virgin Radio UK. ngày 1 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2024.
  75. ^ "Stone album sets chart record". Music Week. ngày 4 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  76. ^ Sexton, Paul (ngày 6 tháng 1 năm 2003). "Avril Skates To No. 1 in the U.K." Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  77. ^ "Bestselling Albums 2003" (PDF) (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  78. ^ a b "Chứng nhận album Anh Quốc – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. ngày 23 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  79. ^ "Avril Lavigne presented with Diamond". Canadian Recording Industry Association. tháng 5 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  80. ^ "Avril Lavigne Ends North American Run of Shows with Two Dates in Washington Beginning May 9". transworldnews.com (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  81. ^ a b "ARIA Charts – Accreditations – 2003 Albums" (PDF) (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  82. ^ Kedem, Maia (ngày 11 tháng 3 năm 2022). "Avril Lavigne has officially been wondering why things are so 'Complicated' for 20 years". Audacy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
  83. ^ Giles, Sophie (ngày 20 tháng 9 năm 2018). "Avril Lavigne Changed Our Lives With Her Debut Album Let Go So Of Course We Welcome Her Comeback Single With Open Arms" (bằng tiếng Anh). GOAT. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
  84. ^ a b c d e f Phillips, Aimee (ngày 13 tháng 10 năm 2022). "The most defining debut albums of the 21st century (so far...)". Gigwise (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  85. ^ Copestake, Izzy (ngày 8 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne's 'Let Go' Is Turning 20. What Do Teens Make of It Today?". Vice (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2025.
  86. ^ "Let Go at 20". CBC.ca (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 6 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2025.
  87. ^ "Fan poll: 5 best debut albums of all time". Alt Press (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 2 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  88. ^ a b Mitchell, Matt (ngày 4 tháng 9 năm 2023). "The 100 Greatest Debut Albums of the 21st Century". Paste (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  89. ^ Godmere, Emma (ngày 16 tháng 6 năm 2017). "25 best Canadian debut albums ever". CBC Music (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  90. ^ Georgi, Maya (ngày 10 tháng 1 năm 2025). "The 250 Greatest Albums of the 21st Century So Far". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  91. ^ a b Assaly, Richie (ngày 15 tháng 2 năm 2025). "From Avril Lavigne to Feist, these 17 monumental Canadian albums shaped the sound of the 2000s". Toronto Star (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  92. ^ a b Lam, Han (ngày 11 tháng 1 năm 2022). "20 years after Let Go, punk-pop princess Avril Lavigne still reigns supreme". Harper's Bazaar Vietnam (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  93. ^ Stanley, Laura (ngày 10 tháng 4 năm 2025). "The best Canadian musicians, from 2000 to the present". CBC Music (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  94. ^ a b c "Let Go" (bằng tiếng Anh). Apple Music. 2002. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  95. ^ a b c d Gormely, Ian (ngày 26 tháng 2 năm 2019). "The Complicated Life and Times of Avril Lavigne". Exclaim! (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  96. ^ a b c Davies, Jeffrey (ngày 10 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne's 'Let Go' Is an Angsty Classic 20 Years Later". PopMatters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  97. ^ Lanham, Tom (ngày 14 tháng 8 năm 2016). "Trend-setting Avril marches boldly toward adulthood". East Bay Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  98. ^ a b Leahey, Andrew. "Avril Lavigne Biography by Andrew Leahey". AllMusic (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  99. ^ "Avril Lavigne". Biography (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 3 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014.
  100. ^ Mardon, Austin; Au-Yeung, Joshua (ngày 25 tháng 4 năm 2025). "Avril Lavigne". Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  101. ^ Lee, Cliff (ngày 4 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne's Let Go at 20: Reclaiming the pop-punk princess's complicated legacy". The Globe and Mail (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  102. ^ "From 'Let Go' to 'Love Sux': Avril Lavigne's Rise To Pop Punk Royalty". Warner Music Australia (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 2 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  103. ^ a b Bradley, Jonathan (ngày 19 tháng 10 năm 2018). "'It's Not Like We're Dead': The Fascinating Evolution & Non-Linear Maturation of Avril Lavigne, Motherf–king Princess". Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2025.
  104. ^ Lau, Melody (ngày 28 tháng 11 năm 2023). "Fefe Dobson revisits her debut album 20 years later: 'I'm very proud of the younger version of myself'". CBC Music (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  105. ^ a b Assaly, Richie (ngày 27 tháng 6 năm 2024). "Avril Lavigne has been appointed to the Order of Canada. Here's why Canada's pop-punk princess still matters". Toronto Star (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  106. ^ Buskin, Richard (tháng 4 năm 2006). "The Matrix". Sound on Sound (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  107. ^ Snapes, Laura (ngày 14 tháng 1 năm 2009). "Still complicated: Avril Lavigne: 'I've had to fight people on this journey'". The Guardian (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025. Lavigne and Matrix disagree about the level of her input on the album
  108. ^ Dixon, Guy (ngày 7 tháng 7 năm 2007). "Has Avril lost her song cred?". The Globe and Mail (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  109. ^ Halperin, Shirley (ngày 10 tháng 4 năm 2007). "What's The Best Damn Thing for Avril Lavigne?". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  110. ^ "Australiancharts.com – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  111. ^ "Austriancharts.at – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  112. ^ "Ultratop.be – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  113. ^ "Ultratop.be – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  114. ^ "Avril Lavigne Chart History (Canadian Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  115. ^ "Oficiální česká hitparáda IFPI ČR – 10. týden 2003". Marketing & Media (bằng tiếng Séc). ngày 10 tháng 3 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  116. ^ "Danishcharts.dk – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  117. ^ "Dutchcharts.nl – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  118. ^ "Hits of the World". Billboard. Quyển 115 số 3. ngày 18 tháng 1 năm 2003. tr. 61. ISSN 0006-2510 – qua Google Books.
