Maikel Scheffers
Maikel Scheffers (ngày 7 tháng 9 năm 1982) là một tay vợt quần vợt xe lăn Hà Lan. Anh thi đấu tại nội dung đơn và đôi. Scheffers sinh ra bị mắc spina bifida. Anh sống ở Dorst.[2]
| Tập tin:Maikel Scheffers at the 2010 US Open 01.jpg Maikel Scheffers tại Giải quần vợt Mỹ mở rộng 2010 | |||||||||||||||
| Tên đầy đủ | Maikel Scheffers | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Quốc tịch | |||||||||||||||
| Nơi cư trú | Dorst, Hà Lan | ||||||||||||||
| Sinh | 7 tháng 9, 1982 's-Hertogenbosch, Hà Lan | ||||||||||||||
| Tay thuận | Tay phải[1] | ||||||||||||||
| Trang chủ | www.maikelscheffers.nl | ||||||||||||||
| Đánh đơn | |||||||||||||||
| Thắng/Thua | 557-237 | ||||||||||||||
| Thứ hạng cao nhất | Số 1 (19 tháng 12 năm 2011) | ||||||||||||||
| Thứ hạng hiện tại | Số 10 (25 tháng 9 năm 2017) | ||||||||||||||
| Thành tích đánh đơn Gland Slam | |||||||||||||||
| Úc Mở rộng | Vô địch (2012) | ||||||||||||||
| Pháp mở rộng | Vô địch (2011) | ||||||||||||||
| Các giải khác | |||||||||||||||
| Masters | Vô địch (2009) | ||||||||||||||
| Paralympic | Tập tin:Bronze medal Paralympics.svg Huy chương Đồng (2008) | ||||||||||||||
| Đánh đôi | |||||||||||||||
| Thắng/Thua | 482-208 | ||||||||||||||
| Thứ hạng cao nhất | Số 1 (27 tháng 6 năm 2011) | ||||||||||||||
| Thứ hạng hiện tại | Số 7 (25 tháng 9 năm 2017) | ||||||||||||||
| Thành tích đánh đôi Gland Slam | |||||||||||||||
| Úc Mở rộng | Vô địch (2011) | ||||||||||||||
| Pháp Mở rộng | Vô địch (2008) | ||||||||||||||
| Wimbledon | Vô địch (2011) | ||||||||||||||
| Mỹ Mở rộng | Vô địch (2010, 2013) | ||||||||||||||
| Giải đấu đôi khác | |||||||||||||||
| Masters Đôi | Vô địch (2006, 2009-10) | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||
| Cập nhật lần cuối: 10 tháng 7 năm 2017. | |||||||||||||||
Thế vận hội dành cho người khuyết tật
Scheffers đã tham gia Thế vận hội mùa hè dành dành cho người khuyết tật 2008 ở Bắc Kinh. Anh giành được một huy chương Đồng cho đơn nam xe lăn. Anh thua với Ronald Vink ở nội dung đôi cho huy chương Đồng với Shingo Kunieda và Satoshi Saida.