Ly Hưng Mẫn thị
| Ly Hưng Mẫn thị 여흥민씨 | |
|---|---|
| Quốc gia | Bán đảo Triều Tiên |
| Vùng định cư hiện tại | Gyeonggi-do |
Gia tộc họ Mẫn ở Ly Hưng (tiếng Hàn: 여흥 민씨, Hanja: 驪興閔氏, Ly Hưng Mẫn thị) là một đại danh môn thế gia trong lịch sử Triều Tiên, lấy vùng Lệ Châu (驪州) làm gốc gác.
Dòng họ này đến thời trung và hậu kỳ đều cực kỳ trọng vọng, nhiều vị Vương hậu của Triều Tiên có xuất thân từ gia tộc này.
Khái quát
Dòng họ Li Hưng Mẫn thị có xuất xứ từ đệ tử của Khổng Tử là Mẫn Tổn (闵损)[1], nguyên quán ở tỉnh Sơn Đông, đến thời Mẫn Xưng Đạo (閔稱道) thì bắt đầu xuất sĩ làm quan, làm đến chức Thượng y phụng ngự dưới thời Cao Ly. Cháu của Mẫn Xưng Đạo là Mẫn Ý (閔懿) làm quan đến Hộ bộ Viên ngoại lang, chắt là Mẫn Lệnh Mô (閔令謨) dưới thời Cao Ly Nhân Tông tham gia thi cử trúng tuyển Văn khoa, hoạn lộ hanh thông làm đến chức Môn hạ Thị lang Bình chương sự, Thái tử Thái sư, từ đó đưa gia tộc này bước vào tầng lớp Lưỡng ban. Trước thời kỳ Mẫn Xưng Đạo lập gia phả, sử sách đã ghi nhận nhiều nhân vật họ Mẫn như: Nhất cát xán Mẫn Hợp (閔郃), tâm phúc dưới trướng Kiên Huyên nước Hậu Bách Tế[2]; Nội quân Tướng quân Mẫn Cương (閔剛)[3]; Công bộ Thượng thư Mẫn Khả Cử (閔可擧) hay Mẫn Xương Thọ (閔昌壽) và Mẫn Xương Tố (閔昌素) thời Cao Ly Văn Tông. Tuy nhiên, do hệ thống gia phả thời kỳ đó bị khuyết danh, khuyết phả nên không thể bách bạt nối liền dòng tộc. Sau khi Mẫn Lệnh Mô hiển đạt hiển hách, dòng họ mới tôn phong cụ cố Mẫn Xưng Đạo làm Thủy tổ để chính thức lập ra bạt bản tộc phả. Thời Cao Ly, dòng họ này còn được gọi là Hoàng Lệ Mẫn thị (黃驪閔氏).
Nhờ liên tục có người trong tộc làm đến quan viên cao cấp trong triều, Ly Hưng Mẫn thị đã được triều đình chép vào sách bộ triều Cao Ly Chiêu Tương Vương với vị thế là một trong các Tể tướng chi chủng (宰相之宗) — tức những đại gia tộc đỉnh cấp có tư cách thông gia, kết nạp thất phòng khuê trực tiếp với Hoàng tộc. Nhánh hậu duệ của con trai Mẫn Lệnh Mô là Mẫn Địch (閔頔) sinh ra bốn vị Vương hậu, trở thành Đệ nhất ngoại thích thời trung kỳ Triều Tiên. Năm 1895, Minh Thành Hoàng hậu bị sát hại, thế lực của tộc sa sút. Năm 1905, khi Nhật Bản ép buộc Triều Tiên ký kết Hiệp ước Ất Tỵ, Mẫn Vịnh Hoán (閔泳煥) đã tự sát để phản đối và được người đời tôn vinh là anh hùng tuẫn quốc. Những người như Mẫn Vịnh Đạt (閔泳達), Mẫn Vịnh Dực (閔泳翊) thì từ chối tiếp nhận tước vị do Nhật Bản ban phong. Sau khi Nhật Bản sáp nhập Triều Tiên vào năm 1910, có 10 người thuộc tộc Mẫn được ban tước vị trong hàng quý tộc Triều Tiên, kéo dài từ Bá tước đến Nam tước.
Tính chung suốt thời kỳ Triều Tiên, dòng họ Lệ Hưng Mẫn thị đã đạt được những con số võ công khổng lồ: 242 người đỗ Văn khoa, 4 vị Vương hậu, 12 vị Tể tướng đại thần, và 6 vị Công thần được bồi táng thờ phụng tại Tông miếu.
Nhân vật nổi bật
Quan chức Triều Tiên
Thời kỳ Cao Ly
- Mẫn Lệnh Mô: đại thần thời Cao Ly Minh Tông
- Mẫn Biện: thời Cung Nhượng vương được phong tước Lệ Hưng quân (驪興君).
Thời kỳ Triều Tiên
- Mẫn Tễ: đại thần thời Cao Ly và Triều Tiên
- Mẫn Chính Trọng: Tả nghị chính thời Triều Tiên Túc Tông
- Mẫn Trấn Viễn: đại thần Triều Tiên, thủ lĩnh phái Lão luận thời Triều Tiên Anh Tổ
Hậu phi Triều Tiên
Vương hậu
- Nguyên Kính Vương hậu: chính thất của Triều Tiên Thái Tông, sinh ra Triều Tiên Thế Tông.
- Nhân Hiển Vương hậu: kế thất của Triều Tiên Túc Tông
- Minh Thành Hoàng hậu: chính thất của Triều Tiên Cao Tông, sinh ra Triều Tiên Thuần Tông.
- Thuần Minh Hiếu Hoàng hậu: nguyên phối của Triều Tiên Thuần Tông
Phi tần
- Thục nghi Mẫn thị: phi tần của Yên Sơn quân
- Tĩnh tần Mẫn thị: phi tần của Triều Tiên Tuyên Tổ
Mệnh phụ
- Tam Hàn Quốc Đại phu nhân Ly Hưng Mẫn thị: chính thê của Hoài An Đại quân, con trai Triều Tiên Thái Tổ.
- Ly Hưng quận Phu nhân: chính thê của Nam Diên quân Lý Cầu, sinh Hưng Tuyên Đại viện quân.
- Ly Hưng phủ Đại phu nhân Mẫn thị: chính thê của Hưng Tuyên Đại viện quân, sinh Triều Tiên Cao Tông.
Phò mã Triều Tiên
- Mẫn Tử Phương: nghênh giá Kính Thục ông chúa, con gái Triều Tiên Thành Tông.