  119. ^ "Avril Lavigne: Let Go" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  120. ^ "Lescharts.com – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  121. ^ "Offiziellecharts.de – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  122. ^ a b "Ελληνικό Chart – Top 50 Ξένων Aλμπουμ" (bằng tiếng Hy Lạp). IFPI Hy Lạp. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  123. ^ "Album Top 40 slágerlista – 2003. 6. hét" (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  124. ^ "Irish-charts.com – Discography Avril Lavigne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  125. ^ "Italiancharts.com – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  126. ^ アヴリル・ラヴィーンのアルバム売り上げランキング [Bảng xếp hạng doanh số bán album của Avril Lavigne] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013.
  127. ^ "Charts.nz – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  128. ^ "Norwegiancharts.com – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  129. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLiS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Ba Lan. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  130. ^ "Portuguesecharts.com – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  131. ^ "Official Scottish Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  132. ^ "RIAS CHART FOR WEEK ENDING 24 January 2003". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  133. ^ Salaverrie, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (bằng tiếng Tây Ban Nha) (ấn bản thứ 1). Madrid: Fundación Autor/SGAE. ISBN 84-8048-639-2.
  134. ^ "Swedishcharts.com – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  135. ^ "Swisscharts.com – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  136. ^ "Official Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  137. ^ "Avril Lavigne Chart History (Billboard 200)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  138. ^ "ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Albums 2002". Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  139. ^ "Jahreshitparade Alben 2002". austriancharts.at (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  140. ^ "Jaaroverzichten 2002 – Albums" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  141. ^ "Rapports Annuels 2002 – Albums" (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  142. ^ "Top 200 Albums of 2002 (based on sales)". Jam!. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  143. ^ "Canada's Top 200 Alternative albums of 2002". Jam!. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  144. ^ "Chart of the Year 2002" (bằng tiếng Đan Mạch). TOP20.dk. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  145. ^ "Jaaroverzichten – Album 2002" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Charts. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  146. ^ "Year in Review – European Top 100 Albums 2002" (PDF). Music & Media. Quyển 21 số 2/3. ngày 11 tháng 1 năm 2003. tr. 15. OCLC 29800226 – qua World Radio History.
  147. ^ Danh sách đầu tiên là danh sách các album trong nước bán chạy nhất năm 2002 ở Phần Lan và danh sách thứ hai là các album nước ngoài bán chạy nhất:
  148. ^ "Tops de l'Année - Top Albums 2002" (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  149. ^ "Top 100 Album-Jahrescharts – 2002" (bằng tiếng Đức). Offizielle Deutsche Charts. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  150. ^ "Best of 2002 – Albums". Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  151. ^ "Classifica Annuale 2002 (dal 31.12.2001 al 29.12.2002) – Album & Compilation" (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  152. ^ 2002年 アルバム年間TOP100 [Year-End Albums Chart of 2002] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024 – qua GeoCities.
  153. ^ "Top Selling Albums of 2002". Recorded Music NZ. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  154. ^ "Årslista Album – År 2002" (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  155. ^ "Årslista Album (inkl samlingar), 2002" (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2021.
  156. ^ "Schweizer Jahreshitparade 2002". hitparade.ch (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  157. ^ "End of Year Album Chart Top 100 – 2002". Official Charts Company. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016.
  158. ^ "Billboard 200 Albums – Year-End 2002". Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  159. ^ "Top 50 Global Best Selling Albums for 2002" (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  160. ^ "ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Albums 2003". Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  161. ^ "Jahreshitparade Alben 2003". austriancharts.at (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  162. ^ "Jaaroverzichten 2003 – Albums" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  163. ^ "Rapports Annuels 2003 – Albums" (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  164. ^ "Chart of the Year 2003" (bằng tiếng Đan Mạch). TOP20.dk. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  165. ^ "Jaaroverzichten – Album 2003" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Charts. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  166. ^ "Europe's Top Albums of 2003". Billboard. Quyển 115 số 52. ngày 27 tháng 12 năm 2003. tr. 65. ISSN 0006-2510 – qua Google Books.
