Bước tới nội dung

Mahanama

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mahanama Sakka
Chức danhVua/Thủ lĩnh tộc Shakya (sau khi vua Tịnh Phạn qua đời)
Đời tư
SinhThế kỷ thứ VI TCN
Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ)
MấtThế kỷ thứ V TCN
Kapilavatthu
Tên khácsMa-ha-nam, Mahānāma, Thích Ma Ha Nam, Mahanama Shakya
Người thânTộc Shakya (Thích Ca)
Sắc phongBậc trí giả cúng dường vật thực thượng vị đệ nhất
Đời tu
Dòng dõiPhật giáo nguyên thủy
Vị trí cấp cao
Sư phụĐức Phật Thích Ca

Mahanama Sakka (tiếng Pali: Mahānāma; chữ Hán: 摩訶男; Hán-Việt: Ma-ha-nam) là một vương tử thuộc dòng tộc Thích Ca (Sakya) tại thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) và là một trong những thánh đệ tử cư sĩ hàng đầu của Đức Phật Thích Ca. Ông được Đức Phật tán thán là vị nam cư sĩ đệ nhất về lòng quảng đại và cúng dường vật thực thượng vị (thức ăn tinh khiết, thơm ngon) cho giáo đoàn[1].

Trong kinh văn Hán ngữ, ông còn được gọi qua các tên: Ma Ha Nam Ma (摩訶南摩), Ma Ha Na Ma (摩訶那摩), Thập Lực Ca Diếp (十力迦叶).

Thân thế

Mahanama là con trai của vương tử Amitodana (Hán-Việt: Cam Lộ Phạn vương), điều này khiến ông trở thành anh em họ dòng nội của Đức Phật Thích Ca (vua Suddhodana và Amitodana là anh em ruột)[2]. Ông là anh trai của Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), một trong mười đại đệ tử xuất gia của Đức Phật, và công chúa Rohini.

Khi người em trai Anuruddha xin đi xuất gia, Mahanama đã chọn ở lại để gánh vác trách nhiệm gia tộc và quản lý sản nghiệp[3]. Sau khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) băng hà và nhiều vương tử chủ chốt xuất gia theo Phật, Mahanama đã kế nhiệm vị trí thủ lĩnh hoặc nhiếp chính điều hành vương quốc của tộc Sakya.

Đóng góp và chứng ngộ

Mahanama là một nam cư sĩ (Upasaka) vô cùng thuần thành. Ông nổi tiếng với việc hộ độ tăng đoàn bằng những vật thực tinh tế, chất lượng cao trong suốt nhiều năm.

Trong hệ thống kinh tạng Pali, Mahanama là một bậc trí giả có tư duy sâu sắc. Ông xuất hiện trong nhiều bài kinh của Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya) và Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya) để thưa hỏi Đức Phật về các chủ đề thực hành tâm linh cho người tại gia, bao gồm:

  • Định nghĩa về người cư sĩ: Trong bài kinh Mahānāma Sutta (AN 8.25), Đức Phật đã định nghĩa cho ông thế nào là một người cư sĩ trọn vẹn về quy y, giới hạnh, tự độ và độ tha[4].
  • Tâm lý trước cái chết: Khi Mahanama lo lắng về việc nếu chẳng may bị tai nạn hay chết đột ngột tại thành phố Kapilavatthu đông đúc thì thần thức sẽ đi về đâu, Đức Phật đã trấn an ông rằng một người đã tu tập tâm xả kỷ, có lòng tin kiên cố vào Tam Bảo thì khi thân hoại mạng chung, tâm sẽ hướng thượng giống như bình dầu bị vỡ, dầu luôn nổi lên trên mặt nước[5][6].

Theo truyền thống sút-ta, Mahanama đã đắc quả Băng-la-hàm (A-na-hàm hoặc Nhất lai/Bất lai) ngay trong đời sống cư sĩ tại gia.

