Bước tới nội dung

Mặc Tử (sách)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mặc Tử
墨子
Tập tin:Tianyige-330000-1705-0004801 墨子十五卷 明李贄選 明郎兆玉評 明天啟刻本.pdf
Thông tin sách
Tác giảMặc Tử và các môn đệ
Quốc giaTrung Quốc
Ngôn ngữVăn ngôn
Thể loạiTriết học
Bản tiếng Việt
Người dịchNgô Trần Trung Nghĩa
Nhà xuất bảnNXB Văn học
Ngày phát hành2022
Số trang367
ISBN978-604-349-358-0

Mặc Tử là tác phẩm được cho là của triết gia Mặc Tử (khoảng 468—376 TCN) biên soạn. Thiên Nghệ văn chí trong Hán thư nói Mặc Tử có 71 thiên, bản lưu truyền đến ngày nay chỉ còn 53 thiên, chia thành 15 quyển.

Học thuyết của Mặc Tử không khó hiểu, nhưng Mặc Tử lại là một bộ sách rất khó đọc. Giống như mọi tác phẩm của chư tử thời Tiên Tần, trong quá trình sao chép để lưu truyền, nhiều chữ bị chép sai hoặc chép thiếu, khiến câu văn tối nghĩa, không thể đoán được nội dung. Mặt khác, lối hành văn thời đó không giống với bây giờ, không ít chữ đã thay đổi ý nghĩa, tạo nên những rào cản nhất định khi người đọc tiếp xúc với văn bản gốc.[1]

Mục lục

Tôn Di Nhượng chia 53 thiên Mặc Tử thành 15 quyển với cấu trúc như sau[2]:

Quyển 1:

  1. Thân sĩ
  2. Tu thân
  3. Sở nhiễm
  4. Pháp nghi
  5. Thất hoạn
  6. Từ quá
  7. Tam biện

Quyển 2:

  1. Thượng hiền – thượng
  2. Thượng hiền – trung
  3. Thượng hiền – hạ

Quyển 3:

  1. Thượng đồng – thượng
  2. Thượng đồng – trung
  3. Thượng đồng – hạ

Quyển 4:

  1. Kiêm ái – thượng
  2. Kiêm ái – trung
  3. Kiêm ái – hạ

Quyển 5:

  1. Phi công – thượng
  2. Phi công – trung
  3. Phi công – hạ

Quyển 6:

  1. Tiết dụng – thượng
  2. Tiết dụng – trung
  3. Tiết dụng – hạ (khuyết)
  4. Tiết táng – thượng (khuyết)
  5. Tiết táng – trung (khuyết)
  6. Tiết táng – hạ

Quyển 7

  1. Thiên chí – thượng
  2. Thiên chí – trung
  3. Thiên chí – hạ

Quyển 8:

  1. Minh quỷ – thượng (khuyết)
  2. Minh quỷ – trung (khuyết)
  3. Minh quỷ – hạ
  4. Phi nhạc – thượng

Quyển 9:

  1. Phi nhạc – trung (khuyết)
  2. Phi nhạc – hạ (khuyết)
  3. Phi mệnh – thượng
  4. Phi mệnh – trung
  5. Phi mệnh – hạ
  6. Phi nho – thượng (khuyết)
  7. Phi nho – hạ

Quyển 10:

  1. Kinh – thượng
  2. Kinh – hạ
  3. Kinh thuyết – thượng
  4. Kinh thuyết – hạ

Quyển 11:

  1. Đại thủ
  2. Tiểu thủ
  3. Canh Trụ

Quyển 12:

  1. Quý nghĩa
  2. Công Mạnh

Quyến 13:

  1. Lỗ vấn
  2. Công Thâu
  3. (khuyết): Không khảo cứu được

Quyển 14:

  1. Bị thành môn
  2. Bị cao lâm
  3. (khuyết): Có thể là Bị câu
  4. (khuyết): Có thể là Bị xung
  5. Bị thê
  6. (khuyết): Có thể là Bị nhân
  7. Bị thủy
  8. (khuyết): Có thể là Bị không động
  9. (khuyết): Không khảo cứu được
  10. Bị đột
  11. Bị huyệt
  12. Bị nghĩ phu

Quyển 15:

  1. (khuyết): Có thể là Bị phần uân
  2. (khuyết): Có thể là Bị hiên xa
  3. (khuyết): Không khảo cứu được
  4. (khuyết): Không khảo cứu được
  5. Nghinh địch từ
  6. Kỳ xí
  7. Hiệu lệnh
  8. Tạp thủ

Hồ Thích chia các thiên trong Mặc Tử thành 5 nhóm[3]:

  1. Từ Thân sĩ đến Tam biện: Đều do người đời sau viết, bốn thiên đầu không hề có khẩu khí của Mặc gia, ba thiên sau căn cứ và lý luận của Mặc gia để viết
  2. Từ Thượng hiền đến Phi nho: Hầu hết là do các Mặc gia diễn giải học thuyết của Mặc Tử, trong đó có nhiều chỗ do hậu nhân thêm vào, Phi nhạc và Phi nho càng đáng nghi
  3. Từ Kinh đến Tiểu thủ: Không phải sách của Mặc Tử, cũng không phải do Mặc gia ghi chép học thuyết của Mặc Tử, có thể do Biệt Mặc làm ra, vì kiến thức trong sáu thiên này không thể xuất hiện thời Mặc Tử
  4. Từ Canh Trụ đến Công Thâu: Do các Mặc gia đời sau ghi chép lại ngôn hành của Mặc Tử, giống như Luận ngữ của Nho gia
  5. Từ Bị thành môn đến Tạp thủ: Ghi chép cách giữ thành chống địch của Mặc gia, không liên quan gì đến triết học

Trong 5 nhóm trên, nhóm thứ 3 gồm 6 thiên Kinh – thượng Kinh – hạ Kinh thuyết – thượng Kinh thuyết – hạ, Đại thủ và Tiểu thủ được gọi là Mặc kinh hay Mặc biện. Nhưng hiểu theo nghĩa hẹp thì Mặc kinh chỉ gồm bốn thiên Kinh – thượng, Kinh – hạ, Kinh thuyết – thượng và Kinh thuyết – hạ. Thời Tây Tấn, Lỗ Thắng chú giải Mặc biện, trong lời tựa nói rằng Mặc biện gồm hai Kinh thượng, hạ, mỗi Kinh đều có Thuyết, tổng cộng 4 thiên.

Mặc kinh là bộ phận khá đặc biệt trong Mặc Tử. Không chỉ đóng góp cho sự phát triển của logic học thời Tiên Tần, Mặc kinh còn tổng hợp nhiều kiến thức khoa học rất giá trị, từ hình học, cơ học đến quang học. Đây là điểm nổi bật của Mặc kinh so với các tác phẩm của chư tử đương thời. Nhưng Mặc kinh vẫn là một thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu, trong đó có nhiều đoạn mà ngay cả Lương Khải Siêu và Hồ Thích cũng thừa nhận là không thể giải nghĩa được. Do vậy, hiểu chính xác Mặc kinh có lẽ là điều không thể.[1]

Các bản chú sớ

  • Lỗ Thắng (Tây Tấn): Mặc biện chú (墨辯注)
  • Mao Khôn (Minh): Mặc Tử phê hiệu (墨子批校)
  • Tất Nguyên (Thanh): Mặc Tử chú (墨子注)
  • Đặng Vân Chiêu (Thanh): Mặc kinh chính văn giải nghĩa (墨經正文解義)
  • Trương Huệ Ngôn (Thanh): Mặc Tử kinh thuyết giải (墨子經說解)
  • Tôn Di Nhượng (Thanh): Mặc Tử nhàn cổ (墨子閒詁)
  • Vương Khải Vận (Thanh): Mặc Tử chú (墨子注)
  • Lương Khải Siêu (Thanh): Mặc kinh hiệu thích (墨經校釋)
  • Lưu Sư Bồi (Thanh): Mặc Tử thập bổ (墨子拾補)
  • Doãn Đồng Dương (Dân Quốc): Mặc Tử tân thích (墨子新釋)
  • Hồ Thích (Dân Quốc): Mặc kinh tân cổ (墨經新詁)
  • Trương Thuần Nhất (Dân Quốc): Mặc Tử tập giải (墨子集解)
  • Đàm Giới Phủ (Dân Quốc): Mặc biện phát vi (墨辯發微)
  • Cao Hanh (Dân Quốc): Mặc kinh hiệu thuyên (墨經校詮)
  • Ngô Dục Giang (Dân Quốc): Mặc Tử hiệu chú (墨子校注)
  • Sầm Trọng Miễn (Dân Quốc): Mặc Tử thành thủ các thiên giản chú (墨子城守各篇簡注)
  • Vương Hoán Tiêu (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa): Mặc Tử hiệu thích (墨子校释)

Bản dịch tiếng Việt

  • Mặc học (Mặc Tử và Biệt Mặc), Nguyễn Hiến Lê trích dịch, Nhà xuất bản Văn hóa, 1995
  • Mặc Tử - Kiêm ái phi công, Ngô Trần Trung Nghĩa dịch (bản dịch trọn bộ), Nhà xuất bản Văn học, 2022

Tham khảo

  1. ^ a b Mặc Tử - Kiêm ái phi công, Ngô Trần Trung Nghĩa dịch, Nhà xuất bản Văn học, 2022, trang 47. ISBN 978-604-349-358-0.
  2. ^ Tôn Di Nhượng 孫貽讓. Mặc Tử nhàn cổ [墨子閒詁], Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2001. ISBN 7-101-01949-8
  3. ^ Hồ Thích 胡适. Trung Quốc triết học sử đại cương [中国哲学史大纲], Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán, 2011, trang 123. ISBN 978-7-100-08532-8.