  167. ^ "Tops de l'Année - Top Albums 2003" (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  168. ^ "Top 100 Album-Jahrescharts – 2003" (bằng tiếng Đức). Offizielle Deutsche Charts. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  169. ^ "Összesített album- és válogatáslemez-lista – eladási darabszám alapján – 2003" (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  170. ^ "Best of 2003 – Albums". Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  171. ^ "Classifica Annuale 2003 (dal 30.12.2002 al 28.12.2003) – Album & Compilation" (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  172. ^ 2003 付 CDアルバム BEST100 [Best Albums of 2003] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  173. ^ "Top Selling Albums of 2003". Recorded Music NZ. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  174. ^ "2003년 - POP 음반 판매량" (bằng tiếng Korean). MIAK. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  175. ^ "Årslista Album – År 2003" (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  176. ^ "Schweizer Jahreshitparade 2003". hitparade.ch (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  177. ^ "End of Year Album Chart Top 100 – 2003". Official Charts Company. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016.
  178. ^ "Billboard 200 Albums – Year-End 2003". Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  179. ^ "Top 50 Global Best Selling Albums for 2003" (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  180. ^ "ARIA Top 100 Albums of the 00's". Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2021.
  181. ^ "The Noughties' Official UK Albums Chart Top 100". Music Week. ngày 30 tháng 1 năm 2010. tr. 19. ISSN 0265-1548.
  182. ^ "Decade End Charts – Billboard 200 Albums". Billboard. 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  183. ^ "Ireland's Top 50 biggest female artist albums". The Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  184. ^ "Greatest of All Time: Billboard 200 Albums". Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2015.
  185. ^ "Discos de oro y platino" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cámara Argentina de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  186. ^ "Chứng nhận album Áo – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  187. ^ "Ultratop − Goud en Platina – albums 2003" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  188. ^ "Chứng nhận album Brasil – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Pro-Música Brasil. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  189. ^ "Chứng nhận album Canada – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Music Canada. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  190. ^ "Chứng nhận album Đan Mạch – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Đan Mạch). IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  191. ^ a b "Chứng nhận album Phần Lan – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  192. ^ "Chứng nhận album Pháp – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  193. ^ "Gold-/Platin-Datenbank (Avril Lavigne; 'Let Go')" (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  194. ^ "Adatbázis – Arany- és platinalemezek – 2003" (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  195. ^ Schwartz, Rob (ngày 4 tháng 9 năm 2010). "Nippon Express". Billboard. tr. 14. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  196. ^ "Chứng nhận album Nhật Bản – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Chọn 2003年2月 ở menu thả xuống
  197. ^ "Chứng nhận album Hà Lan – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld- en geluidsdragers. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024. Nhập Let Go trong mục "Artiest of titel". Chọn 2003 trong tùy chọn "Alle jaargangen".
  198. ^ "Chứng nhận album New Zealand – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Recorded Music NZ.[liên kết hỏng]
  199. ^ "IFPI Norsk platebransje Trofeer 1993–2011" (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  200. ^ "Wyróżnienia – płyty CD - Archiwum - Przyznane w 2005 roku" (bằng tiếng Ba Lan). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Ba Lan. ngày 29 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  201. ^ "Chứng nhận album Bồ Đào Nha – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Fonográfica Portuguesa. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  202. ^ "Chứng nhận album Singapore – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Singapore. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  203. ^ "자료제공:(사)한국음반산업협회/이 자료는당협회와 상의없이 가공,편집을금합니다. - 2003.05월 - POP 음반 판매량" [Nguồn dữ liệu: Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hàn Quốc (KARI) - Tài liệu này cấm xử lý hoặc chỉnh sửa mà không có sự tham khảo ý kiến trước của Hiệp hội. - Tháng 05 năm 2003 - Doanh số bán đĩa POP] (bằng tiếng Hàn). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hàn Quốc. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2004.
  204. ^ "자료제공:(사)한국음반산업협회/이 자료는당협회와 상의없이 가공,편집을금합니다. - 2003.08월 - POP 음반 판매량" [Nguồn dữ liệu: Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hàn Quốc (KARI) - Tài liệu này không được phép xử lý hoặc chỉnh sửa nếu không có sự đồng ý của Hiệp hội. - Tháng 08 năm 2003 - Doanh số đĩa nhạc POP] (bằng tiếng Hàn). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hàn Quốc. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2004.
  205. ^ "Chứng nhận album Tây Ban Nha" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024. Chọn Álbumes dưới "Categoría", chọn 2005 dưới "Año". Chọn 41 dưới "Semana". Nhấn vào "BUSCAR LISTA".
  206. ^ "Sverigetopplistan – Avril Lavigne" (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  207. ^ "The Official Swiss Charts and Music Community: Chứng nhận ('Let Go')" (bằng tiếng Đức). IFPI Thụy Sĩ. Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  208. ^ Jones, Alan (ngày 22 tháng 2 năm 2019). "Charts analysis: Ariana Grande secures second week at album summit". Music Week. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  209. ^ "Chứng nhận album Hoa Kỳ – Avril Lavigne – Let Go" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  210. ^ "IFPI Platinum Europe Awards – 2003". Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.

Liên kết ngoài

  • Let Go at MetacriticLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).