Sự kiện bộ tộc Sakya bị tàn sát

Sau khi Đức Phật giác ngộ không lâu, vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tát-la lên ngôi, ra lệnh cho dòng họ Thích Ca tại Ca-tỳ-la-vệ gửi một công chúa đến hòa thân. Ma-ha-nam, khi ấy là một trong những người đứng đầu vương tộc Thích Ca, đã lấy một cô nô tỳ xinh đẹp giả làm con gái mình, đặt tên là Vāsabhakhattiyā (Bạt-xà-bà-sát-lợi 縛沙婆剎利). Vương phi Bạt-xà-bà đã sinh hạ cho vua Ba-tư-nặc hoàng tử Tỳ-lưu-ly (毘琉璃)[7]. Một truyền thuyết khác từ "Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự (有部毘奈耶雜事)" lại kể rằng, vua Ba-tư-nặc chủ động cưới Thắng Man (勝鬘, Mallikā, hoặc dịch là Mạt-lợi 末利) - con gái do nô tỳ của Ma-ha-nam sinh ra - làm phu nhân, và Tỳ-lưu-ly chính là con của Thắng Man[8].

Khi còn trẻ, hoàng tử Tỳ-lưu-ly đến tham dự hội nghị của dòng họ Thích Ca và nghĩ rằng mình là cháu ngoại của trưởng tộc Ma-ha-nam. Tỳ-lưu-ly sau đó bị chế giễu là con của nô tỳ. Tỳ-lưu-ly vô cùng phẫn nộ, thề sẽ trả thù. Năm hai mươi tuổi, ông phát động binh biến, lưu đày vua Ba-tư-nặc và tự mình lên ngôi, đó chính là vua Tỳ-lưu-ly (Viḍūḍabha).

Vua Tỳ-lưu-ly nhớ lại mối hận cũ, đem quân tấn công thành Ca-tỳ-la-vệ. Thành Ca-tỳ-la-vệ nhanh chóng bị vua Tỳ-lưu-ly đánh phá, lúc bấy giờ Ma-ha-nam đang nắm quyền cai trị (sau khi vua Tịnh Phạn mất). Khi thành bị phá, vua Tỳ-lưu-ly có ý định tàn sát cả thành. Để cứu dòng họ Thích Ca, Ma-ha-nam chủ động đề nghị với vua Tỳ-lưu-ly rằng ông sẽ tự dìm mình xuống nước, và trước khi ông nổi lên mặt nước, hãy tha cho những người dân rời khỏi thành. Vua Tỳ-lưu-ly liền đồng ý. Sau khi rơi xuống nước, Ma-ha-nam buộc tóc mình vào cỏ nước, giúp người dân có đủ thời gian để bỏ trốn. Sau đó, vua Tỳ-lưu-ly sai người đi xem xét, thấy Ma-ha-nam đã chết đuối dưới nước.[9]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Malalasekera, G. P. (1937). Dictionary of Pāli Proper Names (bằng tiếng Anh). Quyển II. London: John Murray.
  2. ^ Bodhi, Bhikkhu (2012). The Numerical Discourses of the Buddha: A Translation of the Aṅguttara Nikāya (bằng tiếng Anh). Wisdom Publications. ISBN 978-1614290407.
  3. ^ Luật Tạng, Đại Phẩm (Mahāvagga).
  4. ^ SuttaCentral. "AN 8.25: Mahānāmasutta" (bằng tiếng Anh).
  5. ^ SuttaCentral. "SN 55.21: Paṭhamamahānāmasutta" (bằng tiếng Anh).
  6. ^ Access to Insight. "Mahanama Sutta: To Mahanama (1)" (bằng tiếng Anh).
  7. ^ "Vāsabhakkhattiyā". Dictionary of Pali Proper Names. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2021.
  8. ^ 佛光大辭典. "末利夫人". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2021.
  9. ^ Burlingame, Eugene Watson (1921). Buddhist Legends: Translated from the Original Pali Text of the Dhammapada Commentary (bằng tiếng Anh). Cambridge, Mass.: Harvard University Press.

Liên kết ngoài